NHỮNG PHÁT MINH KHÓ TIN ĐI TRƯỚC THỜI ĐẠI CỦA TRUNG QUỐC|BLV Hải Thanh History

ĐỒNG NAI TƯƠI ĐẸP
2K người theo dõi
600 Lượt xem video·8 thg 7, 2024
NHỮNG PHÁT MINH KHÓ TIN ĐI TRƯỚC THỜI ĐẠI CỦA TRUNG QUỐC
Ngay từ thời cổ đại, Trung Quốc đã sở hữu những phát minh bậc khầy đi trước thời gian,
tạo tiền đề để phát triển cho hàng loạt sản phẩm gần gũi với con người ngày nay.
Trong video ngày hôm nay, hãy cùng khám phá những phát minh có thể khiến bạn bất ngờ khi biết rằng
chúng được người Trung Quốc cổ đại sáng tạo ra, chứ không phải là những phát minh hiện đại.
Một là giấy và giấy vệ sinh.
Ở thời xa xưa, trong khi người châu Âu còn đang dùng giấy cói xuất hiện từ Ai Cập
hay là sử dụng giấy da trong nhiều thế kỷ,
thì người Trung Quốc đã sử dụng giấy thật, nguyên mẫu của giấy hiện đại ngày nay.
Mặc dù trông không giống 100% loại giấy hiện đại mà chúng ta đang dùng để viết,
nhưng mẫu giấy này hóa ra lại là một loại vật liệu tiện lợi và rất bền.
Theo một số ghi chép trong lịch sử, một hoạn quan dưới chiều nhà hãn có tên là Thái Luân
đã phát minh ra loại giấy này vào năm 105.
Thái Luân đã sử dụng vải, sử dụng sợi bên trong vỏ cây,
sau đó đem tất cả nguyên liệu đi nghiền nhỏ, xeo thành tờ rồi chế tạo ra giấy.
Thật ra trước đó cũng đã có giấy được làm từ cây với thời gian khoảng từ năm 140-87 trước Công Nguyên.
Vì dân các mẫu giấy cho vua mà Thái Luân được phong quý tước, quý tộc và những chức quan trong triều đình.
Tuy nhiên sau đó ông bị triều đình hập miêu gây rắc rối nên bị nhà vua khét bỏ
và bị loại khỏi cuộc sống triều chính.
Hàng trăm năm sau, nếu như không muốn nói là cả nghìn năm sau, giấy mới được sử dụng tại châu Âu.
Họ bắt đầu sử dụng giấy thay cho giấy cói.
Ngoài giấy bình thường để viết, người Trung Quốc thời cổ đại cũng đã tạo ra cả giấy vệ sinh.
Việc sử dụng loại giấy này được ghi nhận đầu tiên là vào năm 851 đời nhà Đường.
Lúc đó thì chỉ có những người trong hoàng tộc mới được sử dụng giấy vệ sinh.
Bởi vì giấy dù sao cũng rất đắt và sản xuất ra thì không hề đơn giản.
Dần dài, giấy vệ sinh mới được sử dụng rộng rãi và trở nên phổ biến ở triều đại nhà Minh.
Trong khi đó giấy vệ sinh chỉ trở thành một sản phẩm đại trà ở phương Tây từ nửa sau của thế kỷ 19.
Phát minh vượt thời đại tiếp theo của người Trung Quốc cổ đại đó chính là la bàn.
Trong những chuyến thám hiểm, thật khó để bạn tìm ra hướng đi nếu không có la bàn.
Đây được cho là một trong những phát minh vĩ đại nhất của Trung Quốc cổ đại.
La bàn được phát minh vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên và ban đầu được các thầy bói sử dụng.
Những người đi biển ở Trung Quốc bắt đầu sử dụng la bàn để định vị và tìm phương hướng cho những con tàu của mình trong triều đại nhà Tống.
Trước khi phát minh ra la bàn, thủy thủ định hướng bằng cách nhìn vị trí mặt trời lúc ban ngày và vị trí của các tròm sao vào ban đêm.
Ngoài ra, họ còn thường định hướng theo hướng gió mậu dịch, theo các mùa.
Một điều khá thú vị là không giống những chiếc la bàn hiện đại chỉ về hướng Bắc.
La bàn của người Trung Quốc thời xa xưa được tạo ra để chỉ về hướng Nam.
Thế nên, người Trung Quốc gọi la bàn là Kim chỉ Nam.
Đến bây giờ, cụm từ Kim chỉ Nam vẫn được sử dụng rất nhiều.
Và thực tế hoàn toàn có thể gọi là Kim chỉ Bắc bởi vì đã là Kim hình thẳng thì một đầu Nam một đầu Bắc,
nhưng hướng Nam được coi là hướng của vua chúa và gọi là Kim chỉ Nam.
Lúc đầu thì các thang đo trên la bàn cũng chưa được chi tiết, chỉ 32 khoảng, sau đó thì khác keo hình vòng tròn 360 độ.
Ngày nay, trên bộ, quân đội các nước dùng la bàn chính xác hơn, chia thành 6.400 khắc.
Ngành hàng không cũng dùng la bàn từ.
Có thể nói, la bàn là một dụng cụ không thể thiếu với những người về di chuyển,
những người cần xác định phương hướng, cho dù đó là bất kỳ một phương tiện nào đi chăng nữa.
Phát minh thứ 3, đó là rượu.
Nghiên cứu của các nhà khoa học tại Mỹ vào năm 2004 tuyên bố rằng,
Trung Quốc có thể là quốc gia đầu tiên tạo ra rượu nhờ công nghệ lên men và trưng cất.
Theo các nhà khoa học, có lẽ rượu đã xuất hiện ít nhất từ 7.000 năm trước công nguyên,
tức là sớm hơn so với sự phán đoán trước đây.
Để đưa ra kết luận này, các nhà khoa học đã nghiên cứu khu vực khai quật tại Giả Hồ,
trong các ngôi mộ thuộc triều đại nhà Thương ở lưu vực sông Hoàng Giang.
Trong số những thứ được phát hiện có nhà cổ, lò gạch, bình đồng, hình khắc bằng ngọc xanh,
công cụ bằng đá và sáo làm từ xương.
Và họ phát hiện trong số đó cả một dụng cụ đựng rượu nữa.
Phát minh thứ tư đó là nhĩa.
Khi nói đến thịa nhĩa, người ta có thể sẽ nghĩ ngay đến ẩm thực phương Tây.
Nhưng những phát hiện từ lần khai quật gần đây tại ngôi mộ Tần Thủy Hoàng,
hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc lại cho thấy,
người Trung Quốc đã chế tạo ra những chiếc nhĩa với kiểu dáng hiện đại từ hàng trăm năm trước.
Trả lời cho câu hỏi tại sao người Trung Quốc ngày nay không sử dụng nhĩa mà lại dùng đũa,
thì có ý kiến cho rằng trước đây vào thời nhà Thương,
giới quý tục Trung Quốc cổ đại đã chọn dùng nhĩa trong bữa ăn.
Nhưng sau này, khi dân số dần tăng lên,
nhu cầu sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên khiến việc chuẩn bị bữa ăn nhanh chóng
mà không tốn nguyên liệu trở nên hết sức cấp thiết.
Do đó, để nấu nướng nhanh hơn, người Trung Quốc xưa đã cắt trước thịt, rau thành các miếng nhỏ.
Việc này khiến cho nhĩa trở nên không còn cần thiết
và chúng dần được thay thế bằng một dụng cụ tiện hơn, đó là đũa tre.
Kể từ đó, người Trung Quốc đã chuyển từ rau, nhĩa sang dùng đũa trong các bữa ăn hàng ngày.
Phát minh thứ 6 là đồng hồ cơ khí.
It ai biết được rằng, chiếc đồng hồ cơ khí đầu tiên trên thế giới được chế tạo ở Trung Quốc,
người đầu tiên tạo ra nó có tên là Nhất Hạnh, một nhà sư vào đầu thế kỷ thứ 8,
hai thế kỷ trước khi ý tưởng tương tự xuất hiện ở phương Tây.
Chiếc đồng hồ này vận hành bằng cách nhỏ nước làm quay các bánh răng và hoàn tất một vòng quay trong 24 giờ.
Đến triều đại nhà Tống, viên quan Tô Tụng đã hiện đại hóa chiếc đồng hồ
để nó không chỉ có thể báo đúng thời gian trong ngày,
mà còn chỉ đúng ngày trong tháng, tuần trăng cũng như vị trí của một số ngôi sao và hành tinh nhất định.
Ông đã cho xây một tháp đồng hồ, là một hệ thống bánh răng phức tạp và vận hành theo cơ chế dây chuyển.
Để tạo nên chiếc đồng hồ này, Tô Tụng đã dựa theo nguyên lý, trời chuyển động không ngừng mà nước chảy thì cũng vậy.
Như vậy, nếu làm cho nước đổ hết sức điều đạn,
rồi đối chiếu với các chuyển động sẽ không thấy chữ tranh lệch hay mâu thuẫn,
và đồng hồ sẽ được vận hành liên tục, chính xác.
Bản thân từ đồng hồ mà chúng ta hay dùng, cũng bắt đầu từ những phát minh của người Trung Quốc.
Với chữ đồng hồ, thì đồng ở đây là một loại kim khí,
hồ ở đây là một vận dụng để chứa nước với một miệng nhỏ ở giữa phình to,
theo nguyên tắc cấu tạo đồng hồ từ thuở xưa của người Trung Quốc.
Đổ đầy nước vào hồ, nước dỉ ở đáy hồ ra, hồ vơi dần, hồ vơi bao nhiêu là giờ bấy nhiêu.
Phát minh thứ 7 đó là máy ghi địa chấn.
Gần 2.000 năm trước, khi loài người còn chưa hiểu về động đất là gì,
thì đã có người phát minh ra một thiết bị dự báo động đất được gọi là phép màu tại thời điểm đó.
Đó là Trương Hành, một nhà bác học với kiến thức uyên thâm, sống thời Đông Hán,
đã giới thiệu cỗ máy này trước văn võ báo quan tại Triều Đình Lạc Dương vào năm 132.
Các tài liệu lịch sử đã mô tả nó có hình dáng tương tự như một cái trĩnh hay một lõ lớn bằng đồng.
Bên ngoài đắp nổi hình 8 con rồng, mỗi con ngoạm trong hàng nó một quả cầu bằng đồng.
Ngay bên dưới dụng cụ là 8 con cóc bằng đồng, miệng của chúng sẽ đón nhận các quả cầu,
từ trên miệng rồng rơi xuống.
Mỗi con rồng và cóc được liên quan đến một điểm la bàn,
vì thế Triều Đình sẽ nhanh chóng biết chính xác nơi nào có thảm họa để gửi binh cứu viện.
Trông có vẻ đơn giản nhưng phải đến thế kỷ 13,
máy ghi địa chấn mới được phát minh tương tự ở Ba Tư và Pháp là tận thế kỷ 18.
Dù máy đo địa chấn Trương Hành ra đời cách đây đã 2.000 năm,
nhưng nguyên lý hoạt động của nó vẫn còn phổ biến đến tận ngày nay.
Và phát minh vượt thời đại thứ 8 đó là tên lửa.
Những thành tựu mới đây ở Trung Quốc trong hành trình tham dò không gian thật ấn tượng.
Tuy nhiên nay, từ thời cổ đại, người dân nước này đã chế tạo ra tên lửa,
truyền cảm hứng cho thế hệ con cháu sau này, để hiện thực hóa ước mơ chinh phục không gian.
Theo nhiều tư liệu cổ, loại tên lửa đầu tiên trên thế giới ra đời từ thế kỷ thứ nhất
do người Trung Hoa phát minh.
Nó tồn tại và phát triển không ngừng trong suốt hàng thế kỷ sau đó.
Tên lửa lúc bấy giờ được chế tạo bằng cách đốt cháy thuốc súng để tạo ra phản lực cần thiết.
Đến thời nhà Tống, thuốc súng được sử dụng cho việc chế tạo tên lửa ngày một nhiều.
Theo đó, người xưa thường nhồi thuốc súng vào một cuộn giấy, gắn vào một mũi tên,
sau đó người ta dùng nó để bắn phá về phía kẻ địch khi giao chiến.
Phát minh tên lửa cổ đại rõ ràng đã được sử dụng rộng rãi cho các hoạt động quân sự và giải trí ở Trung Quốc,
chẳng hạn như một hoạt động mà chúng ta rất thường thấy đó là bắn phó hoa.
Cảm ơn các bạn đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
Nếu cảm thấy thú vị, bạn có thể nhấn nút đăng ký kênh, bật chuông thông báo và chia sẻ.
Còn bây giờ thì xin được nói lời chào tạm biệt.
