Phát Hiện Trung Quốc Còn Nghèo Hơn Cả Việt Nam, Nhiều Cô Dâu Đang Bỏ Trốn!

Khán Trung Quốc
1.1K Người theo dõi
210 Lượt xem video·27 thg 10, 2024
Vì sao nhiều cô dâu Việt Nam ở Trung Quốc chọn cách bỏ trốn?
Mời các bạn cùng Nhi Ngọc và Khán Trung Quốc tìm hiểu sâu về vấn đề này trong chương trình ngày hôm nay.
Tại sao các cô gái Việt Nam lại rời đi sau khi kết hôn ở Trung Quốc?
Thực tế, nhiều cô gái Việt Nam mỡ được kết hôn ở Trung Quốc.
Nhưng khi đến đây, họ nhận ra rằng thực tế thường không như mong đợi.
Sự khác biệt về lối sống là quá lớn.
Tiếng Trung được công nhận là một trong những ngôn ngữ khó học nhất thế giới.
Và đối với những phụ nữ Việt Nam này, học tiếng phổ thông và chữ Hán là thử thách lớn nhất.
Hơn nữa, phải đối mặt với các phương ngữ địa phương
càng làm cho việc giao tiếp và xây dựng các mối quan hệ trở nên khó khăn hơn.
Nhiều cô gái Việt Nam còn phải sống ở những vùng xa xôi của Trung Quốc như Việt Nam, Quý Châu hoặc Tứ Xuyên.
Họ cảm thấy những nơi này thậm chí còn kém thoải mái hơn quê hương của mình.
Thực tế này là một cuộc sốc tàn nhẫn từ áp lực kinh tế đến điều kiện sống.
Khoảng cách quá lớn giữa những gì họ thấy về Trung Quốc trên mạng
và thực tế họ trải nghiệm đã trở thành lý do chính khiến họ bỏ đi.
Kể từ thập niên 1980, nhiều phụ nữ Việt Nam đã chọn kết hôn với đàn ông Trung Quốc.
Xu hướng này đã giúp giảm bớt vấn đề khó tìm vợ của nam giới Trung Quốc.
Lý do đằng sau hiện tượng này là Trung Quốc có nhiều nam giới hơn nữ giới,
trong khi Việt Nam lại có nhiều nữ hơn nam.
Đồng thời nên kinh tế Trung Quốc phát triển hơn so với Việt Nam.
Một số người phụ nữ Việt Nam hy vọng tìm kiếm cuộc sống tốt hơn
và cơ hội lớn hơn khi kết hôn ở Trung Quốc.
Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cũng như họ muốn.
Một số phụ nữ Việt Nam quay về nước chỉ sau vài tháng hoặc vài năm
sau khi chuyển đến Trung Quốc.
Sự khác biệt về văn hóa, giao cản ngôn ngữ, điều kiện sống khác biệt
và áp lực kinh tế là những khó khăn thực tế khiến họ cảm thấy thất vọng và đau khổ.
Những điều này trở thành lý do quan trọng khiến họ bỏ đi.
Ngoài ra, các cô gái trong video còn cho biết khẩu vị của họ
cũng rất khác so với người Trung Quốc.
Người Việt thích ăn món nhạt và tập trung vào hương vị tự nhiên,
trong khi người Trung Quốc thường sử dụng nhiều gia vị.
Trước khi kết hôn, nhiều cô gái Việt Nam nghĩ rằng
điều kiện của gia đình lấy vợ nước ngoài sẽ tốt.
Nhưng khi đến Trung Quốc, họ phát hiện thực tế không như tưởng tượng.
Đây cũng là một trong những lý do khiến họ bỏ đi.
Một lý do khác là một số cô dâu Việt Nam bị bán sang Trung Quốc
Ngoài ra, có những trường hợp lừa đảo hôn nhân
khi các cô dâu hợp tác với các trung gian bất lương
để nhắm vào những gia đình đang cần cưới gấp.
Sau khi thỏa thuận giá cả, họ nhanh chóng kết hôn
và tìm cách rút tiền của gia đình.
Khi gần như đã rút cạn tài chính, họ bỏ trốn vào ban đêm.
Thậm chí có những người đã có con cũng dễ dàng bỏ đi
sau đó tiếp tục lừa gạt gia đình khác.
Đây là điều đau lòng.
Nhất là đối với những gia đình vốn đã khó khăn.
Họ hy vọng tránh phải trả sinh lễ cao và mua nhà trong thành phố
nhưng cuối cùng lại mất cả tiền lẫn gia đình.
Theo lời giới thiệu của một phụ nữ, vào khoảng năm 2010 hoặc 2011
nhiều phụ nữ Việt Nam đã kết hôn với nam giới
ở các khu vực nông thôn hẻo lánh của Trung Quốc
với hy vọng có được một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên, trong thực tế, họ nhận ra rằng
điều kiện sống không được cải thiện nhiều
thậm chí đôi khi còn cảm thấy khó khăn hơn.
Nhiều cô dâu Việt Nam đã chọn rời đi sau khi sinh con
thậm chí có người rời đi trước khi sinh nở.
Cô ấy cũng đề cập rằng ở quê hương của cô
ít nhất có 200 cô gái Việt Nam
đã kết hôn với người trong vùng
nhưng bây giờ chỉ còn lại rất ít.
Trong một ngôi làng từng có khoảng 20 cô dâu Việt Nam
nhưng đến giờ chỉ còn 2 hoặc 3 người.
Do giao thông ở đó khá khó khăn
nên các cô gái Việt Nam đã dành dụng đủ tiền
mua vé máy bay và chạy trốn.
Những người đàn ông ở đây đã tiêu hết
tất cả tiền tiết kiệm của mình
khoảng 50.000-60.000 tệ
tương đương 170-200 triệu Việt Nam đồng
để cưới một người vợ.
Những người đàn ông này thường đã lớn tuổi
và không giàu có
cộng thêm giàu cản ngôn ngữ
nên rất nhiều cô dâu Việt Nam đã bỏ đi.
Thực tế, đằng sau hiện tượng này
là một vấn đề xã hội phức tạp.
Câu chuyện khiến cô ấy nhớ mãi
là lần 2 người đàn ông Trung Quốc
tốn hàng trăm nghìn tệ để cưới 2 cô dâu Việt Nam
nhưng sau đó họ không còn 200 tệ
khoảng 700.000 Việt Nam đồng
để trả tiền xe về nhà
nên buộc phải đi bộ 15km
trong 3-4 tiếng.
Cô ấy chứng kiến 2 cô dâu Việt Nam
rơi nước mắt lãi trá
một cảnh tượng vô cùng đau lòng.
Nguyên nhân chính khiến các cô dâu Việt Nam quyết định rời đi
bao gồm khoảng cách giữa thực tế
và kỳ vọng quá lớn
tạo ra sự thất vọng tâm lý nghiêm trọng.
Một số người phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Trung Quốc
mà trước đó chưa từng đặt chân đến đất nước này
hoàn toàn không biết về tình hình thực tế.
Họ nghe nói rằng Trung Quốc giàu hơn Việt Nam
vì vậy họ tin rằng
kết hôn với một người đàn ông Trung Quốc
sẽ giúp họ hiện thực hóa giấc mơ sung túc.
Tuy nhiên, thực tế lại khác xa.
Họ bị đưa đến các vùng nông thôn
hẻo lánh của Trung Quốc
nơi điều kiện kinh tế kém xa so với những gì họ tưởng tượng
với các thành phố phùn hoa.
Khoảng cách giữa mong đợi và thực tế
khiến họ cảm thấy thà trở về quê hương
còn hơn phải chịu đựng cuộc sống như vậy.
Cuộc sống không hạnh phúc
do sự đối xử tệ bào từ chồng và gia đình chồng.
Mặc dù một số cô gái Việt Nam
tự nguyện kết hôn và hy vọng có cuộc sống hạnh phúc
được chồng yêu thương và định cư lâu dài
ở Trung Quốc nhưng họ lại gặp phải
sự lạnh nhạt và đối xử không tốt từ chồng
và các thành viên trong gia đình.
Cảm giác cô đơn và bất lực ở xứ người
khiến họ mất đi niềm vui sống và hạnh phúc
dẫn đến quyết định rời khỏi Trung Quốc
và trở về nước.
Bị lừa bán sang Trung Quốc,
một số phụ nữ Việt Nam đã bị lừa bán sang Trung Quốc
và họ không hề tự nguyện kết hôn
dẫn đến việc họ tìm cách bổ trốn
sau khi nhận thức được tình cảnh của mình.
Một số phụ nữ Việt Nam không tự nguyện
làm cô dâu, họ bị ép buộc
trong những cuộc hôn nhân này.
Họ đến từ các ngôi làng nghèo
xa xôi ở Việt Nam và bị mắc bẫy
bởi những kẻ lừa đảo.
Những kẻ này giàu danh tuyển dụng Việt Nam
lừa họ đến những khu vực héo lánh ở Trung Quốc.
Cuối cùng ép họ kết hôn với những người đàn ông lớn tuổi,
nghèo khổ, thậm chí có những người
bị khuyết tật về thể chất
hoặc gặp vấn đề về trí tuệ.
Đối với những người phụ nữ này, từ khi kết hôn ở Trung Quốc
cuộc sống của họ như rơi vào địa ngục,
trải qua nhiều đau khổ.
Vì vậy, khi có cơ hội, họ thường chọn cách bỏ trốn
để thoát khỏi cuộc sống tuyệt vọng này.
Theo báo cáo của truyền thông Trung Quốc,
vào đầu tháng 4 năm 2023,
một người đàn ông tên Tiêu sống ở huyện Đại Ngọ,
thành phố Hiếu Cảm, tỉnh Hồ Bắc
đã chi khoảng 77.000 tệ,
tương đương khoảng 260 triệu Việt Nam đồng
để kết hôn với một cô dâu Việt Nam
qua Trung Gian.
Gia đình anh vô cùng hy vọng rằng
cuộc hôn nhân này sẽ mang lại sự định và hạnh phúc.
Tuy nhiên, chỉ 7 ngày sau khi tổ chức đám cưới,
cô dâu đã bất ngờ bỏ đi
mà không nói lời nào.
Huyện Đại Ngọ
nằm ở vùng núi Đông Bắc, tỉnh Hồ Bắc,
là nơi có khá nhiều cô dâu Việt Nam
và trong những năm gần đây đã xảy ra
nhiều vụ lừa đảo hôn nhân tương tự.
Vào ngày 16 tháng 2 năm 2016,
tại một số làng ở xã My Sơn
và thị trấn Kim Đào,
tỉnh Phúc Kiến đã xảy ra hiện tượng
nhiều cô dâu Việt Nam mất tích cùng lúc.
Theo thống kê chưa đầy đủ,
có hơn chục cô dâu Việt Nam mất tích.
Hầu hết họ đều biết nói tiếng phổ thông.
Một số cô dâu đã kết hôn được khoảng nửa năm.
Trong khi đó,
có những người chỉ kết hôn chưa đầy một tháng.
Họ bị mất sau khi viện cớ đi mua quần áo,
mua thức ăn hoặc đi vệ sinh.
Điện thoại của họ cũng không ai nghe máy.
Các ông chồng đi tìm thì phát hiện ra rằng
tất cả cô dâu Việt Nam này
đã bị mất cùng một thời điểm.
Một số trong số họ thậm chí còn đang mang thai.
Nhiều người dân trong làng cho biết
họ đã được giới thiệu với những cô dâu Việt Nam
thông qua một người trung gian ở Đồng An,
Hạ Môn.
Người này cũng từng đến từ Việt Nam
và đã sống ở Đồng An hơn 10 năm.
Sau khi các cô dâu Việt Nam biến mất,
điện thoại của người trung gian này
cũng không thể liên lạc được.
Tại thôn trung tâm thị trấn Kim Đào,
một thanh niên 29 tuổi tên Phương Thiếu Quân
là chồng của một trong những cô dâu Việt Nam mất tích.
Anh cho biết anh đã kết hôn
với một phụ nữ Việt Nam
có tên tiếng Trung là Nguyễn Tiểu Yến.
Anh đã trả khoản tiền sinh lễ là 50.000 tệ
tương đương khoảng 170 triệu Việt Nam đồng
để đưa cô về nhà
mà không tổ chức lễ cưới
hay đăng ký kết hôn.
Anh nói vợ tôi không nói được tiếng Phúc Kiến
nhưng có thể nói tiếng quan thoại.
Tôi đã nhìn thấy thẻ căn cửa của cô ấy
nhưng nó bằng tiếng Việt nên tôi không hiểu.
Tôi chỉ biết cô ấy sinh năm 1990.
Tôi không biết chính xác cô ấy đến từ đâu ở Việt Nam.
Ở nhà, cô ấy rất chăm chỉ
và không có dấu hiệu gì cho thấy
cô ấy có ý định rời đi.
Các báo cáo cho biết
phần lớn những người chồng của các cô dâu Việt Nam này
đều xuất thân từ những gia đình nghèo khó.
Do không thể chi trả 100.000 tệ
tương đương khoảng 340 triệu Việt Nam đồng
để kết hôn với một cô dâu địa phương
họ đã chọn cưới các cô gái Việt Nam.
Theo tìm hiểu
trong những năm gần đây
các vụ cô dâu Việt Nam bỏ trốn xảy ra thường xuyên
đặc biệt là khi kết hôn
thông qua các tổ chức môi giới bất hợp pháp.
Điều này tìm mần rủi ro rất lớn
có thể khiến gia đình mất cả tài sản lẫn tình cảm.
Những đặc điểm như cô dâu Việt Nam hiền lành
đảm đang, chịu thương, chịu khó
không đòi hỏi sinh lễ
Trong một thời gian, việc tìm kiếm vợ người Việt Nam
đã trở thành một xu hướng phổ biến.
Và năm 2011
Cục Công an Quảng Tây đã công bố số liệu
cho thấy chỉ riêng tỉnh này
đã phát hiện hơn 40.000 cô dâu Việt Nam
không có giấy tờ hợp pháp.
Ở các tỉnh khác, con số ước tính
cũng trên 65.000. Điều này có nghĩa là
vào thời điểm đó, số lượng cô dâu Việt Nam
tại Trung Quốc đã vượt quá 100.000.
Tại khu vực biên giới như Quảng Tây,
bạn tậm chí có thể thấy các quảng cáo trên cổ điện
với nội dung như
Bảo đảm cưới vợ trong 3 tháng, hoàn tất
trong 6 ngày đi lại, hoặc chỉ cần
200.000 tệ, thức đương khoảng 680 triệu
Việt Nam đồng. Nếu không tin tưởng
vào những quảng cáo này, bạn có thể tin đến
các trang web mai mối chuyên nghiệp
như VNQBIT. Nhân viên các trang này
thường sử dụng những từ như ngoan ngoãn,
vâng lời để miêu tả các cô dâu.
Họ tự tin đảm bảo
chúng tôi thu 3.000 tệ, khoảng 10 triệu
Việt Nam đồng để sắp xếp các cuộc gặp mặt
tại thành phố Hồ Chí Minh. Nếu 2 người
quyết định tiến tới hôn nhân, chúng tôi sẽ
thu thêm 36.000 tệ, tương đương
120 triệu Việt Nam đồng để tổ chức
đám cưới, bao gồm cả ảnh cưới.
Nếu cô dâu đề nghị li hôn
hoặc bỏ trốn trong vòng 2 tháng,
chúng tôi sẽ tìm đối tượng khác cho bạn.
Trong khi đó, các ngôi làng
hiểu lánh tại Việt Nam đang đối mặt
với thảm cảnh các cô gái trẻ bí mất hàng loạt.
Theo một báo cáo của BBC,
bà Đỗ, 56 tuổi,
sống ở một ngôi làng nhỏ,
chỉ có 50 người tại Việt Nam, đang mắc
bệnh nani. Con gái của bà, tên
Mỹ, đã mất tích 2 năm trước.
Khi đó, bị đăng giúp việc tại chợ
thì bị 2 người đàn ông theo dõi
và mất tích sau khi rời khỏi sắp hàng.
Người dân địa phương cho rằng, Mỹ
có thể đã bị đưa sang Trung Quốc và
bị bán làm vợ. Nguyện vọng duy nhất
của bà Đỗ bây giờ là có thể gặp lại
con gái trước khi qua đời. Sau khi Mỹ
mất tích, chị dâu của cô rất hoảng sợ
bà cấm các thành viên nữ trong gia đình
ra khỏi làng một mình. Chính bà cũng
chỉ dám đi chợ khi có chồng đi cùng.
Mỗi ngày, bà lo sợ rằng
nạn buôn người sẽ ảnh hưởng đến con gái mình.
Nhà bình luận Đường Tĩnh Viễn cho rằng
có những nguyên nhân sâu xa đằng sau
việc phụ nữ Việt Nam bị lừa bán. Ông nhận định
rằng chính sách kế hoạch hóa gia đình
của chính quyền Bắc Kinh đã ép buộc
nhiều phụ nữ phải phá thai, đặc biệt là
các vùng nông thôn cần lao động nam, dẫn đến
tình trạng mất cân bằng giới tính, nam
nhiều hơn nữ. Điều này khiến nhu cầu
cưới cô dâu Việt Nam trong số những người
đàn ông lớn tuổi ở Trung Quốc ngày càng tăng.
Ông Đường cũng chỉ ra rằng hiện nay
chính quyền Bắc Kinh đã đạt đến mức độ kiểm soát
xã hội vô cùng nghiêm ngặt với camera
giám sát khắp mọi ngõ ngách. Tuy nhiên,
những tổ chức và tội phạm buôn bán
phụ nữ với quy mô lớn vẫn tiếp tục
tồn tại và khó bị chịt phá.
Theo ông, lý do chính là hệ thống
kiểm soát của chính quyền Bắc Kinh chủ yếu
nhắm vào việc duy trì ổn định, đàn áp
tôn giáo, người bảo vệ quyền lợi
và các nhà bất đồng chứng kiến.
Nhưng đối với những vấn đề dân sinh thực sự
đem lại lợi ích cho người dân,
cảnh sát luôn tìm cách làng tránh.
Nhiều nơi, cảnh sát thậm chí cấu kếp với tội phạm
để kiếm tiền bất chính.
Tham nhũng đã ăn sâu vào mọi tầng lớp xã hội.
Lợi nhuận khổng lồ từ việc buôn người,
buôn cô dâu đã khiến nhiều cảnh sát,
tổ chức tội phạm và những kẻ tội phạm
tham gia vào mạng lưới lợi ích này.
Thậm chí, nhiều quan chức chính phủ
còn ngầm cấu kếp với các băng đảng
để kiếm lợi bất chính, làm cho hoạt động buôn người
trở thành một chuỗi công nghiệp đen
kéo dài mãi mãi.
Năm giới Trung Quốc gặp khó khăn trong việc lấy vợ
đã trở thành hiện tượng rất phổ biến.
Nguyên Tân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dân số Trung Quốc
và Giáo sư Đại học năm 2
từng cho biết tình trạng mất cân bằng giới tính
khi sinh đã kéo dài khoảng 40 năm
ở Trung Quốc, dẫn đến việc nhiều thanh niên
chịu cảnh độc thuần bắt buộc.
Hiện có hơn 30 triệu năm giới ở Trung Quốc
Ông Nguyên nhận định
thực trạng hàng chục triệu năm giới ở Trung Quốc
thiếu phụ nữ cùng độ tuổi kết hôn
đã trở thành một sự thật không thể phủ nhận.
Tỉ lệ giới tính cao đã tạo ra sự mất cân bằng
trong dân số độ tuổi kết hôn
và hệ lụy là các hiện tượng xã hội như
khủng hoảng dân số, số lượng kết hôn giảm,
tỉ lệ ly hôn tăng.
Để đối phó với sự mất cân bằng giới tính này
cần có sự phản ứng tích cực và chủ động từ xã hội.
Dưới điều kiện bình thường,
cứ 100 bé gái sinh ra thì sẽ có từ
103 đến 107 bé trai.
Đây là tỉ lệ giới tính khi sinh
bình thường trên toàn thế giới.
Kể từ những năm 1980,
chính sách một con của Trung Quốc đã dẫn đến
sự gia tăng liên tục số bé trai so với bé gái.
Vào cuộc tổng điều tra dân số lần thứ 3
của Trung Quốc năm 1982,
tỉ lệ giới tính đạt 108,5,
vượt qua giới hạn bình thường là 107.
Sau đó, tỉ lệ này
liên tục tăng lên, đạt mức cao nhất
là 121,2
vào năm 2004.
Cuộc điều tra dân số năm 2010
cho thấy tỉ lệ giới tính khi sinh
ở Trung Quốc là 118.
So với phạm vi bình thường là từ
103 đến 107,
quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu
vào tư tưởng của một số người dân Trung Quốc.
Trong bối cảnh xã hội như vậy,
tác động tiêu cực của chính sách kế hoạch hóa gia đình
đã gây ra sự mất cầm bằng giới tính trong dân số.
Theo một báo cáo của tờ Financial Times,
vào tháng 7 năm 2011,
số lượng bé trai sinh ra
ở Trung Quốc nhiều hơn bé gái tới 20%.
Cuộc điều tra dân số năm 2010
cho thấy số lượng nam giới
tại Trung Quốc nhiều hơn nữ giới 34 triệu người,
tương đương với tổng dân số nam của Pháp.
Ông Winton cho biết
tỉ lệ giới tính khi sinh bị lệch
trong khoảng 40 năm đã khiến số lượng nam giới
nhiều hơn nữ giới khoảng 34
đến 35 triệu người,
khiến nhiều người rơi vào tình trạng độc thân bắt buộc.
Truyền thông nhà nước Trung Quốc từng đưa tin
ở một số vùng nông thôn,
việc cưới vợ có thể tốn tới 1 triệu tệ,
khoảng 3,4 tỷ Việt Nam đồng.
Điều tồi tệ hơn là
ngay cả khi gia đình bỏ ra số tiền đó,
họ vẫn không thể tìm được vợ.
Một người dân ở Giang Tây nói rằng
trong gia đình họ có đến 7-8 người đàn ông
đến tuổi kết hôn nhưng không tìm được vợ.
Trong đó người lớn tuổi nhất đã 37
hoặc 38 tuổi. Nguyên nhân có thể
do gia đình không có nhà ở thị trấn
hoặc người đàn ông không có học vấn,
trầm tính và không thú phụ nữ.
Một người dân khác ở Tôn Bắc cũng cho biết
việc cưới vợ ở nông thôn là rất khó khăn.
Nếu cha mẹ không phải doanh nhân
hoặc làm việc trong cơ quan nhà nước,
gia đình không giàu có,
thì những người trẻ không có băng cấp
hay tay nghề gặp nhiều khó khăn trong việc tìm vợ.
Những gia đình có hai con trai thậm chí
còn không được mai mối quan tâm.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Y tế và Kế hoạch hóa gia đình Trung Quốc
ông Vương Bùi An từng cảnh báo rằng
vấn đề mất cân bằng giới tính
là một nguy cơ tiềm mẩn lớn
đối với cân bằng dân số và sự ổn định xã hội của Trung Quốc.
Ông giải thích rằng
các vấn đề xã hội do tỷ lệ giới tính khi sanh lệch
đang dần trở nên rõ ràng
trong đó tác động trực tiếp nhất
là hiện tượng khủng hoảng hôn nhân.
Hiểu đơn giản, điều này có nghĩa là sẽ có nhiều người
gặp khó khăn trong việc tìm vợ
hoặc phải chịu cảnh độc thân.
Vào tháng 3 năm nay, Viện Nghiên cứu Nông thôn Trung Quốc
thuộc Đại học Sư phạm Hoa Trung
đã công bố một báo cáo về vấn đề khó khăn
trong hôn nhân của nam thanh niên lớn tuổi ở nông thôn.
Báo cáo cho thấy trong những năm gần đây
vấn đề này ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Trong cuộc khảo sát tại 119 làng
có 51 làng tương đương 42,9%
nam thanh niên lớn tuổi
gặp vấn đề nghiêm trọng về hôn nhân.
Vùng Trung Bộ là nơi gặp khó khăn lớn nhất
với tỷ lệ 50%.
Tiếp theo là khu vực phía Tây
với 40,3%
và khu vực phía Đông là 38,6%.
Phò giáo sư Đinh Trường Phát
thuộc Khoa Kinh tế Đại học Hạ Môn
đã chia sẻ với kênh Phượng Hoàng rằng
theo kết quả của cuộc tổng điều tra
dân số lần thứ bảy của Trung Quốc
có 34,9 triệu đàn ông độc thân
ở khu vực nông thôn.
Nguyên nhân dẫn đến việc tìm vợ
của những thanh niên lớn tuổi nông thôn gặp khó khăn
là do sự phát triển kinh tế và xã hội.
Nhiều thanh niên nam nữ từ các vùng nông thôn
đã chuyển đến các thành phố lớn để làm việc.
Phụ nữ thường ở lại thành phố sau khi kết hôn
khiến cho số lượng phụ nữ còn lại
ở vùng nông thôn giảm mạnh.
Ngoài ra, ở một số vùng nông thôn
chi phí sinh lễ rất cao, bao gồm cả nhà cửa,
xe cộ có thể lên tới 500.000-600.000 tệ,
tương đương 1.7-2 tỷ Việt Nam đồng,
thậm chí cao hơn.
Trong khi đó, thu nhập khả dụng bình quân
đầu người nông thôn trên toàn quốc
năm ngoái chỉ hơn 20.000 tệ,
tương đương 68 triệu Việt Nam đồng.
Nhiều thanh niên nam vì không có đủ tiền
nên không thể kết hôn.
Cảm ơn quý vị đã theo dõi chương trình của chúng tôi.
Những góp ý của quý vị sẽ giúp chúng tôi
hoàn thiện hơn mỗi ngày.
Và các bạn cũng đừng quên theo dõi Khán Trung Quốc
trên 2 nền tảng Youtube và Khán Trung Quốc
Như Ngọc và Khán Trung Quốc xin chân thành cảm ơn
Và hẹn gặp lại
