Súng Trường Mosin Nagant: “Hỏa Thương” Vệ Quốc 130 Tuổi Của Liên Xô Khiến Đức Quốc Xã Khiếp Đảm

CDTeam - Kiến Thức Quân Sự
113 người theo dõi
5 Lượt xem video·6 thg 12, 2024
Súng Trường Mosin Nagant: “Hỏa Thương” Vệ Quốc 130 Tuổi Của Liên Xô Khiến Đức Quốc Xã Khiếp Đảm
Một phát đạn tiêu diệt 3 tên địch
Trở thành huyền thoại trước cả khi AK-47 ra đời
Sức mạnh kinh hoàng của “Hỏa thương” vệ quốc Mosin Nagant sẽ được KTQS tiết lộ trong video ngày hôm nay.
------------------------
▶ ‘Kiến Thức Quân Sự’ là Kênh cung cấp cho các bạn những tri thức, hiểu biết chung về tình hình quân sự, chính trị trên thế giới.
Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ email: [email protected]
Việc sở hữu một biên đội tàu sân bay hủng mạnh
luôn là đích đến cuối cùng của bất kỳ lực lượng hải quân nào trên thế giới.
Không chỉ là một thứ vũ khí mang ý nghĩa chiến lược,
mà còn là biểu tượng về sức mạnh quân sự của mỗi quốc gia.
Từ một con tàu buôn
cho đến một chiếc tàu sử dụng năng lượng hạt nhân.
Hành trình hơn 100 năm phát triển của tàu sân bay
đã diễn ra ngoạn mục như thế nào?
Tất cả sẽ được giải mã trong video ngày hôm nay.
Khi máy bay được phát triển mạnh mẽ
nhờ có sự xuất hiện của các loại động cơ vào đầu thế kỷ 20,
thì lực lượng hải quân của nhiều nước
đã bắt đầu chú ý tới tiềm năng sử dụng chúng
để trinh sát những tàu chiến lớn
ở mọi ngóc ngách tận cùng của đại dương.
Rất nhanh sau đó,
nhiều chuyến bay thử nghiệm đã được tiến hành
để kiểm tra độ khả thi của ý tưởng này.
Ngày 14 tháng 11 năm 1910,
đánh dấu lần đầu máy bay Mỹ xuất phát từ một con tàu chiến
khi phi công Eugene Ailey
điều khiển chiếc máy bay cánh đôi
rời khỏi bong tàu tuần dương hạm hạng nhẹ
USS Burke Minh Ham.
Mặc dù cú cất cánh không được như ý
khi phi cơ xả xuống biển và chạm với mặt nước
trước khi lấy lại đứng độ cao.
Nhưng chưa đầy 5 phút sau,
Ailey đã hạ cánh xuống bãi biển cách đó khoảng 5 km
và hoàn tất chuyển bay.
Tuy nhiên, chỉ huy người Anh Charles Samson
mới là người đầu tiên cất cánh từ một con tàu chiến đang di chuyển
vào ngày 9 tháng 5 năm 1912.
Ông cất cánh từ con tàu chiến HMS Hibernia
khi nó đang chạy với tốc độ 19 km trên giờ
trong một cuộc thao diễn ở vịnh Weymouth.
Các chuyên gia khi ấy nhận định
những thử nghiệm này đã chứng tỏ
máy bay cất cánh trên tàu
sẽ trở thành yếu tố quan trọng
trong chiến lược hải quân tương lai.
HMS Ark Royal
được xem là chiếc tàu sân bay đầu tiên
trên thế giới đi vào hoạt động.
Mặc dù có khá nhiều ý kiến cho rằng
vị trí ấy nên dành cho chiếc Fauré của Pháp.
Nhưng chúng ta hãy cùng đến với chiếc tàu sân bay
được cho là có nhiều đóng góp hơn cho lịch sử.
Quay trở lại,
ban đầu HMS Ark Royal
là một chiếc tàu buôn
nhưng vào năm 1914
nó đã được Hải quân Hoàng gia Anh hoán cảnh
để trở thành một tàu sân bay
chở thủy phí cơ.
Với cấu trúc thượng tầng, ống khói,
động cơ được di chuyển về phía sau
và bong làm việc chiếm một nửa con tàu.
Bong tàu này không được thích kế
như một sản cất cánh
mà là để khởi động và chạy
các động cơ thủy phí cơ
cũng như phục hồi các máy bay bị hư hỏng trên biển.
Các máy bay trên HMS Ark Royal
đã tham gia chiến dịch
Gallipoli vào đầu năm 1915
với nhiệm vụ do thám
và quản sát trên không.
Sau đó là hỗ trợ quân đội Anh
trên mặt trận Macedonia
vào năm 1916 cho đến hết thế giới thứ nhất.
Còn lần không kích mục tiêu
trên đất liền đầu tiên
do tàu sân bay thực hiện
là cuộc tập kích Thornden
diễn ra vào ngày 19 tháng 7 năm 1918.
7 chiếc Sopwith Carmel
được phóng từ HMS Furious
đã thả bom tấn công căn cứ không quân của Đức
và phá hủy 2 chiếc khí cầu Zeppelin.
Tuy nhiên
Hiệp ước Hải quân Washington
năm 1922 đã đặt ra
những giới hạn chặt chẽ về sức mạnh hải quân
các nước sau Thế chiến thứ nhất.
Các điều khoản này không chỉ giới hạn
về tổng kích thước của các tàu sân bay
mà còn về trọng lượng nữa.
Chúng chỉ được có trọng lượng tối đa
là 27.432 tấn
cho mỗi chiếc
và có thể mang không quá 10 khẩu pháo hạng nặng
với cước nòng tối đa là 20,3 cm.
Thế nhưng
những hạn chế dành cho tàu chiến
và thiết giáp hạm trong hiệp ước này
còn căng hơn rất nhiều.
Vì thế mà rất nhiều tàu đã được chuyển đổi
thành tàu sân bay.
Các bạn sẽ thấy đây chính là lý do
tại sao xuất hiện nhiều lớp tàu sân bay mới
như lớp Lexington của Hoa Kỳ
Akagi
và Kaga của Nhật Bản
hay lớp Carragher của Anh.
Quá trình phát triển tàu sân bay
trong giai đoạn này được tiến hành khá thuận lợi.
Vào giữa những năm 1920
chúng được hải quân đặt hàng rất nhiều
vì họ muốn sở hữu loại tàu
được thiết kế với những tính năng như tàu chiến
nhưng lại hoạt động dưới lớp tàu sân bay.
Điều này dẫn đến
việc các tàu như Hosso của Nhật
HMS Hermes của Anh
và Berne của Pháp
được đưa vào bận hành.
HMS Hermes
là chiếc đầu tiên trên thế giới
được thiết kế và chế tạo như một tàu sân bay.
Nó có một sàn đắp
dọc suốt chiều dài thân tàu
và đảo cấu trúc thân tầng
cùng vệ ông khói được bố trí bên mạng phải.
Sự cải tiến này giúp các thùy thủ
lái con tàu một cách hiệu quả hơn
mà không ảnh hưởng đến hoạt động không quận.
Lý luận để sắp xếp
mọi cấu trúc bên mạng phải
là do mọi máy bay cánh quạt đời đầu
đều trang bị động cơ bố trí hình tròn
xoay theo chiều kim đồng hồ.
Gió lớn khi quận sẽ khiến chiếc máy bay
có xu hướng lượn sang bên trái khi kết cánh.
Vậy nên
ý tưởng dồn tất cả sang mạng phải
chính là để tránh được mọi vật càng tiêm tạp.
Theo kiến thức của sự tìm hiểu
thì tới cuối thập niên 1930
các tàu sân bay trên thế giới
thường mang theo 3 kiểu máy bay
là máy bay phóng người lôi
máy bay ném bom bổ nhàu
và máy bay chiến đấu.
Tuy nhiên khoảng trống trên tàu rất hạn chế
nên tất cả các máy bay đều khá nhỏ
có một động cơ và thường có cánh
gấp lại để dễ sắp xếp.
Và khi đại chiến thế giới thứ 2 nổ ra
tàu sân bay đã làm thay đổi
đáng kể bộ mặt chiến tranh trên biển
bởi vì sức mạnh không quân đang trở thành
một yếu tố vô cùng quan trọng.
Chúng linh hoạt hơn, tầm hoạt động lớn
và có tầm bắn độ chính xác
cao hơn các loại súng hải quân rất nhiều.
Đồng thời tàu sân bay trở thùy phi cơ
cũng bắt đầu thất sùng từ đây.
Các nước đã dần truyền sang
trang bị cho tàu sân bay của họ
những chiếc máy bay chiến đấu tiêu chuẩn.
Với 7 tàu hoạt động,
hải quân Hoàng gia Anh có ưu thế về số lượng
ở giai đoạn đầu của cuộc chiến
khi cả Đức Quốc xã và Ý đều không có tàu sân bay
khiến cho 2 ông Trung Phát Xít
mất đi cơ hội thống trị trên vùng biển
địa Trung Hải.
Ở mặt trận Thái Bình Dương,
cũng trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết
khi Nhật Bản đã bắt đầu cuộc chiến với 10 chiếc tàu sân bay
trở thành hạm đội lớn nhất
và hiện đại nhất trên thế giới lúc bây giờ.
Còn Mỹ có 7 chiếc
cho dù chỉ có 3 trong số chúng
hoạt động ở Thái Bình Dương.
Và cuộc tấn công bất ngờ của Nhật Bản
nhằm vào căn cứ hải quân của Hoa Kỳ
tại Trần Châu Cản vào ngày 7-12-1941
là một minh chứng rõ ràng
cho thấy sức mạnh áp đảo
khi nắm trong tay một lực lượng lớn
những tàu sân bay hiện đại.
Nhật Bản đã trở thành quốc gia duy nhất
làm nên lịch sử hải quân
mà không một nước nào có thể so sánh được.
Tuy nhiên,
sau khi đánh đắm 4 tàu sân bay của Nhật
trong trận hải chiến Midway tháng 6-1942,
Hoa Kỳ đã chế tạo được
số lượng lớn máy bay trang bị
trên hạm đội hỗn hợp
gồm nhiều loại tàu như tàu sân bay hạng nhẹ,
tàu sân bay hộ tống
và quan trọng nhất là lớp tàu S-6
mới được đưa vào sử dụng
năm 1943.
Những chiếc tàu sân bay này đóng một vài trò quan trọng
trong chiến thắng của Mỹ
ở mặt trận Thái Bình Dương.
Nhưng đừng nghĩ thế là dọa được người Nhật.
Họ thậm chí còn cho ra đời
chiếc tàu sân bay lớn nhất thế giới
ở thời điểm đó, mang tên Shinano.
Nó được quảng cáo là tự tin sống sót
trước tất cả các loại bom ngư lôi
khi sàn đáp được thiết kế với 17.700 tấn thép,
đủ để chịu đựng
một quả bom nặng tới 450 kg.
Vậy mà chỉ 10 ngày sau khi hạ thủy,
tàu sân bay Shinano đã bị chiếc tàu ngầm
USS Archerfish của Mỹ
đánh đắm bằng 4 quảng ngư lôi.
Con tàu chiêm vào trước
ngày 29 tháng 11 năm 1944
mang theo sinh mạng của 1.400 người
trong tổng số 2.500 thủ đoàn.
Trước Thế chiến thứ 2,
các hiệp bước hải quân quốc tế
đã giới hạn kích thước của các tàu sân bay.
Nhưng kể từ sau cuộc chiến này,
các tàu sân bay đã tăng kích thước
song song với sự gia tăng kích thước của máy bay.
Lớp tàu sân bay lớn và hiện đại
của hải quân Hoa Kỳ là Nimitz
có lượng rẽ nước gấp gần 4 lần
so với tàu sân bay USS Enterprise
thời Thế chiến thứ 2.
Nhưng số lượng máy bay của nó gần như giống nhau.
Các bạn chú ý lên màn hình,
sau đây là một số thay đổi đặc biệt
trong thiết kế tàu sân bay
đã được thực hiện sau năm 1945.
Thứ nhất là đường băng chéo góc
được phát minh bởi người Anh vào thật nghiêm 1940.
Lúc này, đường băng được đặt chéo
vài độ so với chục cân tàu.
Trong trường hợp máy bay
không móc được cáp giảm tốc,
thì phi công chỉ cần tăng sức động cơ lên tối đa
rồi cất cánh lại,
thì sẽ không đâm vào các máy bay đạ đô
bởi vì đường băng chéo góc hướng ra ngoài biển.
Thứ 2 là sự có mặt
của hệ thống phóng thủy lực hiện đại
được cung cấp sức mạnh thủy lực
từ các nồi hơi hay các lò phản ứng.
Nó đã được đưa vào ứng dụng rộng rãi
khi cho thấy sức mạnh lớn hơn
và độ tin cậy cao hơn
những hệ thống phóng dùng khí nén
từng được đưa vào sử dụng từ thầm niên 1930.
Thứ 3 là việc
Hải quân Hoa Kỳ mang vũ khí hạt nhân trên biển
theo cách khác
bằng cách chế tạo các tàu sân bay có trang bị
các lò phản ứng hạt nhận.
Chiếc USS Enterprise CVN-65
là chiếc tàu sân bay đầu tiên
được cung cấp năng lượng theo kiểu này
và công nghệ đó sẽ cho phép chúng hoạt động lâu dài trên biển.
Có duy nhất một quốc gia
theo góc Hoa Kỳ là Pháp
với chiếc Charles de Gaulle.
Hiện tại thì chỉ các tàu sân bay
dùng năng lượng hạt nhân là có các nồi hơi
như một phần trong hệ thống chuyển động.
Còn đa phần các tàu sân bay hiện nay
được trang bị thiết bị phát hơi
chỉ dùng để cung cấp năng lượng cho các máy phóng.
Hệ thống máy phóng có yêu điểm
là giúp tăng thêm tài trọng vũ khí
cho máy bay khí cất cánh
nhưng nó tạo ra massage lớn
dẫn đến giảm tuổi thọ của máy bay
và cần phải bảo trì thường xuyên.
Ngoài ra máy phóng cần nạp lại năng lượng
nên cũng làm hạn chế
tốc độ phóng máy bay.
Vì thế mà các tàu sân bay của Mỹ
là những tàu thích hợp
với khí hậu ấm
nên họ cố gắng hạn chế tối đa
việc phải tác chiến ở các vùng biển gần Bắc và Nam Cực.
Đồng thời chúng cũng dễ bị ảnh hưởng
bởi khu vực có sóng mạnh
và cực kỳ kỹ các nơi có ro lớn
vì các máy bay rất khó để cất hạ cánh.
Trong khi đó
tàu sân bay của Liên Xô và Nga
thì được thiết kế theo một thứ khác
chúng được chuyên biệt cho các vùng biển lạnh
và có sóng to ở Bắc Cực
do vậy tàu sân bay Nga không có các máy phóng
mà sử dụng kiểu cầu nhảy.
Do tàu thường xuyên phải hoạt động
ở vùng Bắc Băng Dương có khí hậu lạnh
nên hệ thống máy phóng bằng hơi nước
không thể hoạt động ở vùng này.
Ngoài ra việc cất cánh bằng cầu nhảy
tùy làm hạn chế tại trọng vũ khí cất cánh
nhưng sẽ giúp máy bay xuất kích nhanh hơn
khi không cần chờ máy phóng
nạp lại áp suất hơi nước.
Nhưng nói gì thì nói
chúng được coi là dễ bị tấn công bởi các tàu khác
máy bay, tàu ngầm
hoặc tên lửa của địch.
Do đó một tàu sân bay
thường được đi cùng với nhiều tàu hộ tống
để bảo vệ và đáp trả lại
các cuộc tấn công.
Nhóm tàu này thường được coi là nhóm tàu sân bay
nhóm tác chiến tàu sân bay
hoặc nhóm tấn công tàu sân bay.
Hiện nay
Hoa Kỳ là nước có nhiều tàu sân bay nhất thế giới
với 11 chiếc đang hoạt động
và chi phí để duy trì chúng
chắc chắn là không hề rẻ.
Nhưng đừng ai lo lắng
bởi vì đây là cách chơi của nền kinh tế lớn nhất thế giới
19.000 tỷ đô
Vừa rồi
là những sơ lược về hành trình phát triển
của tàu sân bay.
Các bạn có nhận định gì về chúng? Hãy chia sẻ ngay
về kiến thức quân sự và cách để lại bình luận
phía bên dưới video. Đừng quên nhấn nút đăng ký
và trường thông báo. Còn bây giờ
Việt Cương xin chào và chúc các bạn
có một buổi trưa vui vẻ.
