ĐIỂM CHẾT QUYỀN LỰC CỦA QUÂN ĐỘI TRUNG QUỐC: CÀNG TRẢM TƯỚNG LẠI CÀNG HỖN LOẠN

Tri Thức Mới
2.1K Người theo dõi
1K Lượt xem video·29 thg 1, 2026
ĐIỂM CHẾT QUYỀN LỰC CỦA QUÂN ĐỘI TRUNG QUỐC: CÀNG TRẢM TƯỚNG LẠI CÀNG HỖN LOẠN
Mấy ngày hôm nay, diễn biến trên truyền thông quốc tế và trên các trang tin tức bên ngoài Trung Quốc
thảo luận rôm rả về nội tình của Trung Quốc.
Tồn tại rất nhiều tin đồn xoay quanh việc thanh chứng cấp cao ở Bắc Kinh.
Nhưng mà do tin tức được phong bế kín lại cho nên là tin đồn nó vẫn chỉ là tin đồn thôi.
Câu chuyện vẫn tiếp tục được hâm nóng lên rất nhiều,
chứng tỏ đây là tâm điểm đáng chú ý toàn cầu.
Và nếu nhìn vào bức ảnh này, chúng ta có thể thấy là quân ủy trung ương Trung Quốc thường gồm khoảng 7 người,
nay chỉ còn lại 2 thành viên là Chủ tịch Tập Cận Bình và Tướng Trương Thăng Dân.
Đây là cơ quan lãnh đạo quân sự tối cao của Trung Quốc, chịu trách nhiệm kiểm soát hàng triệu quân Nhật.
Và đây không chỉ là một quê hội đồng đơn thuần đâu,
mà là nơi quyết định toàn bộ chiến lược, tổ chức, trang bị, ngân sách
và đường hướng phát triển của toàn bộ lực lượng vũ trang Trung Quốc,
trong đó quan trọng nhất là Quân Giải phóng Nhân dân PLA.
Ở Trung Quốc thì PLA không chỉ là lực lượng quân sự quốc gia,
mà còn là công cụ duy trì quyền lực của Bắc Kinh.
Quân ủy trung ương đứng ở vị trí cao nhất trong trật tự đó,
vì vậy nếu ai kiểm soát được quân ủy trung ương,
tức là người đó đang kiểm soát quân đội lớn nhất thế giới
và toàn bộ lực lượng vũ trang dưới quyền lãnh đạo của Bắc Kinh.
Nói như vậy để thấy, cái cơ quan này là trung tâm quyền lực tối cao
đối với mọi hoạt động quân sự và quốc phòng của Trung Quốc.
Trong cái cấu trúc quyền lực của Trung Quốc hiện đại,
có một thực tế rất đặc biệt đó là
ai nắm quân đội thì người đó mới thực sự là nắm quyền tối cao.
Không ai minh họa điều này rõ hơn Đặng Tiểu Bình.
Sau khi Mao Trạch Đông qua đời,
Trung Quốc đã bước vào giai đoạn chuyển giao đầy biến động.
Trên danh nghĩa, nhiều chức vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước
lần lượt thuộc về Hoa Quốc phòng, rồi Hồ Diệu Bang,
hay là Triệu Tử Dương.
Thế nhưng trong suốt một thời gian dài,
người mà có cái tiếng nói quyết định sau cùng
lại không phải những Tổng Mỹ Thư hay là Thủ tướng ấy,
mà chính là Đặng Tiểu Bình.
Lý do cốt lõi nằm ở chỗ là ông ấy kiểm soát quân ủy Trung ương.
Và điều này cho phép Đặng tiếp tục chỉ huy quân đội,
quyết định bổ nhiệm các tư lĩnh cấp cao,
định hướng cải cách quân sự,
và quan trọng hơn cả là đảm bảo rằng
PLA trung thành đường lối mà ông ấy vạch ra.
Nhờ kiểm soát quân ủy Trung ương,
Đặng có trong tay một loại quyền lực rất đặc biệt,
đó là quyền lực bảo chứng.
Khi có tranh luận gai gắt trong nội bộ lãnh đạo
về hướng đi của đất nước,
cải cách kinh tế đến đâu,
mở cửa với phương Tây ở mức nào,
xử lý bất ổn chính trị ra sao,
thì cái điều mọi người đều hiểu ngầm đó là
người đứng sau quân đội mới là người có tiếng nói cuối cùng.
Sự hậu thuẫn của PLA đã khiến vị thế của Đặng
vượt lên trên các chức danh hỷ thức.
Đặng cũng dùng quân ủy Trung ương
để mà tái câu trúc quân đội,
cắt giảm biên chế, hiện đại hóa lực lượng
và đặt quân đội ra khỏi các cuộc đấu đá chính trị thường ngày.
Nhưng mà vẫn giữ một nguyên tắc bất dì bích dịch,
đó là quân đội phải tuyệt đối nghe lệnh Trung ương,
mà ông là hạt nhân thực tế.
Ông xây dựng một tầng lớp tướng lĩnh
có quan hệ trực tiếp với mình,
nhờ đó củng cố ảnh hưởng cá nhân
ngay cả khi ông dần rút khỏi các vị trí công khai.
Chính vì vậy,
dù không đứng đầu mọi cơ quan trên danh hỷ,
ông vẫn được thừa nhận rộng rãi
là lãnh đạo tối cao của Trung Quốc.
Nói như vậy thì có phải là ông Tập Cận Bình
đang đi theo con đường của Đặng Tiểu Bình năm xưa hay không?
Thú thực với quý vị,
nếu nhìn vào bề ngoài thì ông Tập khi lên nắm quyền
đã có trong tay gần như toàn bộ
những chức danh cao nhất của Trung Quốc,
Tổng Bỹ Thư, Chủ tịch nước và Chủ tịch quân ủy Trung ương.
Điều đó tạo cảm giác rằng
ông ấy đã sở hữu quyền lực tối đa ngay từ đầu.
Nhưng trong thực tế vận hành của hệ thống chính trị Trung Quốc,
chức danh và quyền lực thực tế
không phải lúc nào nó cũng trùng khít với nhau đâu.
Khi ông Tập tiếp quản vị trí lãnh đạo,
bộ máy đảng, nhà nước
và đặc biệt là quân đội vẫn mang đậm dấu ấn
của các thời kỳ trước.
Nhiều tướng lĩnh cấp cao trong quân giải phóng nhân dân
được đề bạt từ thời giang cháy dân
hoặc hô cầm đảo.
Họ có mạng lưới quan hệ riêng,
có nhóm lợi ích riêng
và lòng trung thành của họ
nhiều khi nó gắn với người đỡ đầu chính trị
hơn là với vị lãnh đạo mới.
Đều đều nó tạo ra
một cái thực tế nhạy cảm đó là
ông Tập có quyền trên giáy nghĩa
nhưng mà chưa chắc đã có sự kiểm soát tuyệt đối
đối với toàn bộ hệ thống,
nhất là cái lực lượng cầm trong tay mình,
cái cây súng.
Quân đội Trung Quốc trước đó cũng nổi tiếng
với tình trạng mua bán chức vụ,
tham nhũng và hình thành phe nhóm.
Trong một môi trường như vậy,
điều nguy hiểm nhất với một nhà lãnh đạo
không phải chỉ là thất thoát tiền bạc
mà là nguy cơ xuất hiện
những trung tâm quyền lực ngầm trong quân đội,
những người có thể là không hoàn toàn nghe lệnh
trong thời điểm khủng hoảng.
Vì thế, vấn đề của ông Tập không đơn thuần
là làm sạch PLA,
mà là bảo đảm rằng quân đội thực sự,
tuyệt đối và trực tiếp chịu
sự kiểm soát của Trung ương do ông làm hạt nhân.
Ở điểm này thì có thể thấy
là ông đã đi theo một bài học
mà Đặng Tiểu Bình từng để lại.
Trong chính trị Trung Quốc hiện đại,
ai kiểm soát được quân ủy Trung ương thì người đó
mới nắm quyền thực chất.
Tuy nhiên cách tiếp cận của hai người
nó lại khác nhau. Đặng Tiểu Bình thì dùng
quyền kiểm soát quân đội để giữ vai trò
lãnh đạo tối cao dù không nắm hết
các chức danh. Ông đứng phía sau
là người quyết định cuối cùng trong những vấn đề hệ trọng.
Còn Tập Cận Bình thì
ở cái vị thế ngược lại.
Ông ấy đã có đầy đủ chức danh cao nhất,
nhưng lại phải từng bước củng cố để
những chức danh đó đi kèm với quyền lực
thực sự không bị chia sẻ.
Các chiến dịch chống tham nhũng và thanh trừng quân đội,
vì thế nó không chỉ là chỉnh đốn kỷ luật,
mà còn là quá trình tái cấu trúc quyền lực,
loại bỏ các mạng lưới cũ,
làm suy yếu phe phái,
và đưa lên những người mà sự nghiệp của họ
gắn chặt với lòng trung thành đối với ông Tập.
Vì vậy, có thể nói là ông Tập đang đi
theo lô dịch quyền lực mà Đặng Tiểu Bình
đã từng vận dụng, nhưng trong một bối cảnh
căng thẳng và cạnh tranh gay gắt hơn nhiều,
nơi mà kiểm soát tuyệt đối
nó trở thành điều ông ấy coi là điều kiện sống còn.
Như vậy có thể thấy,
cuộc chiến trốn thâm cung
nó diễn ra khốc liệt không kém
như là cuộc chiến bên ngoài mà thế giới đang quan tâm,
ví dụ như là cuộc cạnh tranh đối đầu
Mỹ-Trung đầu, thưa quý vị.
Những gì đang diễn ra với cường độ mạnh
và phạm vi sâu như là đợt thanh trừng
mà báo chí quốc tế đưa tin mấy ngày nay,
nó cho thấy một điều rất rõ là ông Tập
đang đặt vấn đề kiểm soát chính trị
lên trên cả sự ổn định tổ chức ngắn hạn của quân đội.
Trong điều kiện bình thường,
không một lãnh đạo nào muốn làm dung chuyển
cái tầng chỉ huy cao nhất trong lực lượng vũ trang,
nơi đòi hỏi tính liên tục,
kinh nghiệm và sự phối hợp chặt chẽ.
Việc nhiều vị trí trọng yếu cùng lúc
chống kế hay là thay người
cho thấy đây nó không phải là xử lý
sự vụ đơn lẻ, mà là một bước đi
có tính tái cấu trúc quyền lực
ở tầng cao nhất của PLA.
Điều đó nó hé lộ trước hết là cái mức độ
thiếu tin tưởng của Trung ương
đối với một bộ phận tướng lĩnh cấp cao.
Nếu chỉ là vấn đề tham nhũng tài chính thông thường,
việc xử lý có thể diễn ra âm thầm và từng phần.
Nhưng mà khi thanh trừng chạm
tới các vị trí nắm chỉ huy tác chiến,
công tác chính trị và cơ quan đầu não
của quân ủy, thì thông điệp nó không chỉ là
làm sạch, mà là không để tồn tại
bất kỳ mạng lưỡi quyền lực nào
có khả năng đứng ngoài sự kiểm soát trực tiếp
của lãnh đạo tối cảo.
Cho nên chúng ta thấy là ông Trương Hiệu Hiệp,
phó chủ tịch quân ủy Trung ương, ông Miêu Hoa,
chủ nhiệm bộ công tác chính trị
quân ủy Trung ương đều đã bị thanh trừng.
Và chỉ trong một thời gian rất ngắn thôi,
những người mà đứng đầu
trong quân ủy Trung ương, thậm chí có người
còn chỉ đứng sau ông Tập thôi,
đều bị thanh trừng.
Cái điểm thứ hai là cái bước đi này nó cho thấy
ưu tiên hàng đầu của ông Tập lúc này là
đảm bảo lòng trung thành tuyệt đối của quân đội
trong một cái môi trường an ninh ngày càng căng thẳng.
Khi cạnh tranh chiến lược với các cường quốc khác
gia tăng, PLA không chỉ là
lực lượng quốc phòng, mà còn là công cụ
dăn đe, mặc cả và bảo hiểm chính trị.
Trong bức ảnh đó,
một quân đội có nội bộ phức tạp,
phe nhóm trồng chéo hoặc nguy cơ do gì
thông tin bị xem là rủi ro chiến lược.
Thanh trừng sâu vì thế nó được dùng như là
một cách đặt lại hệ thần kinh của bộ máy quân sự.
Thứ ba, nó phản ánh cách
ông Tập nhiên nhận quyền lực,
thà chấp nhận dung lắc ngắn hạn còn hơn
để tồn tại nguy cơ dài hạn.
Cái việc thay đổi nhân sự ồ ạt và thượng tầng
chắc chắn nó tạo ra một tâm lý dè dạc
thậm chí là bất an cho quân đội.
Nhưng mà đồng thời nó cũng tạo ra một cái thế hệ chỉ huy
mới mà cái sự thăng tiến gắn chặt
với sự tin cậy chính trị từ Trung ương.
Về dài hạn thì điều đó nó giúp
thu hẹp không gian cho các cái trung tâm ảnh hưởng độc lập.
Tóm lại, ta thấy là
cái bước đi mạnh tay này cho thấy là Chủ tịch Tập Cận Bình
vẫn đang cố gắng hoàn tất một cái quá trình
đó là biến PLA từ một hệ thống
có lịch sử phe phái và mạng lưới
đàn sèn thành một cái bộ máy tập trung
cao độ quanh một cái hạt nhân lãnh đạo duy nhất
chính là ông ấy.
Trong cái cuộc thanh trừng Phó Chủ tịch
Quân hủy Trung ương Trương Hiều Hiệp
mới đây thì có một cái điểm đáng lưu ý là
cha của ông Trương là một cái người
đồng chí cách mạng của cha ông Tập.
Vị tướng này có một quan hệ
lôn năm với Tập và được coi là đồng minh thân cận.
Ông Trương cũng là một trong số
ít các sĩ quan cấp cao
trong quân đội giải phóng Trung Quốc
có cái kinh nghiệm chiến đấu
và điều này khiến sự ra đi
của ông ấy là một mất mát lớn đối với quân đội Trung Quốc
nhất là trong bối cảnh mà
ông Tập Cận Bình vẫn nuôi tham vọng thống nhất Đài Loan
trong cái giấc mộ Trung Hoa mà ông đã nói.
Nhưng mà ở Trung Quốc
nó lại có một cái ly lẽ thế này
nó giúp chúng ta giải thích vì sao mà ông Trương Hiệu Hiệp
quan trọng như vậy nhưng ông Tập vẫn thẳng tay
lại bỏ. Cái ly lẽ đó là
nếu anh trung thành với tổ chức và lý tưởng của nó
tổ chức sẽ bảo vệ anh
ở mức tối thiểu.
Đó giống như là một cái luật bất thành văn.
Anh có thể không giàu, có thể không leo cao
nhưng mà ít nhất anh không bị vứt bỏ
một cách bất ngờ trừ khi là
anh phản bội hệ thống đó.
Và chính cái hợp đồng đó nó khiến hàng triệu người sẵn sàng
bán sức, thậm chí bán cả cái sự an toàn
cá nhân để mà bảo vệ thế chế.
Bởi vì họ tin là chế độ là
thứ lớn hơn cá nhân và sự trung thành
của họ nó có ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa tập thể.
Nhưng mà khi các cái lượt
thanh trừng ngày càng đánh vào những người
từng được xem là thân tín, những người
có công hiến thực tế thì cái hợp đồng
ngầm đó nó bắt đầu giạn nứt.
Thông điệp và lời thề trung thành nó bắt đầu lung lanh
và nó dần dần biến thành là
anh phải luôn phù hợp tuyệt đối với trung tâm
quyền lực hiện tại. Nếu không thì quá khứ
của anh cũng không cứu được anh.
Câu chuyện Trương Hiệu Hiệp nó đã quá rõ rồi
dù rằng là một cái lão tướng
dây dạn kinh nghiệm và
đầy công lao nhưng mà cuối cùng cũng
không thoát khỏi cái sự thanh trừng.
Cái sự thay đổi này thì nó
cực kỳ quan trọng về mặt tâm lý.
Vì trung thành với lý tưởng và thể chế là
một cái dạng trung thành có chiều sâu
và có thể bền vững. Người ta
có thể chịu đựng khó khăn, hy sinh
lợi ích cá nhân, thậm chí là chấp nhận rủi ro
bởi vì họ tin mình là đang bảo vệ
một cái thứ lâu dài, vượt lên trên
số phận từng cá nhân. Nhưng mà trung thành
với một cấu trúc quyền lực ngày càng cá nhân hóa
lại mang màu sắc khác hẳn.
Nó trở thành cái thứ trung thành mang tính
sinh tồn, mang tính phòng thân
chứ không còn là cái sự dấn thân vì niềm tin nữa.
Khi đó thì cái câu hỏi xuất hiện
trong đầu nhiều người không phải là
làm sao để mình không trở thành kẻ tiếp theo
bị loại. Đây là một cái sự
dịch chuyển cực kỳ nguy hiểm đối với bất kỳ
một cái hệ thống chính trị nào chứ không chỉ riêng
Trung Quốc đâu. Bởi vì khi
mà nỗi sợ thay thế niềm tin thì
người ta vẫn hô khẩu hiệu nhưng mà
trong lòng không còn chắc chắn, vẫn
tuân lệnh nhưng tránh chịu trách nhiệm thực sự
và vẫn thể hiện lòng trung thành
nhưng mà luôn để sám đường lui cho bản thân.
Nói cái khác, bề ngoài
có thể là kỳ luật hơn nhưng mà bên trong
thì lại hình thành một cái lớp tâm lý
phòng thủ, co cụ và thiếu
dân thân. Ở đó nó luôn
tồn tại một cái câu hỏi âm ý bên trong
mỗi con người ở lại đó là, mình đang bảo vệ
một lý tưởng lâu dài hay chỉ đang
cố sống sót trong một cái trật tự quyền lực
ngay càng khó đoán. Chính câu hỏi
thầm lặng đó mới là dư chấn sâu nhất
mà các cái đợt ngã ngựa ở cấp cao
để lại. Không ồn ào,
không được nói ra nhưng âm thầm định hình
cách những người còn lại suy nghĩ,
hành xử và lựa chọn mức độ
dân thân của họ đối với hệ thống.
Và đây chính là cái điểm mà nhiều
nhà quan sát coi là nghịch lý quyền lực
trong một cái hệ thống ngày càng cá nhân hóa như ở Trung Quốc.
Khi một nhà lãnh đạo đòi hỏi
mức độ trung thành tuyệt đối với cá nhân
mình thì mề ngoài trông có vẻ là
quyền lực đạt đến đỉnh cao ấy.
Không còn phe phái lộ diện, cũng không còn
tiếng nói khác biệt rõ ràng, mệnh lệnh cũng
đi xuống rất nhanh. Nhưng mà vấn đề nó nằm
ở chỗ trung thành vì sợ hãi nó khác
hoàn toàn với trung thành vì lòng tin.
Và đó chính là cái bài toán khó nhất
của mọi nhà lãnh đạo khi mà quyền lực
đã lên tới đỉnh điểm. Trong đó
có chủ tịch Tập Cận Bỉnh. Làm sao
để biến cái sự phục tùng vì sợ hãi
thành niềm tin đủ mạnh để người ta sẵn sàng
đánh cực số phận của mình. Cái điều
mà mệnh lệnh hành chính đơn thuần nó không bao giờ
tự nó tạo ra được. Do đó
cuộc thanh chứng cấp cao này chính là
một cái nước cờ hẹp của chính ông Tập.
Có một điều thú vị thế này. Có những cái giai đoạn
trong lịch sử mà bề mặt quyền lực
trông vẫn cứng như thép nhưng mà bên trong
thì đã bắt đầu dạn như là băng mùa xuân rồi.
Liên Xô những năm cuối thập niên
80 là một cái khối băng như vậy
và nhiều người hôm nay nhìn vào Trung Quốc
nhìn vào những cái đợt thanh chừng của lãnh đạo Trung Quốc
họ đã thấy thấp thoáng những cái đường
nứt quen thuộc không phải ở quảng trường
hay là chiến trường mà trong chính cái tầng
cao nhất của quyền lực. Bây giờ
chúng ta nói lại câu chuyện lịch sử một chút.
Hẳn quý vị còn nhớ là trước khi sụp đổ
thì Liên Xô không hề giống như là một cái đế chế đang
hấp hối. Họ vẫn có kho vũ khí hạt nhân
khổng lồ, vẫn có mạng lưới đồng minh
vẫn là siêu cường quân sự đối trọng với Mỹ
nhưng vấn đề của họ không bắt đầu
từ bên ngoài mà nó bắt đầu từ trong
nội bộ hệ thống quyền lực.
Những năm cuối thời Brezhnev rồi
Andropov, Chernenko
Liên Xô rơi vào tình trạng mà người Nga
ngày nay gọi là thời kỳ chi trệ.
Giới lãnh đạo cao nhất thì tuổi cao, sức yếu
tư duy cũ kỹ. Quan trọng nhất
là không còn tin tưởng lẫn nhau. Các
phe nhóm trong bộ chính trị không còn tranh luận
về lý tưởng mà tranh danh ảnh hưởng
kế ngồi và quyền kiểm soát bộ máy.
Mỗi quyết định nhân sự cấp cao đều
là một cuộc mặc cả quyền lực ngập.
Và khi niềm tin nội bộ biến mất
hệ thống bắt đầu vận hành bằng
sự đề phòng chứ không phải bằng tấm nhìn nữa.
Liên Xô từng nổi tiếng với các cuộc
thanh trừng thời Stalin. Nhưng đến
giai đoạn cuối, thanh trừng nó ma
một ý nghĩa khác. Không còn là làm sạch
hàng ngũ vì lý tưởng, mà là
loại bỏ người có quan điểm khác, gạt
bỏ đối thủ tiềm năng, thay thế bằng
người trung thành cá nhân hơn là
có năng lực. Khi mà
Gorbachev lên nắm quyền năm 1985
thì ông ấy bắt đầu thay thế hàng loạt
lãnh đạo địa phương và trung ương. Bên ngoài
là cải tổ nhưng mà thực chất nó cũng phản ánh
một sự thật đó là hệ thống cũ đã mục
ruộng đến mức là trung ương không còn tin
vào chính đội ngũ của mình nữa.
Một chính quyền phải liên tục thay máu ở cấp cao
nó không phải là chính quyền mạnh. Đó là
chính quyền đang lo sợ chính bộ máy của mình
thì đúng hơn. Nhiều người nghĩ Liên Xô
sụp đổ về kinh tế yếu.
Cũng đúng đấy. Nhưng mà
kinh tế yếu nó không thể giết chết một đế chế
nếu như tầng lãnh đạo vẫn đoàn kết.
Và điều thực sự nguy hiểm
là cải cách của Gorbachev
nó làm lộ ra mâu thuẫn trong đảng.
Phe bảo thủ muốn xếp chặt còn phe cải cách
thì muốn mở rộng thay đổi. Kết quả là
trung ương mất sự nhất quán. Chính quyền
vừa muốn cải tổ lại vừa sợ cải tổ.
Vừa muốn kiểm soát lại vừa
tự nới lỏng kiểm soát. Cuộc đảo
chính bất thành năm 1991 của phe
bảo thủ chính là định điểm của nội
chiến quyền lực trong giới tinh hòa.
Và sau khoảnh khắc đó Liên Xô đã không còn
là một thể thống nhất nữa. Mà là một cái
bộ máy mà các bánh răng đã quầy
ngược chiều nhau mới rồi. Bây giờ
nhìn lại Trung Quốc ta thấy là dĩ nhiên
họ không phải là Liên Xô những năm
1991. Nền kinh tế lớn
hơn nhiều, xã hội năng động hơn và
bộ máy kiểm soát hiện đại hơn. Trung Quốc
có những điểm khác như vậy. Thế nhưng nếu
nhìn thuần về logic quyền lực đội bộ
thì lại có những cái điểm tương đồng khiến
giới quan sát cũng phải giật mình đấy.
Trong vài năm gần đây,
các chiến dịch chống tham nhũng của Trung Quốc
nó đã đụng tới các tướng lĩnh cấp cao trong quân đội,
quan chức cấp bộ, thứ trưởng,
lãnh đạo các tập đoàn nhà nước chiến lược
và cả những nhân vật từng được xem là ngôi sao
đang lên trong hệ thống. Điều đáng chú ý
không chỉ là số lượng mà là mức độ nhạy cảm
của các vị trí bị xử lý. Quốc phòng,
an ninh, công nghệ, tài chính.
Khi việc xử lý cán bộ nó diễn ra
sâu và rộng ở tầng cao
thì nó gửi đi hai tín hiệu cùng lúc.
Trung ương muốn củng cố kiểm soát.
Trung ương không còn tin tưởng
tuyệt đối vào chính đội ngũ tinh hoa của mình.
Đây chính là tâm thế mà Liên Xô đã trải qua.
Một hệ thống mạnh và hí thức
nhưng mà mất an ở đỉnh Kim Tự Tháp.
Ở giai đoạn cuối của thời kỳ Liên Xô,
chính quyền lo ngại mất kiểm soát tư tưởng,
mất kiểm soát khu vực và mất kiểm soát nội bộ đảng.
Phản ứng là siết rồi lại nới
rồi lại siết. Cái sự lưỡng lựa này
làm hệ thống mất phương hướng.
Trung Quốc hiện nay có vẻ là họ chọn
lịch lý đó là càng xếp mạnh ở thượng tầng
thì nỗi lo về sự trung thành thật sự
trong nội bộ lại càng lớn.
Khi mà các quan chức cấp cao không biết ai
sẽ là người tiếp theo bị điều tra,
bầu không khí trong hệ thống không phải là ổn định
mà là sự im lặng vì sợ hãi.
Và im lặng nó không phải là đồng thuận.
Cả Liên Xô trước khi sụp đổ
và Trung Quốc hiện nay đều có một cái đặc điểm
cực kỳ nhạy cảm.
Đó là vấn đề nó không nằm ở đường phố
mà nằm trong nội bộ giới cầm quyền.
Một hệ thống có thể chịu được
tăng trường chậm, áp lực quốc tế,
bất mãn xã hội cục bộ
nhưng mà rất khó sống sót nếu tầng cao
không còn tin tưởng vào lẫn nhau,
đặc biệt là cái tầng cao nhất.
Liên Xô sụp đổ không phải vì
dân chúng nổi dậy trước, mà vì khi
khủng hoảng chính trị thực sự xảy ra,
giới tinh hoa không còn thống nhất để bảo vệ hệ thống nữa.
Mỗi phe tự tính toán đường lui cho mình.
Và như vậy là Liên Xô tăng dã.
Vâng, quý vị, thế đấy.
Lịch sử nó là tấm gương phản chiếu
của hiện tại. Dù có nhiều điểm giống
về triệu chứng nội bộ, Trung Quốc và Liên Xô
vẫn có một cái khác biệt quan trọng.
Đó là Liên Xô cải tổ
chính trị trước khi kiểm soát được hệ quả.
Trung Quốc hiện nay ưu tiên kiểm soát
chính trị trước, cải cách đến đâu
tính đến đó. Nói cách khác, Trung Quốc
đang cố tránh một cái cú sốc bất kiểm soát
mà Liên Xô từng gặp. Công nghệ giám sát,
quản trị dữ liệu, rồi kiểm soát
xã hội hiện đại, nó cũng giúp
Bắc Kinh có nhiều công cụ hơn Moscow
thời những năm 80.
Vì vậy, giống không có nghĩa là
sẽ đi đến cùng một kết cục.
Nhưng mà lịch sử cũng cho thấy một điều đó là khi
mà sự thanh trừng lên tới tầng cao nhất
và sự nghi kỵ len lỏi và rơi tinh hoa
thì nó luôn là một cái dấu hiệu
của một hệ thống đang phòng thủ,
đang phòng ngự từ bên trong, chứ không còn
ở cái trạng thái tự tin mở rộng ra bên ngoài nữa.
Liên Xô trước khi
mà xung đổ không hề biết rằng
mình đang ở những chương cuối.
Mọi thứ nó vẫn mang ráng rấp của siêu cường
cho đến khi một cú sốc chính trị
nó làm lộ ra sự thật đó là
phần lõi của đế chế đó đã rạn nứt từ lâu rồi.
Trung Quốc hôm nay
có thể chưa ở thời khắc đó.
Sau những gì đang diễn ra trong nội bộ cấp cao
khiến nhiều người nhớ lại
cái bài học lịch sử cũ,
đó là một hệ thống bắt đầu lo sợ chính tầng cao của mình
thường đang bước vào một cái giai đoạn
nhạy cảm nhất của vòng đời quyền lực.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị chia sẻ quan điểm cá nhân.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại.
