Tóm Tắt Lịch Sử Thời TIỀN LÊ (980 - 1009): LÊ ĐẠI HÀNH Phát Triển Đất Nước [Lịch sử Việt Nam P16]

Đình Sự
537 người theo dõi
Năm 980, Lê Hoàng lên ngôi, tức Lê Đại Hành, sáng lập Nhà Lê, hay gọi là Tiền Lê của nước Đại Cổ Việt.
Vừa đổi nhân hiệu là Thiên Phúc, vẫn đóng đô ở Hoa Lư.
Năm 981, Lê Đại Hành đánh tan quân Tống xâm lược, giữ yên mở cõi.
Sau chiến thắng, Lê Hoàng sai xứ sang Nhà Tống để giữ mối quan hệ hòa hảo không đáng đánh mắt giữa hai nước Việt và Tống.
Đại Tống chấp thuận Lê Hoàng là người cai trị Đại Cổ Việt và xác lập mối quan hệ hai bên.
Năm 982, Lê Đại Hành thảo phạt thành công Triêm Thành, đang rất mạnh ở phía Nam.
Từ đó, Triêm Thành hàng năm sang cống nạp Đại Cổ Việt.
Về tình hình đất nước, Lê Đại Hành lập 5 hoàng hậu và đã lấy Dương Vân Nga làm hoàng hậu của mình.
Do hoàng hậu Dương Vân Nga chính là vợ vua Đinh Tiên Hoàng nên Lê Đại Hành đã bị chê trách về vấn đề này.
Nhưng không vì thế mà cản trở được việc Lê Đại Hành hưng hịnh quốc gia.
Vua đã minh chứng được tài năng của mình.
Ông đã cho xây dựng nhiều công trình, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp để chấn hưng nền kinh tế.
Về tổ chức quản lý, thời tiền Lê vẫn giữ nguyên như thời Đinh.
Vua nắm mọi quyền hành, cả dân sự lẫn quân sự.
Dưới vua là các chức quan văn võ.
Lê Đại Hành cho xây dựng nhiều công điện với quy mô to lớn hơn.
Về tổ chức quân đội, thời tiền Lê, việc xây dựng lực lượng quân sự rất được trú trọng
nhằm bảo vệ nền độc lập và chủ quyền quốc gia, dân tộc.
Bên cạnh quân đội thường trực của triều đình, thiên tử quân, cấm vệ quân
còn có quân đội địa phương, dân binh, hương binh
cùng với lực lượng bộ binh, lực lượng thủy quân cũng được tập trung xây dựng.
Thời tiền Lê đã có những chiến thuyền lớn được trang bị đầy đủ hơn.
Về pháp luật, cho tăng cường bộ máy nhà nước quân chủ
bắt đầu định luật lệ cho việc xét xử tùy mới ở sơ khai.
Về giao thông, vua cho đáp và mở đường các nơi nạo vét các kênh đào
vừa phát triển kinh tế, vừa thuận tiện cho việc hành quân trên bộ.
Về văn hóa, Đạo Phật vẫn giữ vai trò lớn trong đời sống xã hội Đại Cổ Việt.
Vua tin dùng, lắng nghe sự cố vấn của các thiền sư Phật giáo như Vạn Hạnh, Khuông Việt.
Về kinh tế thì nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu.
Nông dân được cấp chia dụng đất để cây cấy.
Vua đã đặt ra các loại thuế, căn cứ vào tài sản dụng đất
khuyến khích phát triển thương mại, thủ công mỹ nghệ.
Kinh tế đã giao thương với các nước xung quanh.
Năm 987, Vua Lê Đại Hành đã thực hiện lễ cấy tịch điền
để động viên khuyến khích nhân dân sản xuất nông nghiệp.
Ông là vị hoàng bế trong lịch sử, mở đầu cho lễ tịch điền
nhằm khuyến khích sản xuất nông nghiệp dưới chế độ phòng kiến xưa.
Trong thời nhà Tiền Lê, nhân dân ta đã được hưởng Thái Bình
chăm lo sản xuất, đời sống ấm no hơn.
Trước đó, vào thời nhà Đinh, tại Châu Cổ Pháp,
ngày nay thuộc tỉnh Bắc Ninh,
đã sinh ra một người con đất Việt bằng tên Lý Công Uẩn.
Từ nhỏ, Lý Công Uẩn rất thông minh tuấn tú,
khác hoàn toàn các đứa trẻ lúc bấy giờ.
Công Uẩn được gửi vào chùa Lục Tổ,
nơi có vị thiền sư Vạn Hạnh trụ trì.
Vạn Hạnh đã nuôi dưỡng Lý Công Uẩn,
trở thành một vị tướng văn võ song toàn.
Lớn lên, Công Uẩn gia nhập quân đội nhà Tiền Lê
và trở thành một dũng tướng trung thành thời kỳ đó.
Lê Đại Hành là một vị hoàng bế có rất nhiều con trai.
Vua có tới 13 người con,
trong đó có tới 11 người con trai,
tất cả đều được phong vương.
Trong số các con vua, tiêu biểu là con cả Lê Long Thâu,
đã góp gông trong cuộc chiến đại phá quân tổng năm 981,
nên được phong làm Kinh Thiên Đại Vương,
được vua phong làm Thái Tử để kế vị sau này.
Lê Long Tích được phong làm Đông Thảnh Vương,
Lê Long Việt được phong làm Nam Phong Vương,
Lê Long Đĩnh được phong làm Khai Minh Đại Vương.
Tuy nhiên, đến năm 1000,
Thái Tử Lê Long Thâu mất.
Sau khi con cả mất,
người con thứ là Lê Long Đĩnh tự ứng cử làm Thái Tử.
Lê Đại Hành định lập,
nhưng các đại thần khuyên ngăn
vì vua có các con trai lớn và tài giỏi hơn Lê Long Đĩnh.
Cụ thể là Lê Long Tích,
xét về vai vế là người con cả lúc bấy giờ.
Nhưng Lê Đại Hành lúc đó không phong Lê Long Đĩnh,
cũng không phong Lê Long Tích,
mà lại chọn con thứ Lê Long Việt làm Thái Tử.
Chính vì sự bất thuận giữa các con,
nên sau này đã xảy ra nội chiến các hoàng tử trong triều đình.
Ngày 8 tháng 3 năm Ất Tị,
tức ngày 18 tháng 4 năm 1005,
Lê Đại Hành băng hà ở Điện Trường Xuân,
hưởng thọ 63 tuổi.
Lê Đại Hành trị vì Đại Cô Việt trong vòng 24 năm,
từ năm 980 đến năm 1005.
Ngay sau khi Lê Đại Hành mất,
các hoàng tử của nhà vua đã tranh nhau ngai vàng với Thái Tử,
làm cho nước Đại Cô Việt lúc đó không có vua cài trị.
Đầu năm 1006,
Thái tử Long Việt đánh bại Đông Thảnh vương Lê Long Tích.
Lê Long Tích mất tại Châu Thạnh Hà,
tức Hà Tĩnh ngày nay.
Trước sự thắng thế của Thái tử Lê Long Việt,
các hoàng tử khác tạm thời án binh bất động,
Lê Long Việt đã lên ngôi hoàng đế.
Tuy nhiên, Lê Long Việt lên ngồi được 3 ngày,
thì bị em của mình là Khai Minh Vương,
Lê Long Đĩnh sát hại ngay tại cung điện.
Các đại thần lúc đó đều chạy trốn,
duy nhất có lý công quần là chạy tới,
ôm sát nhà vua mà khóc.
Lê Long Đĩnh lên ngôi,
đời sau gọi là ngoại triều hoàng đế.
Sau khi lên ngôi,
Lê Long Đĩnh đã đánh dẹp tất cả các anh em trong hoàng tộc
đã nổi dậy trong đối.
Trong thời gian trị vì,
ông bị coi là vị vua háo sắc, tàn bạo,
lại cho đổi chế độ giống với nước đại tống.
Năm 1009,
Lê Long Đĩnh mất sớm khi mới 24 tuổi,
chỉ vì được 4 năm,
các con của Lê Long Đĩnh còn rất nhỏ.
Sau khi Lê Long Đĩnh mất,
các đại thần trong triều là Chi hậu Đào Cam Mộc
cùng với người thầy là thiền sư Vạn Hạnh
đã tôn lý công quần lên thay.
Lý công quần lên ngôi năm 1009,
tại Kinh Đô Hòa Lư.
Vậy là nhà tiền Lê kết thúc,
chỉ vì được 29 năm,
từ năm 980 đến năm 1009,
trải qua 3 đời hoàng đế,
đó là Lê Hoàn, Lê Long Việt và Lê Long Đĩnh.
Trong thời kỳ trị vì đất nước,
Lê Đại Hành đã đại phá quân tống ở phía bắc
và bình chiêm thành ở phía nam giữ yên bở cõi.
Không những thế,
ông còn đóng góp công sức rất lớn
cho sự phát triển nước đa
tại thời điểm đó.
