Hành Trình 8 Thập Kỷ Phát Triển Các Thế Hệ Tiêm Kích: Những Cuộc Rượt Đuổi Chết Chóc Trên Bầu Trời
Tháng 4/1944, Trùm phát xít Adolf Hitler đã chính thức đưa chiến đấu cơ phản lực đầu tiên trên thế giới Messerschmitt Me 262 vào biên chế. Nó không chỉ trở thành cơn ác mộng đối với máy bay của quân Đồng minh trong suốt Đại chiến Thế giới lần II thứ mà Me 262 còn là cái tên đầu tiên mở ra kỷ nguyên của tiêm kích phản lực - Thứ khiến cho những cuộc giao chiến trên không trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết. 80 năm kể từ khi chiếc chiến đấu cơ đúng nghĩa đầu tiên ra đời, các thế hệ tiêm kích đã có những cú chuyển mình mạnh mẽ ra sao? ----------------------------- ▶ ‘CDTeam - Kiến Thức Quân Sự’ là Kênh cung cấp cho các bạn những tri thức, hiểu biết chung về tình hình quân sự, chính trị trên thế giới. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ email: [email protected]
Tháng 4 năm 1944,
Trung phát sĩ Adolf Hitler đã chính thức đưa chiến đấu cơ phản lực đầu tiên trên thế giới,
Messerschmitt Me 262 vào biệt chế.
Nó không chỉ trở thành cơn ác mộng đối với máy bay của quân đồng minh
trong suốt đại chiến thế giới lần thứ hai,
mà Me 262 còn là cái tên đầu tiên mở ra kỷ nguyên của tiếm kích phản lực,
thứ khiến cho những cuộc giao chế trên không trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết.
80 năm kể từ khi chiếc chiến đấu cơ đúng nghĩa đầu tiên ra đời,
các thế hệ tiêm kích đã có những cú chuyển mình mạnh mẽ da dao.
Đừng dây mắt khỏi màn hình,
bởi vì hành trình tiến hóa ngoại ngục này sẽ được kiến thức quân sự giải mã trong video ngày hôm nay.
Từ tiêm kích đã không trở thành thuật ngữ tiếng Anh chính thức cho máy bay chiến đấu một chỗ,
cho đến khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra.
Ở Anh, những máy bay một chỗ như vậy vẫn tiếp tục được gọi là do thám vào đầu những năm 1920.
Còn trong tiếng Pháp, Ý, Đức và Bồ Đào Nha,
thì thuật ngữ tiêm kích có nghĩa đen là người đi săn.
Trong khi ở Nga, máy bay tiêm kích còn được gọi là người hủy diệt.
Nhưng cho dù dưới bất cứ tên gọi nào đi chẳng nữa,
thì chiến đấu cơ cũng đã được phát triển nhằm đối phó với việc các quốc gia bước đầu sử dụng máy bay
và khinh khí cầu tham chiến trong Thế triển thứ nhất,
với vai trò trinh sát và tấn công mạt đất.
Ban đầu, nó chỉ là loại máy bay chiến đấu 2 chỗ ngồi,
làm bằng gỗ, động cơ cánh quạt, cọc cánh đôi
và chỉ mang được một súng máy để làm vũ khí.
Người ta cũng tìm cách để tăng hiệu suất làm việc của chúng.
Tuy nhiên, việc phát triển máy bay tiêm kích đã chậm lại trong giai đoạn giữa 2 cuộc đại chiến thế giới.
Thay đổi quan trọng nhất đã xuất hiện vào cuối thời kỳ này,
khi loại máy bay cổ điển 2 tầng cánh trong Đệ nhất Thế triển
được thay thế bằng máy bay 1 tầng cánh,
thần khùng thép liên khối hoặc bán liên khối
nhằm thay thế cho chất liệu vải và gỗ.
Và cuối như năm 1930, người ta còn trang bị cho chúng cả vũ khí hạng nặng.
Nhưng điều này không xuất hiện trên các máy bay chiến đấu quân sự,
mà lại diễn ra đối với những máy bay thể thao dân sự.
Những chiếc máy bay được thiết kế cho mục đích thể thao ấy
đã mở đường cho các sáng kiến về hình dáng khí động học tô thường.
Động cơ mạnh mẽ hơn là những thứ được tìm thấy
ở thế hệ máy bay tiêm kích đầu tiên được chế tạo trong Đại chiến thế giới lần thứ 2.
Máy bay chiến đấu thể thứ nhất được phát triển từ năm 1942 đến 1950
là đại diện cho những nỗ lực đầu tiên trong việc sử dụng động cơ phản lực một dòng khí.
Loại động cơ này cung cấp một tốc độ rất lớn,
khiến cho những chiến binh đầu tiên có khả năng bay ở tốc độ cận âm,
tức là dưới 1.230 km trên giờ.
Đây cũng chính là nét nổi bật giúp nó chiếm ưu thế tốc độ vượt trội
so với mọi loại máy bay dùng động cơ piston cánh vào khi đó.
Tuy nhiên do giới hạn công nghệ ở thời kỳ phát triển đầu tiên,
nên chúng chỉ có thể đạt tốc độ tối đa ở ngưỡng cận âm,
vẫn chưa thể vượt qua bức tường âm thanh.
Tiêm kích phản lực đầu tiên trên thế giới là móng Messerschmitt Me 262,
do Đức Quốc xã chế tạo,
bay thử lần đầu vào ngày 18 tháng 7 năm 1942.
Đây được coi là thời điểm mở đầu cho kỷ nguyên của tiêm kích phản lực.
Có khoảng 1.430 chiếc Me 262 được các kỹ sư phát sĩ Đức sản xuất,
nhưng chúng không thay đổi được kết cục Thế triển thứ 2.
Tiêm kích thệ thứ nhất cũng ứng dụng nhiều phát minh mới,
điển hình là ghế phóng thoát hiểm, phanh gió, chế độ đốt tăng lực,
radar bám bắt chuyên dụng,
một số phiên bản sơ khai của tiếng lửa đối không sử dụng đầu do hông ngoạn
và dẫn đường bằng radar.
Dù Me 262 của phát sĩ Đức đã mở đầu cho kỷ nguyên phản lực,
nhưng chính những chiếc MiG-15 Liên Xô và F-86 Sabre của Mỹ
mới khẳng định vị thế của loại tiêm kích này so với các máy bay cánh quạt.
Thật vậy, những trận không chiến ác liệt trên bầu trời Triều Tiên
trong giai đoạn 1950-1953
đã đặt dấu chấm hết cho máy bay cánh quạt,
khi bộ đôi MiG-15 và F-86 đối đầu với nhau
trong cuộc không chiến phản lực đầu tiên trên thế giới.
Mặc dù vậy, ở giai đoạn đầu của kỷ nguyên phản lực,
các loại tiêm kích thể thứ nhất không thể tránh khỏi những nhiệt điểm nghiêm trọng
như động cơ kém ổn định và vòng đời hoạt động ngắn,
khả năng điều chỉnh công suất chậm,
giá tốc kém, không vượt trội quá nhiều so với máy bay cánh quạt.
Tuy nhiên, chúng lại chính là tiền đề cho những chiếc tiêm kích hiện đại thế hệ 2 sau này.
Sự phát triển như vũ bão của công nghệ từ thâm niên 1950
cùng với những kinh nghiệm thực chiến rút ra từ chiến tranh Triều Tiên
đã giúp các kỹ sư khắc phục các nhiệt điểm mà tôi vừa nói ở trên.
Để giai đoạn 1950-1960 cho ra đời các loại tiêm kích thế hệ thứ 2
có khả năng cơ động vượt trội, năng lực chiến đấu độc lập và vũ khí được tăng tầm.
Những điểm khác biệt để các bạn dễ dàng phân biệt chúng với thế hệ đầu tiên
đó chính là ở khả năng phá vỡ bức tường âm thanh,
tức là tốc độ bay đã được nâng lên trên 1240 km trên giờ.
Bắt đầu được trang bị radar đối không, sử dụng tên lửa đối không làm vũ khí chính.
Công nghệ điện tử tiên tiến thời đó đã tạo ra radar có kích thức đùi nhỏ
để tích hợp lên tiêm kích, cho phép phi công xác định mục tiêu từ xa,
giảm sự phụ thuộc vào hệ thống radar và dẫn được mặt đất.
Đối với tiêm kích thế hệ thứ 2 thì pháo hoàng không đã trở nên lỗi thời
và bị thay thế bởi vũ khí chủ đạo là tên lửa không đối không.
Tên lửa dùng đầu do hồng ngoại vào giai đoạn này trở nên rất phổ biến,
quốc gia nào cũng đâm đầu vào sản xuất,
nhưng không phải ai cũng thành công trong việc nâng tầm loại vũ khí này.
Chúng vẫn còn rất thô sơ và kém hiệu quả.
Theo đánh giá của kính thức quân sự thì 2 dòng tên lửa đổi bật nhất khi ấy
là IM-9 Sidewinder của Mỹ và Vimpel K-13 do Liên Xô chế tạo.
Công nghệ tên lửa hứa hẹn mở ra hướng phát triển mới
khi có thể tập trung vào chiến đấu ngoài tầm nhìn thị giác.
Tuy nhiên, viễn cảnh về thị trường thứ 3
với sự tham gia của lực lượng cơ giới và vũ khí hạt nhân
dẫn tới 2 hướng đi khác nhau cho tiêm kích thị thứ 2.
Đầu tiên là dòng tiêm kích thuần đánh chặn
Electric Lightning của Anh hay MiG-21F của Liên Xô.
Chúng có nhiệm vụ phản ứng nhanh, có thể cất cánh trong thời gian ngắn
để đánh chặn những phi đội bành tạc cơ mang vũ khí hạt nhân của đối phương.
Cả 2 đều trang bị vũ khí chính là tên lửa
giúp tiêu diệt nhiều mục tiêu hơn là pháo hàng không.
Hướng đi thứ 2 là tiêm kích bom.
Điển hình là mẫu F-105 Thunder Chef của Mỹ
và Su-7B do Liên Xô sản xuất.
Loại máy bay này có khả năng bay thấp với tốc độ cao
nhằm thực hiện các đòn không kích mạnh vào lực lượng mặt đất của đối phương.
Chúng cũng có thể đối đầu với tiêm kích mà không cần lực lượng hộ tống của họ.
Vậy là mỗi quốc gia đều có hướng đi cho riêng mình
và tiêm kích thị thứ 3 trong giai đoạn 1960-1975
vẫn tiếp tục hoàn thiện những sáng kiến từ thế hệ trước đó
nhưng chủ yếu tập trung vào việc tăng khả năng cơ động và tấn công mặt đất.
Thật vậy, những trận đánh ngoài tầm nhìn thị giác rất hiếm khi xảy ra.
Hầu hết đều kéo hai bên vào những cuộc không chiến tầm gần quyết liệt
nơi mà khả năng cơ động của máy bay và trình độ phi công sẽ chiến thắng.
Những cầu súng một lần nữa lại trở thành một tiêu chuẩn
và tính cơ động một lần nữa lại được ưu tiên.
Điều này buộc các chiến lược gia phải tính toán lại các biện pháp tác chiến
trong đó bổ sung phá hoàng không lên các tiêm kích vốn chỉ được trang bị tên lượt
đồng thời tăng cường huấn luyện về sự linh hoạt trong không chiến tầm gần.
Một trong những giải pháp được ứng dụng để tăng khả năng cơ động
trong khi vẫn đảm bảo tốc độ cao và tiết kiệm nhiên liệu
chính là thiết kế cánh cụp, cánh xòe.
Điển hình cho xu hướng này là tiêm kích MiG-23 và tiêm kích bom Su-17 của Liên Xô.
Đôi cánh sẽ mở rộng hết cỡ để tăng lực nâng khi cất cánh và giảm tốc độ hạ cánh.
Trong không chiến, cánh sẽ cụp hoặc xòe vừa phải để đảm bảo khả năng điều khiển
hoặc giảm tối đa lực cản để đột kích và thoát ly.
Hệ thống điện tử tương tự analog bắt đầu xuất hiện
và thay thế dần cho đồng hồ cơ học trên các tiêm kích thể cũ.
Điều này trực tiếp ảnh hưởng tới khả năng chiến đấu và điều khiển vũ khí,
cho phép tiêm kích bay bám địa hình một cách an toàn
cũng như sử dụng được nhiều vũ khí đối đất có độ chính xác cao như bom laser.
Thật sự là khi nghe đến đây, tôi cũng phải ngả mũ thán phục
những bộ óc thiên tài của các kỹ sư chế tạo máy bay.
Họ phải chạy hết năng suất để vừa theo kịp những thay đổi của chiến trường,
vừa phải nắm bắt được xu hướng tác chiến trong tương lai.
Người ta sẽ đối đầu nhau trên không, theo cách nào và bằng cái gì.
Máy bay được xếp hạng là chiến đầu cơ thể thứ 4
là những chiếc được đưa và sử dụng trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1990.
Khi đó, đã có vô số cải tiến về mặt thiết kế và động cơ,
cho phép máy bay cơ động tốt hơn nhiều và đa năng hơn so với các thế hệ trước.
Nhưng điều này khiến tiêm kích khó điều khiển hơn,
buộc các nhà thiết kế phải dựa vào hệ thống điều khiển điện tử fly-by-wire.
Các hệ thống analog cũng dần được thay thế bằng máy tính kỹ thuật số vào cuối thâm niên 1980.
Thời kỳ này chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của tiêm kích Liên Xô vào phương Tây,
trong khi Mỹ sở hữu bộ đôi trụ lực F-15 Eagle và F-16 Fighting Falcon.
Liên Xô lại tung ra quân bài Su-27 và MiG-29.
Các nước châu Âu cũng không hề kém cạnh với sự xuất hiện của dòng
và ZAS-39 Gripen.
Sau khi Liên Xô tan giá, Trung Quốc cũng nổi lên với việc sao chép tiêm kích Su-27 của Nga để tạo ra mẫu dây 11,
cũng như dòng tiêm kích hạng nhẹ dây 10 dựa trên thiết kế Levy của Israel.
Những cuộc không chiến tầm gần cũng nguy hiểm hơn rất nhiều khi các loại tiên lửa tầm gần có độ lệch trục cao,
có khả năng bắn trúng mục tiêu nằm lệch 45-60 độ so với hướng bay của tiêm kích.
Liên Xô đi đầu với công nghệ kinh ngắm trên mũ cho phép phi công khóa mục tiêu theo hướng nhìn phi công,
ngay cả khi mỗi máy bay đang chia về hướng khác.
Sự phát triển nhanh chóng về tính năng tiêm kích trong thập niên 1990-2000
khiến nhiều nước đưa ra khái niệm tiêm kích thể thứ 4,5 hoặc 4 cộng và 4,2 cộng.
Thế hệ nửa trừng này phản ánh sự đột phá về tổng điện tử, vũ khí,
cũng như là khả năng cơ động cao hơn nhờ động cơ lực đẩy vector.
Nhưng chính nó cũng biểu hiện sự chi trệ của các cải tiến khí động học vốn bùng nổ ở thế hệ thứ 3.
Mỹ định nghĩa tiêm kích thể 4,5 là những máy bay chiến đấu phản lực thế hệ 4
được trang bị radar mảng pha quét điện tử chủ động, kết nối dữ liệu bằng thông lớn,
hệ thống điện tử cải tiến, có khả năng triển khai nhiều vũ khí hiện tại và tương lai gần.
Điển hình cho tiêm kích thể 4,5 là mẫu F-15E Strike Eagle, F-16EF và F-A-18EF Super Hornet.
Nhưng cuối cùng các kỹ sư cũng thoát khỏi kiểu nửa vời
nhờ sự xuất hiện của chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 vào những năm 2000.
Đây là các thế hệ máy bay hiện đại nhất hiện nay, dù vẫn đang trong giai đoạn phát triển và đăng cấp,
nhưng chúng được kỳ vọng sẽ là những con nát chủ bài mang trong mình các tính năng vô cùng ưu việt.
Thứ nhất là hệ thống phễu phụt phản lực đa hướng,
cho phép máy bay có lực nâng phản lực với độ cơ động cực cao.
Hiện nay đang có các mẫu máy bay F-22 Raptor của Hoa Kỳ,
Sukhoi Su-27 và các đời Sukhoi mới nhất của Nga
và Aerofighter Typhoon của châu Âu đáp ứng được yêu kiếu này.
Trong đó dòng máy bay Sukhoi đáp ứng tốt nhất.
Tiếp theo là công nghệ tăng hình chống radar
và giảm thiểu đến mức tối đa các trường vật lý của máy bay
đã cho phép nó vô hình trước con mắt của đối phương.
Không những thế, hệ thống điều khiển giờ đây đã hoàn toàn tự động
với thông tin tương tác đầu ra đầu vào trực tiếp trên kính phi công,
tự động tổng hợp các thông tin chiến đấu,
có khả năng bỏ qua các hành động sai sót của phi công khi thảo tác bạch.
Tất cả những tính năng này đã cho phép nó thực hiện được nhiều chức năng chiến đấu.
Thậm chí là hệ thống radar hỏa lực vòng tròn
có thể giúp tiêm kích cảnh giới nhìn và bắn về phía sau,
hiệu quả ngang bằng như lúc khai hỏa về phía trước và có thể tác chiến vòng tròn.
Hiện chỉ có tiêm kích F-22 của Mỹ là mẫu tiêm kích tăng hình thệ thứ 5 duy nhất
đang trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu, kể từ khi được biên chế vào năm 2005.
Các quốc gia khác trên thế giới cũng dốc sức trong cuộc đua này.
Đấy là hiện tại.
Còn khi thế giới bước vào thời kỳ 2030,
thì rất có thể chúng ta sẽ được chứng kiến sự ra đẩy ngoạn mục
của thứ được gọi là tiêm kích thế hệ thứ 6.
Đây là khái niệm được đưa ra nhằm mô tả các máy bay chiến đấu vượt trội hơn tiêm kích thể thứ 5 ngày nay.
Quân đội Mỹ dự kiến bay thử chiến đấu cơ thể thứ 6 đầu tiên trong thời kỳ 2030.
Các nước như Anh, Đức và Nhật cũng đang nghiên cứu phương hành này.
Tính năng dù vẫn chưa được định hình chính xác,
nhưng chúng được cho là có tầm hoạt động và tài trọng vũ khí lớn hơn nhiều so với thể thứ 5.
Trí thông minh nhân tạo có thể sẽ đóng vai trò quan trọng,
bao gồm thu thập và phân tích dữ liệu để giảm tài cho phi công.
Khả năng điều khiển từ xa cũng là một lựa chọn cho phép máy bay thực hiện nhiệm vụ mà không cần người lái,
hạn chế yếu tố cản trở như sức khỏe và giới hạn chịu đựng của con người.
Ở các chiến đấu cơ 2 chỗ ngồi thể thứ 4 và 4.5,
thì phi công ngồi sau thường có trách nhiệm điều khiển hệ thống cảm biến và tác chế điện tử.
Nhưng với tiêm kích thể thứ 6, họ có thể nhường công việc này cho trí tuệ nhân tạo
để tập trung vào việc kiểm soát các 7 máy bay không người lái cỡ nhỏ thực hiện các nhiệm vụ đa dạng trên chiến trường.
Như vậy, máy bay chiến đấu đã có những phát triển vượt bậc sau 8 thập kỷ,
kể từ khi chiếc tiêm kích thế hệ đầu tiên ra đời.
Và giờ đây, không một ai có thể phủ nhận vai trò của chúng trong các cuộc không chiến cả tầm xa lẫn tầm gần.
Các bạn có nhận định gì về thế hệ chiến đấu cơ hiện nay?
Và sự xuất hiện của tiêm kích thể thứ 6 có thật sự cần thiết như ta vẫn tưởng hay không?
Hãy chia sẻ ý kiến của mình xuống phía bên dưới để cùng bàn luận với mọi người.
Đừng quên nhấn nút đăng ký và chuông thông báo để đón xem những video mới nhất từ Kiến thức Quân sự.
Còn bây giờ thêm 2 đáy kíp, mình cứ xin chào và chúc các bạn có một ngày tuyệt vời!