Vua Gudea | Nền Văn Minh Lưỡng Hà Tập 8

Đảo Khảo Cổ
167 Người theo dõi
21 Lượt xem video·11 thg 10, 2024
Vị vua Gudia, sứ Lagash, là một trong những nhân vật trung tâm của thời đại Summer mới hay còn gọi là vương triều thứ ba của Earth.
Có hơn 20 di tích minh họa chân dung của ông.
Trên nhiều di tích còn ghi lại lý do tại sao Gudia đã yêu cầu làm ra những vật phẩm này và bày trí tại những nơi khác nhau.
Tuy nhiên, tất cả những bức tượng của Gudia đều được đạt trong những ngô đền
vì ông cho rằng những bức tượng này là để phục vụ cho các vị thần và ông là người phục vụ cho những vị thần.
Những bức tượng này sẽ thay ông cầu nguyện cho đến mãi mãi về sau.
Chúng thay ông cầu nguyện để ông có được sức mạnh và quyền lực của thần linh.
Và đúng là như vậy.
Trong thời của Gudia, ông chính là một trong những người quyền lực nhất của vùng lưỡng Nga.
Mặc dù có rất nhiều quyền lực nhưng Gudia không đi vào bếp xe đổ như các vương vẽ của Sargen sứ Akash.
Những vị đó đã tự cho mình là thần thánh, là vua của thế giới.
Gudia có phần khiêm tốn và khôn khéo hơn.
Ông quay lại với cách mà người Sumerian cổ xưa nhìn dẫn về con người và thần thánh.
Và ông cho rằng vua hay người cai trị cũng chỉ là sứ giả của các vị thần với tư cách là người đại diện của thần thánh.
Ông thần phục người dân của mình.
Và các bức tượng của Gudia cũng được tạt theo những hình thức lễ vật dân hiến giống như những bức tượng được tìm thấy tại cổ thành Ur.
Gudia đã chọn danh hiệu là Ensi có nghĩa là vua hay là người cai trị.
Chứ không phải tước hiệu lưu gồ như những vị vua của Akash tự phong cho mình là thần của Lagash.
Gudia tuyên bố đã chinh phục Ylim và cả Ensign.
Nhưng những chữ khác trên các di tích lại nhấn mạnh việc xây dựng về kênh thủy lợi và các đền thờ.
Chứ không nói nhiều về những cuộc chiến giữa các quốc gia.
Đồng thời, ông còn kể về những món quà quý giá cho các vị thần.
Khi mà sức mạnh của đế chế Akkadian suy yếu, Lagash một lần nữa tuyên bố độc lập.
Lần này là dưới thời của vua Pilger Marmer, người tự xưng là lưu gồ của Lagash, tức là thần của Lagash.
Sau đó, tước hiệu này không còn được dùng nữa, ít nhất là cho đến cuối thời kỳ của Gudian.
Trước thời của Gudia là những người cai trị của Lagashian, bao gồm Er-Nichensu và Er-Bao.
Họ tự gọi mình là những Ensi, tức là những người cai trị hay vua.
Và thuật ngữ lưu gồ chỉ dùng cho các vị thần của họ, đặc biệt là trong những bối cảnh tôn giáo,
nhưng không bao giờ dùng trong các bối cảnh chính trị để chỉ cấp bật.
Việc tiếp tục sử dụng từ lưu gồ để chỉ các vị thần thể hiện sự khiêm tốn của những người cai trị,
để cho người dân thấy rằng họ chỉ là những sứ giả chứ không phải là thần thánh.
Nhưng thật sự chúng ta cũng không thể biết đây là một sự khiêm tốn hay là một mưu độ chính trị.
Khi đọc những dòng này, cảm giác như Gudia đang nói chuyện trực tiếp với những người đang đọc nó.
Trên một bức tượng, ông nói rằng ta là bệ tôi của thần Nichensu, cầu ngai cho ta cuộc sống trường thọ.
Trên một bức tượng khác cũng có liên quan đến thần Nichensu được viết,
Gudia, hãy nghe đây, ngươi đã xây cho ta một ngôi đền, ta sẽ ban cho ngươi tuổi thọ lâu dài.
Trên một di tích khác, ông còn giải thích ngược lại tại sao những bức tượng này được thiết kế như vậy.
Ví như phần ngực của ông được làm nở nan là dấu hiệu cho thấy vị thần đã bay trong sinh lược tràn trề.
Cánh tay vãm vỡ của ông cho thấy sức mạnh áp đảo nhân danh các đấng tối cao.
Đôi mắt mở to, có kích thước phóng đại cũng như những bức tượng nhỏ của người sân mờ cũ.
Ngầu ý rằng ông luôn nhìn về hướng của các vị thần, một sự cầu nguyện về vĩnh hạng.
Gudia đã xây dựng và trùm tu những ngôi đền mà ông cho đặt những bức tượng của mình.
Một bức tượng cho thấy hình ảnh của Gudia được miêu tả là một vị vua tôn sùng tín ngưỡng.
Ông đang ngồi, hai tay chấp trước ngưỡng trong tư thế cầu nguyện.
Trên bức tượng, người ta phát hiện ra một sơ đồ thiết kế của một ngôi đền.
Được cho là ngôi đền thờ vị thần Nyutensu.
Vị vua tham gia vào quá trình xây dựng của ngôi đền cho thấy ông xem tôn giáo là hạ tâm của đất nước.
Sau khi xây dựng xong, ông đã chôn những bản thiết kế của các ngôi đền ở dưới mặt nền của từng công trình.
Chỉ còn một số văn bản cổ còn được tìm thấy có liên quan đến những địa điểm được chọn để xây những ngôi đền.
Các nhà khảo cổ còn dịch ra một số nội dung như sau.
Trong một di tích khác, chân dung của Gudir được khắc họa là một người cai trị đang cầm một chiếc bình.
Từ chiếc bình có hai dòng nước chảy ra, mỗi dòng chảy xuống một bên áo.
Trong dòng nước có những con cá đang bơi trong văn hóa tín ngưỡng lưỡng hà.
Các vị thần thường xuất hiện cùng những chiếc bình chứa nước.
Nó tượng trưng cho sự thịnh vượng mà họ mang lại cho người dân.
Như vậy, Gudir có tự xem mình là một vị thần hay không?
Vì nếu có, nó sẽ trái ngược những gì chúng ta hiểu về ông từ đầu đến giờ.
Do đó mà các nhà khảo cổ họ đã nghi ngờ tính xác thật của di tích này.
Một phần vì hình tượng thần thánh của Gudir mà di tích miêu tả.
Một phần khác là do vật liệu và kích thước.
Vật liệu được sử dụng là đá cansit thay vì đá diorite như những bức tượng khác.
Còn kích thước của bức tượng thì chưa bằng một nửa người thật.
Mà đáng lẽ ra là nó phải có kích thước như người thật, thậm chí là to hơn.
Tuy nhiên, mọi nghi ngờ đều bị giập tắt khi dòng chữ trên đó có chú thích.
Các sinh dân lễ vật này, tức là bức tượng, để tôn vinh nữ thần Trestinana là một vị thần giải mộng.
Như vậy, ông không xem mình như thần thánh.
Và do đó, bức tượng là một di tích tiền sự quý giá.
Vật liệu cho các tòa nhà và các bức tượng của ông được mang đến từ khắp các vùng ở Tây Á,
như gỗ tuyết tùng từ núi Amanos, đá khai thác từ Lebanon,
còn kim loại như đồng thì từ phía bắc Ả Rập Vang
và đá quý từ giữa sa mạc Canaan và Ai Cập,
đá diorite từ Oman và gỗ thì từ Bahrain.
Có vẻ như, những bức tượng ban đầu nhỏ và được làm bằng đá sẵn có tại địa phương như đá vôi, đá stitis và đá đỏ.
Sau đó, khi các đường thương mại trên phạm vi rộng đã được thiết lập và kết nối,
loại đá diorite đắt tiền hơn đã được sử dụng.
Không giống như đá địa phương, đá diorite cực kỳ cứng và khó chạm khắt.
Đá diorite được sử dụng nhiều bởi các nhà cai trị xâm mở cũ, theo các di tích.
Đá diorite được đem đến từ Magan, tức là Oman.
Một bức tượng có thể là đại diện của Gurdir đang được cất giữ tại bảo tàng Anh,
nhưng điều này không thể xác định được một cách chắc chắn.
Những gì còn sót lại của bức tượng cao 1,5 mét và nặng hơn 1 tấn 2.
Có nghĩa là, nếu được phục dế lại thì bức tượng sẽ có chiều cao hơn 3 mét và là tác phẩm điêu khắc lớn nhất của Gurdir.
Vị vua Gurdir, sứ Lagash, là một trong những nhân vật trung tâm của thời đại xâm mở mới,
hay còn gọi là vương triều thứ ba của Earth.
Có hơn 20 di tích minh họa chân dung của ông.
Trên nhiều di tích còn ghi lại lý do tại sao Gurdir đã yêu cầu làm ra những vật phẩm này và bày trí tại những nơi khác nhau.
Tuy nhiên, tất cả những bức tượng của Gurdir đều được đạt trong những ngô đền,
vì ông cho rằng những bức tượng này là để phục vụ cho các vị thần và ông là người phục vụ cho những vị thần.
Những bức tượng này sẽ thay ông cầu nguyện cho đến mãi mãi về sau.
Chúng thay ông cầu nguyện để ông có được sức mạnh và quyền lực của thần linh.
Và đúng là như vậy.
Trong thời của Gurdir, ông chính là một trong những người quyền lực nhất của vùng lưỡng Nga.
Mặc dù có rất nhiều quyền lực, nhưng Gurdir không đi vào với xe đổ như các vương vẽ của Sargen sứ Arkhad.
Những vị đó đã tự cho mình là thần thánh, là vua của thế giới.
Gurdir có phần khiêm tốn và khôn khéo hơn.
Ông quay lại với cách mà người Sumerian cổ xưa nhìn nhận về con người và thần thánh.
Và ông cho rằng vua hay người cai trị cũng chỉ là sứ giả của các vị thần.
Với tư cách là người đại diện của thần thánh, ông thần phục người dân của mình.
Và các bức tượng của Gurdir cũng được tạt theo những hình thức lễ vật dân hiến,
giống như những bức tượng được tìm thấy tại cổ thành Ur.
Gurdir đã chọn danh hiệu là Ensi, có nghĩa là vua hay là người cai trị,
chứ không phải tước hiệu Lugo như những vị vua của Arkhad tự phong cho mình là thần của Lagash.
Gurdir tuyên bố đã chinh phục Ylim và cả Ensi,
nhưng những chữ khác trên các di tích lại nhấn mạnh việc xây dựng về kênh thủy lợi và các định thờ,
chứ không nói nhiều về những cuộc chiến giữa các quốc gia.
Đồng thời, ông còn kể về những món quà quý giá cho các vị thần.
Khi mà sức mạnh của đế chế Arkhadian suy yếu, Lagash một lần nữa tuyên bố độc lập.
Lần này là dưới thời của vua Pilger Marmer, người tự xưng là Lugo của Lagash, tức là thần của Lagash.
Sau đó, tước hiệu này không còn được dùng nữa, ít nhất là cho đến cuối thời kỳ của Gurdian.
Trước thời của Gurdir là những người cai trị của Lagashian, bao gồm Er-Nichensu và Er-Bao.
Họ tự gọi mình là những Ensi, tức là những người cai trị hay vua,
và thuộc ngữ Lugo chỉ dùng cho các vị thần của họ, đặc biệt là trong những bối cảnh tôn giáo,
nhưng không bao giờ dùng trong các bối cảnh chính trị để chỉ các bậc.
Việc tiếp tục sử dụng từ Lugo để chỉ các vị thần thể hiện sự khiêm tốn của những người cai trị,
để cho người dân thấy rằng họ chỉ là những sứ giả chứ không phải là thần thánh.
Nhưng thật sự chúng ta cũng không thể biết đây là một sự khiêm tốn hay là một mưu độ chính trị.
Khi đọc những dòng này, cảm giác như Gurdir đang nói chuyện trực tiếp với những người đang đọc nó.
Trên một bức tượng, ông nói rằng ta là bệ tôi của thần Nichensu, cầu ngai cho ta cuộc sống trường thọ.
Trên một bức tượng khác cũng có liên quan đến thần Nichensu được viết,
Gurdir, hãy nghe đây, ngươi đã xây cho ta một ngôi đền, ta sẽ ban cho ngươi tuổi thọ lâu dài.
Trên một di tích khác, ông còn giải thích ngược lại tại sao những bức tượng này được thiết kế như vậy.
Ví như phần ngực của ông được làm nở nan là dấu hiệu cho thấy vị thần đã ban trong sinh lược tràn trề.
Cánh tay vạm vỡ của ông cho thấy sức mạnh áp đảo nhân danh các đấng tối cao.
Đôi mắt mở to, có kích thước phóng đại cũng như những bức tượng nhỏ của người summer cũ.
Gurdir đã xây dựng và trùng tu những ngôi đền mà ông cho đặt những bức tượng của mình.
Một bức tượng cho thấy hình ảnh của Gurdir được miêu tả là một vị vua tôn sùng tính ngưỡng.
Ông đang ngồi, hai tay chấp trước ngược trong tư thế cầu nguyện.
Trên bức tượng, người ta phát hiện ra một sơ đồ thiết kế của một ngôi đền,
được cho là ngôi đền thờ vị thần Nichensu.
Vị vua tham gia vào quá trình xây dựng của ngôi đền cho thấy,
ông xem tôn giáo là hạ tâm của đất nước.
Sau khi xây dựng xong, ông đã chôn những bản thiết kế của các ngôi đền ở dưới mặt nền của từng công trình.
Chỉ còn một số văn bản cổ còn được tìm thấy,
có liên quan đến những địa điểm được chọn để xây những ngôi đền,
công việc được chuẩn bị như thế nào, vật liệu nào được sử dụng.
Những thông tin này đều có trên những di tích.
Các nhà khảo cổ còn dịch ra một số nội dung như sau.
Gudir bảo rằng các vị thần đã báo mộng cho ta,
muốn ta thay họ xây những ngôi đền nhân danh họ.
Và nếu các người giúp ta hoàn thành nghĩa vụ,
được đến tối cao gieo xuống,
họ sẽ cho các người sự thịnh vượng trù phú.
Hỏi những kẻ chân cừu, những người nông dân trung thành của Gudir,
khi các người bắt tay vào công việc,
những cái đồng sẽ cho ra vô vàng thực phẩm,
những con kênh rạch đê điều sẽ được mở rộng cho các người,
lông cừu sẽ dài hơn.
Đó chính là lợi của những vị thần.
Trong một di tích khác,
chân dung của Gudir được khắc họa là một người cai trị đang cầm một chiếc bình.
Từ chiếc bình có hai dòng nước chảy ra,
mỗi dòng chảy xuống một bên áo.
Trong dòng nước có những con cá đang bơi,
trong văn hóa tín ngượng lương hà.
Các vị thần thường xuất hiện cùng những chiếc bình chứa nước.
Nó tượng trưng cho sự thịnh vượng mà họ mang lại cho người dân.
Như vậy, Gudir có tự xem mình là một vị thần hay không?
Vì nếu có, nó sẽ trái ngược những gì chúng ta hiểu về ông từ đầu đến giờ.
Do đó mà các nhà khảo cổ,
họ đã nghi ngờ tính xác thật của di tích này.
Một phần vì hình tượng thần thánh của Gudir mà di tích miêu tả,
một phần khác là do vật liệu và kích thước.
Vật liệu được sử dụng là đá Cansit,
thay vì đá Diorite như những bức tượng khác.
Còn kích thước của bức tượng thì chưa bằng một nửa người thật,
mà đáng lẽ ra là nó phải có kích thước như người thật,
thậm chí là to hơn.
Tuy nhiên, mọi nghi ngờ đều bị dập tắt khi dòng chữ trên đó có chú thích.
Gudir sinh dân lễ vật này,
Như vậy, ông không xem mình như thần thánh,
và do đó, bức tượng là một di tích tiền sự quý giá.
Vật liệu cho các tòa nhà và các bức tượng của ông
được mang đến từ khắp các vùng ở Tây Á,
như gỗ tuyết tùng từ núi Amanos,
đá khai thác từ Lebanon,
còn kim loại như đồng thì từ phía bắc Ả Rập Vàng
và đá quý từ giữa sa mạc Canaan và Ai Cập,
đá Diorite từ Oman,
và gỗ thì từ Bahrain.
Có vẻ như, những bức tượng ban đầu nhỏ
và được làm bằng đá sẵn có tại địa phương
như đá vôi, đá stitis và đá đỏ.
Sau đó, khi các đường thương mại trên phạm vi rộng
đã được thiết lập và kết nối,
loại đá Diorite đắt tiền hơn đã được sử dụng.
Không giống như đá địa phương,
đá Diorite cực kỳ cứng và khó chạm khắt.
Đá Diorite được sử dụng nhiều
bởi các nhà cai trị sân mở cũ,
theo các di tích.
Đá Diorite được đem đến từ Magan,
tức là Oman.
Một bức tượng có thể là đại diện của Gurdir
đang được cất giữ tại bảo tàng Anh.
Nhưng điều này không thể xác định được một cách chắc chắn.
Những gì còn sót lại của bức tượng
cao 1,5 mét và nặng hơn 1 tấn 2.
Có nghĩa là, nếu được phục dế lại,
thì bức tượng sẽ có chiều cao hơn 3 mét
và là tác phẩm điêu khắc lớn nhất của Gurdir.
