LSVN - P4/4 - Nam bắc - Trịnh - Nguyễn.

Kẻ Học Trò
780 người theo dõi
160 Lượt xem video·4 thg 11, 2024
Mạc Đăng Dung bước vào đường quan lộ, sau khi thi đậu võ trạng nguyên dưới triều Lê Uy Mục.
Chỉ trong khoảng 20 năm, từ một võ quan cấp thấp không có thế lực, nhờ tài thao lược và mưu trí, ông đã vươn tới tột bậc quyền lực.
Xuất thân hàn vi, lập thân bằng đường binh nghiệp, Đăng Dung là người có công đầu trong việc tạo lập lại thế ổn định và đa phát triển của xã hội, cũng như chính trường Đại Việt sau hơn 20 năm hỗn loạn đầu thế kỷ XVI.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung phế bỏ Lê Không Hoàng, lên làm vua, tức là Mạc Thái Tổ, đặt nhiên hiệu là Minh Đức.
Nhà Mạc tuy đã làm vua, nhưng sự lòng người vẫn còn nhớ đến nhà Lê, cho nên công việc gì cũng theo phép nhà Lê cả.
Mạc Đăng Dung làm vua được 3 năm, tự thấy mình tuổi già, nên nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh rồi về làm Thái Thượng Hoàng.
Năm 1530, Mạc Đăng Doanh lên ngôi tức là Mạc Thái Tông, đặt nhiên hiệu là Đại Chính.
Đăng Doanh tuy làm vua, nhưng công việc trong nước thường do Đăng Dung quyết đoán cả.
Mạc Đăng Doanh làm vua được 10 năm, đến năm 1540 thì mất con là Mạc Phúc Hải lên nối ngôi, tức là Mạc Hiến Tông, đổi nhiên hiệu là Quảng Hòa.
Từ khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê rồi, quan nhà Lê đã có người sang kêu cầu bên tàu để xin viện binh.
Vua Minh muốn nhân đó làm cơ đánh nước Nam, năm 1540 Sai Cư Loan mang quân sang đóng gần cửa Nam Quan.
Mạc Đăng Dung để Mạc Phúc Hải ở lại giữ nước rồi tự chói mình ra hàng, sang chịu tội ở cửa Nam Quan,
lại phục xuống đất để nộp sổ điền thổ và sổ dân đinh, xin dân đất vùng biên giới lại đem vàng bạc dân cho nhà Minh.
Vua Minh thuận theo, phong làm An Nam Đô thống ti sứ, cho ấn bạc vẫn cho thế tập và phải chiếu cống.
Từ đó Bắc Nam thông hiếu đi lại, không có sự tranh chiến gì nữa.
Mạc Đăng Dung là một nhân vật gây nhiều tranh cãi trong lịch sử.
Việc phế bỏ vương quyền của họ Lê, bắt đất cầu hòa, quỳ lại một viên quan Trung Quốc, nhận lịch Trung Quốc và chức An Nam Đô thống ti sứ,
coi Đại Việt như một tình của nhà Minh, đã khiến ông trở thành tâm điểm chỉ trích của các sử gia,
tri thức nước Nam trong các thời kỳ Lê Trịnh, Nguyễn.
Phần lớn họ không coi nhà Mạc là một triều đại chính thống.
Các sử gia hiện đại đã đánh giá lại vai trò lịch sử của Mạc Đăng Dung theo hướng cởi mở khách quan hơn.
Những kết quả nghiên cứu đã cho thấy sự ra đời của nhà Mạc và những động thái chính trị quân sự của Mạc Thái Tổ.
Mạc Đăng Dung là phù hợp với những quy luật phát triển khách quan của bối cảnh bấy giờ,
khi nhà Lê đã suy sụp không còn trị nước được nữa.
Việc quỳ lại quan nhà Minh và các đất cầu hòa được các sử gia hiện đại đánh giá là hành động khôn ngoan,
đầu hàng giả vờ để giành độc lập thực sự cho đất nước, chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân nhờ sự nhẫn nhục của Mạc Thái Tổ.
Khi đó đã là một ông già 60 tuổi không còn tham vọng quyền lực, Đại Việt trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa,
nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương, được nhà Minh công nhận.
Giả như Mạc Đăng Dung chống cử quân Minh như họ hồ, nước ta bị tái đô hộ thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa.
Còn những vùng đất ở biên giới là một vùng núi cao, địa thế hiểm trở vốn đã thuộc Trung Quốc từ đời nhà Tống
và mới có tên trong lãnh thổ Đại Việt từ Niên Hiệu Thuận Thiên của vua Lê Thái Tổ.
Mà các động trường ở đây thường tùy theo tình hình thực tế mà thay đổi thái độ thần phục đối với Trung Hoa hoặc Đại Việt.
Cho nên hành động cắt đất là nhà Mạc trả lại đất cũ đã lẫn, chứ không có việc Mạc Đăng Dung dâng đất của Đại Việt cho nhà Minh.
Khi họ Mạc lên làm vua rồi, nhiều quan cựu thần không thần phục trốn tránh đi.
Khi đó có ông Nguyễn Kim làm quan hữu về điện tiền tướng quân, chạy sang Ai Lào, muốn nhân danh phù Lê Diệt Mạc,
mới cho người tìm con cháu họ Lê để mưu sự khôi phục.
Đến năm 1532 tìm được một người con của vua Triều Tông, tên là Duy Ninh Lập lên làm vua,
tức là Lê Trang Tông, sử sách gọi là Nhà Lê Trung Hương.
Khi ấy lại có một người tướng giỏi tên là Trị Kiểm, Nguyễn Kim thấy người có tài, gả con gái cho, để cùng ra sức chống nhà Mạc.
Vua tôi Nhà Lê nương náu ở Ai Lào để triêu tập quân sĩ.
Các sử gia nghi ngờ tính xác thực của Duy Ninh là con của Triều Tông, vì hai cha con chỉ trên nhau 8 tuổi.
Nhưng dù sao việc vua Lê được lập lại khiến một bộ phận nhân dân, sĩ khu theo về vì thiên hạ còn nhớ nhà Lê.
Ở vùng tuyên quang lại có Vũ Văn Uyên không chịu theo nhà Mạc, nổi lên cát cứ một phương.
Sau truyền đời trấn dữ trên thành ở núi Bầu nên được gọi chung là Chú Bầu.
Khi nghe tin Nguyễn Kim lập Lê Trang Tông lên ngôi ở sầm Châu Mưu Việt Trung Hương,
Vũ Văn Uyên sai người dân biểu sinh theo Nhà Lê chống nhà Mạc.
Sau nhiều lần tổ chức tấn công lược về Đại Việt không thành công,
mãi tới năm 1539, Nguyễn Kim mới chiếm được đất Tây Đô ở Thanh Hóa, sang năm sau tiến vào Nghị An.
Từ đó sự gọi nhà Mạc là Bắc Triều và nhà Lê Trung Hương là Nam Triều.
Năm 1545, Nguyễn Kim đem quân tiến đánh Sơn Nam, đi đến huyện Yên Mô thì bị đầu độc chết,
con trai cả Nguyễn Uông lên thay, Nguyễn Uông bị em rể là trịnh kiểm hại rồi tiến trức.
Trịnh kiểm rút quân về Thanh Hóa, lập hành điện để cho vua ở, rồi chiêu mộ hào kiệt,
luyện tập quân sĩ, tích chữ lương thảo để lo việc đánh nhà Mạc.
Năm 1554, trịnh kiểm đem quân đi đánh Thuận Hóa.
Khi quân Lê Trịnh tiến vào phía Nam, các quan lại nhà Mạc và các hào trưởng địa phương phần lớn đi theo.
Tướng nhà Mạc ở Thuận Hóa là Hoàng Vôi mang quân ra đánh bị tử trận.
Quân Mạc bị đánh tan, nhà Lê Trịnh lấy được Thuận Hóa và Quảng Nam.
Toàn bộ lãnh thổ Đại Việt chính thức chia làm hai nửa, từ Ninh Bình trở ra trong tay nhà Mạc,
từ Thanh Hóa trở vào trong tay nhà Lê Trịnh.
Từ năm 1555, sau khi ổn định tình hình, vua nhà Mạc lúc này là Mạc Tuyên Tông Sai Chú là Mạc Kính Điển,
cầm quân đi đánh nhà Lê Trịnh.
Kể từ đó đến năm 1589, trong vòng hơn 30 năm, nhà Mạc đem bình vào đánh Thanh Hóa nhiều phen,
phen nào cũng cua trở về, họ Trịnh cũng ra đánh Sơn Nam hơn 10 lần,
nhưng không có lần nào được toàn thắng, thành ra hai bên cứ giữa nhau mãi.
Năm 1556, vua nhà Lê bấy giờ là Lê Trung Tông mất, không có con, mà dòng dõi họ Lê cũng không còn ai nữa,
việc binh quyền thì ở trong tay Trịnh Kiểm cả.
Trịnh Kiểm đã lưỡng lượng muốn tự xưng làm vua, nhưng còn chưa dám định hẳn bề nào,
bèn sai người lèn ra Hải Dương hỏi ông Nguyễn Bình Khiêm, ông ấy nói rằng, giữ chùa thực Phật thì an toàn.
Trịnh Kiểm nghe theo, tìm được người cháu của ông Lê Trừ, là anh vua Thái Tổ,
tên là Duy Bang lập lên làm vua, tức là Lê Anh Tông.
Từ đó về sau, họ Trịnh tuy chuyên quyền nhưng không khi nào có ý cướp ngôi vua.
Từ năm 1558, con thứ Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng sợ bị anh rể Trịnh Kiểm hại như anh cả Nguyễn Uông,
nên xin vào chấn thủ thuận hóa.
Năm 1569, Nguyễn Hoàng ra Thanh Hóa ít kiến vua Lê Anh Tông, nộp quân lương giúp Nam Triều đánh Nhà Mạc,
rồi đến Phủ Thái Sư lại mừng Trịnh Kiểm.
Trịnh Kiểm rất hài lòng, phong cho ông chấn thủ luôn đất Quảng Nam.
Lệ mỗi năm phải nộp thuế là 400 cân bạc, 500 tấm luộn.
Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, Trịnh Cố lên thay.
Con Thứ Kiểm là Trịnh Tùng tranh quyền, Trịnh Côi đánh không lại đem quân về hàng Nhà Mạc.
Lúc này chiến sự hai bên vẫn ở thế giằng co, không bên nào được hẳn.
Năm 1583, Trịnh Tùng cử binh ra đánh Sơn Nam, lấy được thóc gạo đem về,
từ đó về sau năm nào cũng ra đánh, bắt Nhà Mạc đổi về thế thủ.
Đến năm 1591, Trịnh Tùng xem thế mình đã mạnh, bèn khuyết ý cử đại binh ra đánh Thăng Long,
đem hơn 5 vạn quân chia ra làm 5 đạo từ Tây Đô đi gấp hơn 10 ngày,
đến núi Mã Yên thuộc huyện Quốc Oai thì đóng quân lại.
Vối nhà Mạc là Mạc Anh Tổ, Mạc Mậu Hợp cũng điều động tất cả quân 4 vệ,
và quân 5 phủ được hơn 10 vạn chia làm 3 đạo, cho các tướng dẫn 2 đạo cả hữu,
Mậu Hợp tự dẫn trung quân đến đóng đối trận với quân Trịnh Tùng.
Quân hai bên đón đánh nhau ráp lá cả suốt từ sáng sớm đến gần trưa,
quân Mạc không địch nổi, tan vỡ bỏ chạy.
Mạc Mậu Hợp xuống thuyền vượt sông chạy về Thăng Long.
Trịnh Tùng tiến quân lên, phá hủy hào lưỡi của quân Mạc về đánh Thăng Long.
Mạc Mậu Hợp sai tướng ở lại giữ thành rồi đem quân nuôi qua sông Hồng.
Quân nhà Mạc giữ không nổi Thăng Long, 3 tầng lưỡi đều bị phá cả.
Nhưng vì có sông Hồng ngăn chở, quân Nam Triều chưa qua sông được, lại rút về Thanh Hóa.
Trịnh Tùng đã bỏ Thăng Long rồi, nhưng Mậu Hợp không biết nhân lấy dịp ấy mà sửa sang việc võ bị,
chỉnh đốn chính trị, lại cứ say đắm tử sắc, bạc đãi các tướng sĩ,
đến nỗi công việc hỏng nát, thân mình bị hại.
Tháng 10 năm 1592, Trịnh Tùng mang quân ra phủ Trường Yên,
đánh tan đạo thủy quân Bắc Triều đang đóng ở sông Thiên Phái.
Mạc Mậu Hợp được kinh quân mình thua, bỏ thành Thăng Long chạy về Hải Dương.
Đầu năm 1593, Trịnh Tùng tiến quân đến Hải Dương, quân Bắc Triều lại thua.
Mạc Mậu Hợp bỏ thành chạy rồi lợi con là Mạc Toàn làm vua, tự mình làm tướng đốc quân.
Chẳng được bao lâu Mạc Mậu Hợp và Mạc Toàn bị quân Nam Triều bắt và giết chết.
Kể từ đó Bắc Triều chấm dứt.
Sau khi Mạc Mậu Hợp bị giết, trong nhiều năm, các vùng như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng
vẫn thuộc quyền quản lý của các tôn thức Bắc Triều.
Lê Thế Tông được dứt trở lại Thăng Long tháng 4 năm 1593, đánh dấu mốc nhà Lê Trung Hưng.
Đồng thời, quyền lực của họ Trịnh cũng được xác lập lên hàng Chúa và được thế tập.
Tuy nhiên, trong vòng 30 năm đầu, hai bên vẫn rằng co ở miền Bắc.
Do sự uy hiếp của lực lượng họ Mạc,
các chúa Trịnh đã hai lần phải giúp vua Lê chạy vào Thanh Hóa các năm 1600 và 1623.
Cùng lúc đó, chúa Bầu ở Tuyên Quang lại không theo nhà Lê như thời Nam Bắc Triều nữa,
mà từ năm 1594 quay sang liên kết với họ Mạc để chống triều đình Lê Trịnh.
Khi giúp được vua Lê về kinh thành, Trịnh Tùng bắt đầu tính tới người cậu Nguyễn Hoàng ở phía Nam.
Năm 1593, Trịnh Tùng nhân danh vua Lê Triệu Nguyễn Hoàng,
ra Bắc với lý do để cùng đánh tàn dư họ mà còn tàn mát ở Bắc Bộ.
Hoàng vâng lệnh mang quân ra Bắc, phá tan quân Mạc ở Hà Trung và Sơn Nam,
sau đó được Tùng giao trách nhiệm chấn giữ Sơn Nam.
Nguyễn Hoàng đóng quân ở Sơn Nam 8 năm cố tìm cách thoát về Nam.
Năm 1600, nhân họ Mạc nổi dậy,
Hoàng ngầm suối rục các hàng tướng cũ nhà Mạc nổi loạn để lấy cơ đi đánh dẹp.
Trịnh Tùng mài đối phó họ Mạc ở Cao Bằng,
họ vũ ở Tuyên Quang nên đồng ý cho Nguyễn Hoàng đi dẹp.
Hoàng nhân cơ hội đó chạy thẳng ra biển đi thoát về Nam.
Thấy Nguyễn Hoàng trốn thoát, trịnh Tùng sai người cầm thư vào Nam rụ ra lần nữa nhưng Hoàng không ra,
sau đó lại bỏ không nộp thuế đều đặn cho miền Bắc.
Để xoa dịu tình hình, Hoàng gà con gái là ngọc tú cho con Tùng là trịnh tráng.
Năm 1611, do quân Champa liên tục quấy nhiễu vùng biên giới Hoa Anh,
Nguyễn Hoàng sai Văn Phong đi đánh dẹp,
quân Champa nhanh chóng bị thất bại trước lực lượng của Chúa Nguyễn.
Vua Bonit của Champa phải giúp quân xuống phía Nam đèo cả.
Sau đó vùng đất Hoa Anh được lập thành phủ Phù Yên.
Năm 1613, Nguyễn Hoàng qua đời, con trai thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên lên thay.
Năm 1623, trịnh Tùng qua đời, con là trịnh Tráng lên thay.
Năm 1625, trịnh Tráng đốc binh đánh nhà Mạc,
bắt được Mạc Kính cung tại Cao Bằng, đem về giết tại Kim Đô.
Mạc Kính khoan chạy trốn, cho người sang kêu với nhà Minh.
Vua Minh, vì muốn duy trì thế Nam Bắc Triều ở nước Nam để có lợi cho Trung Quốc,
nên đã can thiệp để họ Mạc được cắt cứ ở Cao Bằng.
Chúa trịnh bất đắc dĩ phong Mạc Kính khoan chức thống quốc công và giao trấn giữ vùng biên giới.
Năm 1627, do Nguyễn Phúc Nguyên nhiều năm bỏ không nộp thuế,
trịnh Tráng làm sắc đứng tên vua Lê gửi trách Nguyễn, đòi đích thân hoặc sai con tải thuế ra Bắc.
Phúc Nguyên không nhận sắc thư, rồi một mặt lo tăng cường phòng thủ.
Đến tháng 3 năm 1627, trịnh Tráng khởi 20 vạn đại quân chia hai đạo thủy bộ vào Nam đánh họ Nguyễn.
Từ đó đến năm 1672, trong 46 năm dòng dã hai bên trịnh Nguyễn đánh nhau lớn 7 lần,
và một số lần đánh quy mô nhỏ hơn.
Chiến trường chủ yếu ở hai bờ sông Danh, vùng Nghị An, Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày nay.
Trong bấy nhiều lần, họ Nguyễn chỉ ra đánh họ trịnh có một lần,
đã lấy được bày huyện ở phía nam sông Lam Giang,
nhưng vì các tướng họ Nguyễn không đồng lòng với nhau, cho nên lại phải bỏ về giữ đất cũ.
Còn như thế lực binh lương thì họ trịnh mạnh hơn họ Nguyễn,
nhưng người Bắc phải đi đường xá xa xôi, vận tải khó khăn,
mà người Nam thì đánh ở đất nhà mình, có đồ nghĩ chắc chắn, tướng sĩ hết lòng,
cho nên thành ra hai bên đối địch chứ không làm gì được nhau,
chỉ khổ cho những dân sự, phải sưu dịch vất vả, và bị tàn phá thiệt hại rất nhiều.
Sau nhiều năm giao chiến, cả hai bên đều kiệt quệ về sức người sức của,
nên phải chấp nhận đình chiến, chia cắt lâu dài.
Sông Danh trở thành danh giới chia nước Đại Việt thành Đàng trong và Đàng ngoài.
Hai bên đều có những chúa cai trị giỏi, nên ổn định được lãnh thổ suốt hơn 100 năm.
Họ trịnh không thể tiến vào chiếm thuận hóa, nên tập trung diệt tàn giữa nhà Mạc ở Cao Bằng,
giất họ Vũ ở Tuyên Quang, cùng cố địa bàn Bắc Bộ.
Năm 1677, chúa trịnh Sai Đinh văn tà đi đánh thắng được quân Mạc.
Mạc chính Vũ chạy sang Trung Quốc.
Việc chấn giữ Cao Bằng của họ Mạc từ đó chấm dứt.
Năm 1699, Vũ công cấn bị triều đình nhà Lê bắt và giết.
Triều đình đặt chức lưu thủ ở Tuyên Quang, lãnh thổ chúa Bầu chính thức sát nhập vào đất nhà Lê Trịnh.
Họ Nguyễn không thể ra Thăng Long, nên dồn sức mở mang bờ cõi về phía Nam và phía Tây.
Năm 1658, vua nước Trân Lạp bắt, chú cháu tranh nhau ngôi vị, sang cầu cứu bên chúa Nguyễn.
Chúa Nguyễn Phúc Tần Sai Quan đem 3.000 quân sang đánh ở mỗi suy, nay thuộc tỉnh Đồng Nai,
bắt được vua nước ấy là nạc ông Trân đem về giam ở Quảng Bình 1 độ,
rồi tha cho về nước, bắt phải thần phục vào Triều Cống.
Năm 1679 lại có một số quan cựu thần nhà Minh không chịu thần phục nhà Thanh,
mang 3.000 quân cùng 50 chiếc thuyền sang sinh ở làm dân nước Nam.
Chúa Hiền Nhân muốn khai khẩn đất Trân Lạp,
bèn cho vào ở đất gia định cây ruộng làm nhà lập ra phố phường.
Năm 1693, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tướng Nguyễn Hữu Cảnh,
tiến chiếm và chính thức sát nhập phần còn lại của vương quốc trên thành lập Trấn Thuận Thành,
nay là vùng đất Bình Thuận, Ninh Thuận,
tuy nhiên chính quyền Đảng trong vẫn dành cho người chăm chế độ tự trị ở đây.
Năm 1708, một thương nhân người Hoa tên Mạc Cửu khai phá vùng đất Hà Tiên,
kiên giang xin nội thuộc chúa Nguyễn, chúa Nguyễn phong chức Tổng binh cai quản.
Cùng với việc mở rộng lãnh thổ trên đất liền,
chính quyền Đảng trong lần lượt đưa người ra khai thác và kiểm soát
các hòn đảo lớn và quần đảo trên Biển Đông và Vịnh Thái Lan.
Quần đảo Hoàng Sa được khai thác và kiểm soát từ đầu thế kỷ 17,
Côn đảo, Cú Quốc và quần đảo Trường Sa từ đầu thế kỷ 18.
Đến giữa thế kỷ 18, các vùng đất Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ được Mạc Thiên Tứ,
con trai của Mạc Cửu khai phá thêm.
Các vùng Vĩ Tho, Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang
được các đời vua chân lạp lần lượt dân cho chúa Nguyễn để cầu hòa,
cầu phong vương hoặc đền ơn giúp đỡ.
Nhìn chung từ sau khi kết thúc chiến tranh, lấy sông Danh làm danh giới chia đôi đất nước,
thì công việc họ trịnh sửa sang ở xứ Bắc cũng được nhiều,
mà họ Nguyễn mở mang bờ cõi cũng thật là ít lợi cho nước ta.
Tuy nhiên từ giữa thế kỷ 18, do các chúa trịnh chúa Nguyễn lười nhác, ham hưởng lạc mà bò bê chiều chính,
khiến chính quyền ngày càng suy yếu, giặc dã khắp nơi,
lòng dân chán ghét nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra cả ở đằng trong và đằng ngoài.
Năm 1771, ba anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Vệ khởi nghĩa chống chúa Nguyễn,
chiếm lấy thành quy nhân làm chỗ căn bản.
Nhạc là một người can đảm và lắm cơ chí, lại thường hay lấy của nhà giàu cho nhà nghèo,
cho nên những kẻ nghèo khổ theo phục rất nhiều.
Thế Nguyễn Nhạc mỗi ngày một mạnh, quân nhà chúa đánh không được,
chẳng bao lâu từ đất Quảng Ngãi cho đến Bình Thuận đều thuộc về Tây Sơn cả.
Đang khi trong Nam có quyền thần chuyên chính ở trong, Tây Sơn đánh phá ở ngoài,
ở ngoài bắt chúa trịnh là trịnh xâm biết tình trạng như vậy.
Bèn sai đại tướng là Hoàng Ngũ Phước đem quỷ bộ hơn 3 vạn quân,
Chúa Nguyễn không chống nổi quân trịnh phải bỏ chạy vào Quảng Nam.
Quân trịnh chiếm được toàn bộ thuận hóa.
Nguyễn Phúc thuần vào đến Quảng Nam được mấy tháng thì Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn kéo ra đánh.
Quân Nguyễn yêu thế không địch nổi, lại ở thế lưỡng đầu thọ địch.
Chúa Nguyễn Bèn cùng người cháu là Nguyễn Phúc Anh xuống thuyền chạy vào gia định,
đất Quảng Nam thuộc về Tây Sơn.
Tháng 2 năm 1775, quân trịnh tiếp tục tiến về phía Nam,
vượt đèo Hài Vân và đụng độ với quân Tây Sơn ở Quảng Nam.
Đến lượt Tây Sơn rơi vào tình cảnh bị kẹp ở hai bên,
Nguyễn Nhạc yêu thế không địch nổi, Bèn xin giảng hòa với quân trịnh.
Trên ranh nghĩa đầu hàng nhà Lê, xin làm tiên phong đi đánh chúa Nguyễn ở gia định.
Chúa trị bằng lòng và phong chức Tây Sơn trưởng hiệu tráng tiết tướng quân cho Nguyễn Nhạc.
Sau khi tạm yên mặt Bắc, Nguyễn Nhạc tập trung lực lượng tiếp tục chinh phục phía Nam.
Đến năm 1777, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ, quân Tây Sơn đánh bại quân Nguyễn.
Nguyễn Phúc Dương và Nguyễn Phúc Thần bỏ trốn nhưng đều không thoát, bị bắt đem sử tử.
Một hoàng tôn là Nguyễn Phúc Ánh, lúc đó 15 tuổi, chạy thoát ra đảo Thổ Chu.
Toàn bộ vùng đất phía Nam thuộc về Nguyễn Nhạc.
Từ đó, mỗi năm cứ đến mùa gió thuận thì Nguyễn Nhạc lại cho binh chảy thuyền vào Nam tìm kiếm,
quyết tận diệt dòng họ Nguyễn Phúc.
Tuy nhiên, lần nào cũng vậy, sau khi chiếm được gia định,
chủ tướng và quân chủ lực Tây Sơn rút về, giao lại cho một bộ tướng coi giữ.
Chỉ một thời gian sau Nguyễn Ánh tụ tập lại được lực lượng và chiếm lại vùng Nam bộ,
Nguyễn Nhạc nhiều lần cho quân đánh vào Nam và truy sát nhưng nhờ may mắn, ánh đều trốn thoát.
Từ năm 1778, sau khi cơ bản chinh phục được họ Nguyễn, thực lực được củng cố,
Nguyễn Nhạc tự xưng làm vua, lập nên triều đại Tây Sơn, đặt niên hiệu là Thái Đức,
đóng đô tại thành Quy Nhơn, không còn ràng buộc với chúa trị nữa.
Trong thời gian chống trả Tây Sơn tại Nam bộ, Nguyễn Ánh nhiều lần thông qua giá mục bá đa lộc
để cầu viện người Pháp nhưng không thu được nhiều kết quả, do đó ánh chuyển sang cầu viện ở Siêm La.
Bấy giờ nước Siêm La đang lúc tịnh vượng, muốn chiếm đất gia định để mở rộng bờ cõi.
Vua Siêm Nhân cờ đó sai hai tướng là Triều Tăng, Triều Sương đem 2 vạn quân thủy, 300 chiến thuyền
và 3 vạn quân bộ tiến sang Trân Lạp chờ cơ hội tiêu diệt quân Tây Sơn.
Tướng Tây Sơn ở gia định thấy quân Siêm thế mạnh, bèn sai người về Quy Nhơn cấp báo.
Vua Thái Đức sai Nguyễn Huệ đem quân vào đánh.
Sau khi vào gia định, Nguyễn Huệ cho bố trí trận địa ở đoạn sông Dạch Gầm và Xoài Mút.
Tháng 1 năm 1785 quân Siêm lợi dụng Thủy Triều xuôi theo dòng sông để tấn công Mỹ Tho.
Quân Tây Sơn giả thua rút chạy, nhiều địch lọt vào trận địa Dạch Gầm, Xoài Mút.
Khi quân Siêm lọt vào trận Mai Phục, Nguyễn Huệ bất ngờ cho quân bắn pháo, tấn công dữ dội.
Trong khi đó, cánh quân bộ Siêm la ngay từ đầu đã bị chạm đánh không cho cứu viện.
Chỉ một trận quyết chiến diễn ra không đầy một ngày, Nguyễn Huệ đã tiêu diệt hoàn toàn quân Siêm.
Mấy vạn quân Siêm chỉ sát lại vài nghìn người, các tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương và Nguyễn Ánh phải bỏ chạy về Siêm la.
Cánh quân Siêm trên bộ nghe tin thất trận cũng tan giã và tháo chạy.
Đánh dẹp xong, Nguyễn Huệ đem quân về Quy Nhơn để Đô Đốc Đặng Văn Chấn ở lại giữ đất gia đình.
Trong khi đó tại Bắc Hà, chính quyền họ trịnh ngày một suy yếu lại có nạn kiêu binh làm loạn.
Nguyễn Nhạc nhân cơ hội đó quyết định đánh chiếm Phú Xuân.
Năm 1786, ông cử Nguyễn Huệ làm Tổng Chỉ huy đánh ra Bắc thành Phú Xuân nhanh chóng bị hạ.
Do sự thuyết phục của Nguyễn Hữu Trình, một viên tướng quân trịnh hàng Tây Sơn,
Nguyễn Huệ quyết định đem quân ra đánh Thăng Long để diệt họ trịnh, dù chưa được lệnh của Nguyễn Nhạc.
Với danh nghĩa Phù Lê Diệt Trịnh, Nguyễn Huệ sai trịnh làm tiên phong Bắc Tiến.
Quân trịnh dịu dãi nhanh chóng thua trận, các tướng phần nhiều nghe tin Phú Xuân thất thủ đã khiếp sợ.
Đến khi nghe quân Tây Sơn kéo ra, đa số đã bỏ trốn.
Chúa trịnh không được lòng dân, bỏ thành Thăng Long chạy.
Bị dân bắt đen nộp cho Nguyễn Huệ, trên đường áp dài, trịnh phải tụi sát.
Tháng 7 năm 1786, vua Lê Hiền Tông qua đời.
Nguyễn Huệ thu xếp cho Lê Duy Kỳ lên ngôi, tức là vua Lê Triều Thống, rồi rút quân về Nam.
Sau khi quân Tây Sơn rút đi, các thế lực cũ của họ trịnh trỗi dậy, lập trịnh bồng lên ngôi vương, tái lập chính quyền chúa trịnh.
Vua Lê Triều Thống đang muốn chấn hương nhà Lê, bèn mời Nguyễn Hữu Trịnh ở Nghị An ra dẹp trịnh bồng.
Trịnh nhanh chóng đánh tan quân trịnh.
Họ trịnh mất hẳn, nhưng Nguyễn Hữu trịnh lại lộng hành như chúa trịnh trước kia.
Do sự tranh chấp về quyền lực, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nổ ra xung đột đầu năm 1787.
Nguyễn Huệ thắng thế nhưng chấp nhận lời cầu hòa của vua anh.
Nguyễn Nhạc phong vương cho hai em, mỗi người che nhau giữ một khu vực.
Nguyễn Nhạc xưng là trung ương hoàng đế, đóng đô ở Quy Nhơn.
Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất ra định.
Phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất từ đèo Hải Vân trở ra Bắc.
Việc bất hòa giữa anh em Tây Sơn, để lại hậu quả nghiêm trọng và lập tức bị kẻ địch từ hai phía tận dụng.
Ở phía Nam, Nguyễn Ánh tập hợp lực lượng, trở về vào tháng 8 năm 1787.
Nguyễn Lữ nghe tin Nguyễn Ánh trở lại, sợ hãi mang quân bản bộ giúp chạy về Quy Nhơn, để ra định cho Phạm Văn Thăm giữ.
Đầu năm 1789, Phạm Văn Thăm bị Nguyễn Ánh vây chặt, lại bịt đường ra biển về Quy Nhơn nên buộc phải đầu hàng.
Tây Sơn mất Nam Bộ.
Ở phía Bắc, Nguyễn Hữu chỉnh nhân lục nội bộ Tây Sơn lục đục bèn có ý chống lại.
Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm ra tiêu diệt chỉnh.
Tuy nhiên, đến lượt Vũ Văn Nhậm chuyên quyền, có ý chống Nguyễn Huệ.
Tháng 4 năm 1788, Lê Chiêu Thống đã rời Kinh Đô Lưu Vong.
Nguyễn Huệ phải đem quân ra Bắc lần thứ hai, giết Vũ Văn Nhậm.
Ông tổ chức lại hệ thống cai trị ở Bắc Hà, đưa các doanh sĩ có tên tuổi nhưng ngô thì nhậm.
Phan Huy X ra đảm đương công việc, lập Hoàng Thân Lê Duy Cận làm giám quốc.
Sau đó Nguyễn Huệ lại rút quân về Phú Xuân.
Tháng 5 năm 1788, Lê Duy Kỳ sang Long Châu Cầu Viện Nhà Thanh.
Càn Long muốn nhân cơ hội đánh chiếm nước tà bèn sai Tổng đốc Lưỡng Quảng.
Là tôn sĩ nghị mang 29.000.000 quân và dân binh từ Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu Hộ.
Trước thế giặc mạnh, quân Tây Sơn do Ngô Văn Sở chỉ huy.
Theo mưu kế của Ngô thì nhậm, chủ động rút quân về đóng ở Tam Điệp, Ninh Bình, cố thù chờ lệnh.
Quân Thanh nhanh chóng chiếm được Thăng Long.
Nghe tin báo, tháng 12 năm 1788, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ xuất quân tiến ra Bắc Hà.
Quân đội dưới quyền ông thực ra đã có chuẩn bị tác chiến từ trước.
Từ giữa năm 1788, Tây Sơn đã mất Nam Bộ vào tay Nguyễn Ánh.
Nguyễn Nhạc bất lực không thể cứu ưng phía nam, lại không thể kiềm chế người em tài ba hơn mình,
xin nhờ ngôi hoàng đế đất đai cho Nguyễn Huệ, tự xưng là Tây Sơn Vương và thỉnh cầu ông vào cứu.
Để chuẩn bị nam tiến, Nguyễn Huệ tổng động viên binh lính ở Thuận Hóa, ngày đêm tập luyện.
Tuy nhiên đạo quân từ phương Bắc trở thành nguy cơ lớn hơn và Nguyễn Huệ quyết định Bắc tiến trước.
Với lý do vua Lê đã bỏ nước và rước giặc về.
Để có danh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy nhiên hiệu Quang Trung.
Vua Quang Trung hành quân ra Bắc vừa đi vừa tuyển thêm quân và củng cố lực lượng.
Ngày 20 tháng 12 năm mậu thân 1789, đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp.
Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung nói với toàn quân rằng chỉ trong 10 ngày sẽ quét sạch quân thanh.
Nhưng sớm hơn cả dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch,
quân Tây Sơn đã đánh tan 29 vạn quân thanh bằng hàng loạt trận đánh tập kích,
mai phục thần tốc và chớp nhoáng mà trận ngọc hồi, đống đa là thiêu biểu.
Trưa mùng 5 Tết kỳ rậu 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long.
Tôn sĩ Nghị bỏ chạy, trên đường chạy liên tiếp bị mai phục trận đánh, bỏ lại cả quân ấn, kỳ bài, sắc thư.
Lê Chiếu Thống cũng theo chân Nghị chạy về Trung Quốc.
Sau khi đánh bại quân thanh, Quang Trung trở thành nhà lãnh đạo tối cao của Chiếu Tây Sơn
và là vị hoàng đế duy nhất cai trị tại Việt Nam.
Không lâu sau, ông bình thường hóa quan hệ với nhà thanh
và được nhà thanh công nhận là vị vua chính thống của Việt Nam.
Ngay sau chiến thắng kỳ rậu, vua Quang Trung vội trở lại Phú Xuân để đề phòng Nguyễn Ánh,
trao lại binh quyền cho Ngô Văn Sở và Ngô Thị Nhậm.
Năm 1792, ông quyết định thực hiện một chiến dịch lớn nhằm tiêu diệt tận gốc thế lực của Nguyễn Ánh.
Kế hoạch đang chuẩn bị thì ngày 16 tháng 9 năm 1792, vua Quang Trung băng Hà,
còn là Nguyễn Quan Toàn còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, tức là vua cảnh thịnh.
Không có người lãnh đạo đủ năng lực, nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu, nội bộ lục đục, sinh ra nội loạn.
Nguyễn Ánh nhân thời cơ đó ra sức bắt tiến.
Quân Tây Sơn liên tiếp thua trận đến giữa năm 1802,
Nguyễn Ánh tiến ra chiếm được Thăng Long, Quang Toàn không chống nổi, bỏ chạy, bị bắt và bị giết.
Nhà Tây Sơn từ đó chấm dứt, nước Nam lần đầu tiên được thống nhất sau gần 300 năm độ chiến, chia cắt.
Không lâu sau Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng Đế, đặt nhiên hiệu là Gia Long,
Lê Quang định được cử làm tranh sư sang Nhà Thanh sinh Phong Vương và đổi tên nước là Nam Việt.
Nhà Thanh cho rằng tên nước Nam Việt sẽ lẫn với nước của Triệu Đà, nên đổi là Việt Nam.
Là vua sáng nghiệp của Triều Nguyễn, Gia Long phải quyết định rất nhiều việc đặt nền móng cho Vương Triều có một địa bàng thống trị rộng lớn từ Bắc chế Nam.
Để tránh lộng quyền, ngay từ đầu nhà vua bãi bỏ chức vụ tầy tướng.
Ở triều đình chỉ đặt ra 6 bộ, lại, hộ, lĩ, binh, hình, cong do các thượng thư đứng đầu.
Ở trong cung cũng vậy, nhà vua không lập ngôi Hoàng Hậu, chỉ có Hoàng Phi và các cung tần.
Nhà vua cho tổ chức lại các đơn vị hành chính từ trung ương xuống, cả nước chia làm 23 chấn, bố doanh.
Quản lý dựng đất, thuế khóa, linh khẩu áp dụng theo mô hình thời Lê Sơ, nhưng được thực hiện trên quy mô lớn hơn và có quy củ hơn.
Công cuộc khai hoang vùng đồng bằng Sông Cửu Long được tiếp tục.
Việc trị thủy vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng được Gia Long chú ý ngay từ đầu.
Thời Gia Long khối lượng đê kè được đắp nhiều nhất so với các triều trước.
Về đối ngoại, Triều Nguyễn một mặt tranh thủ sự ủng hộ và giữ lễ thần phục nhà Thanh,
mặt khác lại tạo quan hệ đàn anh đối với Trân Lạp và Ai Lao, đối với các nước phương Tây,
từ chỗ dựa vào lực lượng của họ để giành thắng lợi chuyển sang lạnh nhà.
Sĩ quan Pháp đã từng giúp vua được trọng đải giữ chức tại Triều,
tuy nhiên chỉ là hư danh, không có thực quyền.
Còn yêu sách khác của chính phủ Pháp đều bị khước từ.
Tháng 2 năm 1820, vua Băng Hạ ở Liện Trung Hoa, thọ 59 tuổi.
Gia Long tiếp tục vua chúa trong 25 năm, làm vua cả nước 18 năm, tổng cộng 43 năm.
Thái tử Nguyễn Phúc đảm lên ngôi, niên hiệu là Minh Mạng.
Minh Mạng có tư chất thông minh, hiếu học, năng động và quyết đoán.
Từ khi lên ngôi, ông ra coi trầu rất sớm,
xem xét mọi việc trong triều và tự tay trâu phê rồi mới cho thi hành.
Minh Mạng muốn quan lại các các phải có đức độ và năng lực,
nên khi mới lên ngôi đã đặt ra lệ mà về sau khó ai thực hiện nổi.
Tất cả quan lại văn võ ở thành, dinh, chấn, hễ ai được thang chức,
bổ nhiệm đều phải đến kinh gặp vua trước khi nhận chức để nhà vua hỏi han công việc,
kiểm tra năng lực và khuyên bảo.
Minh Mạng là người ham hiểu biết,
thường khi tan trầu, nhà vua cho gọi một vài đại thần tới bàn các việc kinh lý,
hỏi sự tích đời xưa, danh nhân và phong tục các nước xa lạ.
Nhiều đêm vua thắp đèn xem chương sớ, đến canh 2, canh 3 mới nhỉ.
Vua thường nói với triều thần,
lòng người, ai chẳng muốn yên, hay gì sinh sự để thay đổi luôn,
những lúc trẻ khỏe mà không biết sửa sang mọi việc,
đến lúc già yếu mỏi mệt, hỏi mong làm gì được nữa.
Bởi thế chẳng không dám lười biếng bất kỳ lúc nào.
Là người tinh thâm nho học, dùng đạo khổng mạnh,
Minh Mạng rất quan tâm đến học hành hoa cử, tuyển chọn nhân tài.
Nhà vua nghiên trị bọn quan lại tham nhũng,
có viên quan không dùng thước để gạt thăng đông thốc thuế,
thường dùng tay để dễ bể lãm dụng,
biết chuyện nhà vua lập tức sai chặt tay tên đó.
Minh Mạng rất quan tâm đến võ bị, đặc biệt là thủy quân.
Trên cơ sở đã có từ thời Gia Long,
nay Minh Mạng củng cố và hoàn thiện hơn bộ máy quản lý đất nước.
Năm 1831, Minh Mạng cho tiến hành cải cách hành chính trên quy mô lớn,
chia cả nước ra làm 31 tỉnh.
Từ đây, tỉnh là đơn vị hành chính thống nhất trong cả nước,
có cương vực và địa hình khá hợp lý.
Tuy vậy, dưới thời Minh Mạng,
nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra với nhiều loại khác nhau.
Nông dân nghèo nổi lên chống quan lại nhũ nhũ
như Phan Bá Vành ở đồng bằng Bắc Bộ,
tựu thần nhà Lê như Lê Duy Cương nổi lên chống lại Triều Đình,
các tù trưởng người thiểu số như Nông Văn Vân hoặc họ quét ở vùng Hòa Bình, Thanh Hóa.
Minh Mạng phải cử quân đi đánh dẹp.
Năm 1833, Lê Văn Khôi khởi binh chống lại Triều Đình ở Gia Định
cho người sang cầu cứu Xuyên La.
Người Xiêm đem quân thủy bộ sang giúp Khôi đánh lại con Nguyễn.
Trường Minh Giảng và Nguyễn Xuân Phá được quân Xiêm đuổi ra khỏi Bờ Cõi.
Năm 1835, Minh Mạng đưa quân qua Nam Vang,
bắt vua Trân Lạp rồi lập trấn Tây Thành.
Minh Mạng đặc biệt chú ý thần phục nhà Thành.
Với các nước phương Tây thì tỏ ra lạnh nhạt, nghi kị.
Chính sách ấy đã làm kìm hãm sự phát triển của đất nước.
Năm 1839, Minh Mạng đổi quốc hiệu Việt Nam thành Đại Nam.
Năm 1840, nhà vua ốm nặng rồi qua đời, họ 50 tuổi.
Hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Tông là con trưởng trong số 78 hoàng tử của Minh Mạng,
nên được đối ngôi.
Năm 1841, Miên Tông liên ngôi ở Điện Thái Hòa, đặt nhân hiệu là Thiệu trị.
Thiệu trị hiền hòa, không hay bày việc,
và trang mọi quy chế đã được sắp đặt khá quy cũ từ thời Minh Mạng.
Thiệu trị giữ nếp cũ, chỉ dăm dắp làm theo di huấn của cha mà thôi.
Cuối đời Minh Mạng, Trấn Tây Thành là mối lo cần giải quyết.
Do chính sách cai trị mất lòng dân Trân Lạp của quan lại người Việt ở đây
đã khiến nhân dân nhiều lần nổi dậy.
Triều Nguyễn phải đem quân đánh dẹp, mãi không được yên.
Vì thế, ngay năm đầu liên ngôi, Triều Quan như tạ quan cự tâu xin bỏ đất Trân Lạp,
rút quân về giữ An Giang.
Vua nghe theo, xuống chiếu bãi binh.
Năm 1847, Thiệu trị bị bệnh rồi mất, ở ngôi được 7 năm, thọ 41 tuổi.
Hoàng tử Hồng Nhậm liên ngôi ở Điện Thái Hòa, lấy nhân hiệu là Tự Đức.
Tự Đức ốm yếu, phải luôn sống tại Cung điện Huế,
trừ mỗi năm 2 lần nghỉ hè và nghỉ đông ở cửa biển Thật An.
Cũng chính vì lý do trên mà vua ít xác dân tình,
ngày càng trở nên quan liêu, mệnh lệnh, bù lại sự yếu kém sức khỏe.
Tự Đức lại rất thông minh và có tài văn học.
Vua thích nghiền ngẫm kinh điển nho giáo, xem sách đến khuya.
Có thể nói Tự Đức là một trong những người uyên bác nhất thời đó
và là muôn đầu tích cực của Hồng Học.
Lẽ dễ hiểu ông là người con rất có hiếu với mẹ là từ dụ.
Vua cũng rất chăm chỉ và cẩn thận trong việc chính sự.
Tự Đức trị vì đất nước trong bối cảnh gặp nhiều thử thách sống còn.
Nhà vua thiếu tính, quyết đoán, phải dựa vào chiều thần để bàn việc,
mà chiều thần tuy có nhiều người thanh niên và có thực quyền song lại bảo thủ.
Trên thế giới khoa học và công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ,
thế mà đình thần chỉ lo việc văn chương,
bàn đến quốc sự thì lấy nghiêu thuẫn, hạ thương ra làm gương,
tự vỗ ngực là văn minh, chê thiên hạ là ngoại gì.
Cũng có người đã ra ngoài du học, được tiếp xúc, có cách nhìn mới,
muốn cải cách theo gương Nhật Bản, Thái Lan và các nước phương Tây
thì đình thần lại cho là nói càn, bàn nhảm, hoặc cho là không hợp thời thế.
Vì thế Tự Đức cấm buôn bán ngày càng gai gắt hơn,
khiến đất nước càng trở nên lạc hậu với thế giới bên ngoài.
Thực dân Pháp nhân thời cơ đó nổ súng xâm lực nước ta.
Tháng 8 năm 1858, quân Viễn Trinh Pháp cùng Tây Ban Nha
tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó rút vào sâm chiếm Sài Gòn.
Tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng 3 tỉnh miền Đông cho Pháp.
Năm 1867, Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây để tạo thành một lãnh thủ thuộc địa Nam Kỳ.
Sau khi khủng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ,
từ năm 1873 đến năm 1886,
Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Đại Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở Bắc Kỳ.
Năm 1882, triều đình cử người đi xứ cầu viện nhà Thanh đánh Pháp.
Trung Quốc đang bị các nước phương Tây sâu xé,
chẳng những không cứu được mà còn muốn nhân dịp chiếm các tỉnh miền Bắc nước ta.
Sau khi giao chiến một thời gian, quân Pháp đã đuổi được quân Thanh về nước.
Nhà Thanh phải công nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Đại Nam.
Năm 1883, Tự Đức qua đời chỉ vì 36 năm, thọ 55 tuổi.
Triều đình Huế phải ký hỏa ước quý mùi 1883,
rồi hỏa ước giáp thân 1884,
đất nước bị chia làm ba kỳ trữ sự đô hộ của thực dân Pháp.
