Tản Mạn Mê Kông, Đến Và Ở Lại | TẬP 5: An Giang - Nơi lưu dấu tiền nhân

Ẩm Thực Việt Nam
510 người theo dõi
#RiviuBinhDuong
#ToiYeuBinhDuong
#dacsanviet
#BietOn
#VietNamOi
#vuitetcotruyen
#dacsanmientay
#mientayquetoi
Những con đường mà sông đi qua, những miền đất mà sông đã gặp, đời người, đời sông, yêu thương và hào sản, trân trọng và biết ơn.
Đức An Giang phù sa màu mỡ, người An Giang nguồn thuở hiền lành, làm miệt đầu nguồn được ôm trọn cả hai con sông mẹ.
An Giang, màng vẽ đẹp của một vùng quê sông nước nầy chung dị, mộc mạc.
Xui theo hai dòng nước, chúng tôi đã được trải nghiệm, đi chạm vào những giá trị của vùng đất Biên Thùy và những Cù Lao nằm giữa cả hai con sông.
Chúng tôi đã được đặt chân lên ba trong số bốn nguyện thị Cù Lao nằm giữa sông Tiền và sông Hổ, An Phú, Tân Châu, Phú Tân.
Chúng tôi tiếp tục qua phà Thuận Giang trên sông Phạm Nào để tìm hiểu về mảnh đất Cù Lao thứ tư nằm giữa hai con sông huyền thoại.
Mảnh đất lưu dấu tiện dân thời khai khoang mở cỏi.
Phà Việt Nam, cả sông Tiền và sông Hổ đều tự theo đuổi hành trình riêng của mình.
Mỗi nhánh sông tự tìm lối riêng chứa dòng nước.
Trên dạng tường trông rủi, nếu gặp phải vùng đất cứng, khó soi phá, có khi sông ngoặt sang hướng khác.
Cũng có khi sông rẽ thành hai dòng, chảy gặp theo hai bên để rồi sau đó nhập lại.
Vùng đất ấy trở thành những bãi bùi Cù Lao.
Để rồi từ đó, những lớp vù sa cứ cần vẫn đất bùi cho nơi này đồng bãi tốt tươi, nét xanh bờ rau, trùn lúa.
Bà Phèn Quà nói với nhiều, Cù Lao ông trưởng có nhiều cá tôm.
Đó là câu chuyện của đất Cù Lao ông trưởng từ nhiều năm trước.
Thiên nhiên hào phóng ban tặng con người, mua sản vật phong phú.
Tuy nhiên, trước sự tận diệt của con người, sự hào phóng nào cũng có giới hạn.
Cá tôm dần vắng trên sông.
Giữa những dòng trăn trở đau đấu với nỗi đau của thiên nhiên, thời cuộc.
Dọc theo chuyến thủy trình, chúng tôi cảm thấy may mắn vì gặp được những con người rất đặc biệt.
Bến cá này nằm ngay cửa sông Phòng Nào, nhìn ra sông Tiền.
Bên bờ Kiến An, huyện chợ mới.
Chúng tôi gọi là bến cá.
Vì với chúng tôi, từ bến không chỉ là nơi niêu đậu, có là điểm dừng, trạm đầu và trạm cuối của một hành trình.
Là nơi bao hạm cả sự bình yên, an toàn và có thể nương tựa.
Như cái cách mà đàn cá thiên nhiên nơi đây mới bến sông này từ 4 năm trước.
Từ khi lão nông Nguyễn Văn Úc đã quyết định cư mang đàn cá thiên nhiên, xem chúng như những đứa con cưng của mình.
Bây giờ, tại gio đất này, đàn cá cứ kéo nhau tìm về như một nơi trú ngủ an toàn và yêu thương nhất.
Mặc cho ngoài kia ngay dòng nước sau lưng, người ta vẫn đang khát khoải về việc nguồn cá thiên nhiên này càng càng kiệt.
Đau đấu về chuyện tan điền, biến vi, thương hại.
Đàn con của ông đông đến mức chỉ có thể tính bằng tấn với hàng chục loại.
Từ cá tra, cá trê, cá lóc, cá he, cá rô.
Đến giờ ăn, cá chen chút nhau rộng ràng cả một khoảng sông.
Đó là chưa kể những loại cá khủng như chim trắng ước tính trên 15 kg, các loại cá dài trên 1 mét.
Đủ loại cá hết. Hình như mà sông có cái gì là là vô hết.
Cá dài nó trắng, đẹp lắm.
Con từ 80 kg tới mười mấy kg.
Rất nhiều người cho rằng ông Úc là người gàn dở, là người làm chuyện bao đồng,
khi bỏ thời gian, tiền bạc và sức khỏe chỉ vì những chú cá từ khắp nơi tìm về.
Ông vẫn cười hề hề cho qua, vẫn cầm cụi chở hàng chục tấn thức ăn mỗi ngày,
vẫn bỏ hàng chục triệu đồng làm kè bảo vệ, mua món này, sắm món kia, phục vụ quá trình cam sóc cá.
Mình thấy người ta sát hại sinh vật, tìm thương.
Giờ mình muốn bảo trì cho nó để nó sống ở đây, sống đến ngày nào được.
Đã vừa nãy, chú nguyên hết cuộc đời này, chú lo cho toàn cá.
Nếu mà sau này chú có lỡ, theo Phật thì con cháu nó làm tiếp được là
Ở miền sông nước này, những câu chuyện chỉ hiệp mang đậm những giá trị chân văn như thế cũng không phải là hiếm.
Người ta nói đi dọc theo sông Tiền, sông Hậu hay sông Phạm Đao vẫn có thể thỉnh thoảng bắt gặp những bến cá như thế này.
Những con người bằng chút sức lực nhỏ nho của mình muốn chan tay ôm lấy cá tôm, xoa chịu nỗi đau của thiên nhiên.
Phải chăng, đó cũng là một cách mà họ muốn trả nợ cho đời, cho sông.
Phải chăng, vẻ đẹp miền Tây Nam Bộ không chỉ nằm ở cảnh quan hùng vĩ của sông nước
mà còn được tạc niên bởi tinh thần và cuộc sống của con người đây đây.
Như cách mà người dân Cù Lao này sống trọn vẹn, tự hào về mảnh đức yêu thương của mình.
Trước thế kỷ 18, nơi đây được gọi bằng nhiều tên khác nhau
như Cù Lao Cây Sao, Cây Sao, Châu Sao Mộc hay Cù Lao Tuyên Mộc.
Tuyên truyền tháng 4 năm canh thịnh, 1.700, dịp loạn nặt thu sông.
Khi thuyền quân xuôi dòng cửu lông đi vào rạch Ngư On Rà, Nguyễn Hữu Cảnh đã dừng chân tại Cù Lao Tuyên Mộc để nghỉ ngơi.
Nơi này, ông đã chủ động thăm hỏi về cuộc sống của người dân,
động viên họ khai phá, định cư, lập lạc, tiến tới xác lập chủ quyền lãnh thổ.
Một thời gian sau, ông mất.
Để tự nhớ công đức của trưởng cơ lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh,
cư dân vùng Cù Lao Tuyên Mộc đã tự đổi tên mảnh đức này thành Cù Lao Ông Trưởng,
tức gọi theo chức trưởng cơ của ông.
Rạch Ngư On Rà cũng được người dân đổi thành Rạch Ông Trưởng.
Có một điều đặc biệt, An Giang là một trong những nơi có nhiều đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh nhất trong cả nước,
trong đó kể đến là huyện chợ mới.
Hiện nay, tên và chức tước của ông cũng được đặt cho nhiều công trình địa danh trên địa bàn huyện.
Đây là cầu Ông Trưởng, được phát ngang Rạch Ông Trưởng, nối đuôi bờ thị trấn chợ mới Yên An.
Cây cầu này nằm trên con đường huyết mạch, cũng được mang tên Nguyễn Hữu Cảnh.
Trên con đường này còn có sự toa lạc của trường trung học phổ thông Nguyễn Hữu Cảnh,
có phần quan trọng làm nên diện bào rất riêng ở miền đất lịch sử này.
Chúng tôi đang đi dọc theo Rạch Ông Trưởng, con rạch có cái tên ban dấu vết của lễ thành hầu.
Trên con rạch này có đến 6 đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh dọc theo con nước,
2 trong số đó đã được xếp hàng di tích văn hóa quốc gia.
Dường như yếu tố sông nước nơi này không đơn thuần chỉ là môi trường sống,
mà còn là cơ sở tình hình bản sắc văn hóa của nơi đây,
có phần lưu giữ nhiều di tích văn hóa liên quan đến lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh.
Cũng trên con rạch Ông Trưởng, chúng tôi lại tiếp tục chạm vào 1 cây nồi tính ngũn,
Chùa Tây An, nơi đức Phật Thầy Tây An, Đoàn Minh Huyên, 2 đạo Bụ Sơn Kỳ Hương.
Đây là 1 tôn giáo bản địa, sáng sinh ra 2 tôn giáo hậu thân là Tứ Ấn Hiểu Nghĩa và Phật Giáo Hòa Hảo,
có phần hình thành văn hóa, tính cách của con người miền Tây Nam Mộ.
Trên chuyến thủy trình, chúng tôi thường xuyên bắt gặp các cơ sở tôn giáo,
thờ tượng như những đất chấm phá dọc theo những dòng sông.
Không phải sông sinh ra tôn giáo, mà là con người, những thực thể quan trọng và rắn bó với sông.
Họ đã mang tôn giáo đến sống cùng sông.
Rạch Ông Trưởng nhiều chiếc sư sống, uống mình, len lõi vào từng thớ đất,
mang dòng nước ngọt vào các kinh rạch nhỏ trên mạnh đất của lao đầy.
Và cũng từ đây, các sản phẩm từ những làng nghệ thủ công ven sông
cũng theo con nước của Rạch Ông Trưởng ngược ra sông Tiền, đi muôn phương từ hơn trăm năm trước.
Cái tranh kiến hồi xưa ở đây là đi bán, toàn đi bán bằng ghe thôi.
Cho nên là nếu mình sản xuất tranh thì mình phải những cái nơi mà cái đường thủy nó thận tiện.
Cái yêu cầu là phải làm sao gặn bờ sông, để khi cái tranh sản xuất xong
người ta chỉ trách tranh xuống ghe rồi người ta mang đi bán khắp nơi.
Từ bao đời, nhắc đến chợ mới người ta lại nhớ đến nghề làm tranh kiến, là nghề hơn trăm tuổi.
Cái độc đáo của vẽ tranh trên kiến là phải vẽ ngược.
Tranh được vẽ từ phía sau mặt kiến, chi tiết nào cần vẽ sau cùng sẽ phải vẽ đầu tiên.
Sau khi vẽ xong, tấm kiến được ngực lại, bức tranh hoàn thiện đã hình thành
với đủ màu sắc thể loại núi non, rong phụng hoặc cảnh làng quê, đất phận.
Cái tranh thời kể như nó ước lại là toàn ai cũng làm mẫu đó hết.
Nhưng mà cái tranh mà treo tường này thì tôi suy nghĩ rồi tôi làm, tôi vẽ mẫu rồi tôi làm.
Ba ngày vẽ năm bộ, hôm nay ba ngày vẽ năm bộ như vậy thì người ta đặt ghe người ta lại
người ta đưa tiền trước mình mà mình không có đủ khả năng để mình giao.
Ông này ổng canh kê rồi thì cái người sơn ra rồi ráp khuôn mới giao cho lái.
Lái là mấy người đi ghe mà người ta đi bắt.
Rồi lúc đó ai cũng đòi tranh của giáo quan, vì anh quan là giáo viên.
Theo rạch ông trưởng, Cành Kiến xuôi ngược trên sông Tiền để đến với những vụ đất khác nhau
ở khắp miệng Cửu Long, được người dân ở khắp nơi ưu chuộng.
Khoảng năm 2000 đến 2008, thời gian đó là nếu mà nói ở đây là cũng nhiều lắm.
Cũng cả hàng mấy trăm hộ.
Nó được một cái là ở đây là khu tập trung sản xuất gỗ cũng nhiều.
Cái gỗ nó cũng là một trong những điều kiện để mà tạo điều kiện thuận lợi cho cái tranh này phát triển.
Bởi vì khi mình làm cái bức tranh ra nó phải có cái khung.
Nó có khung cái gỗ nó cũng là một cái thành phần là câu tảm cơ bản để kiếm.
Đó là câu chuyện từ rất nhiều năm về trước.
Khoảng 20 năm nay, Cành Kiến trở lại sức tiêu thụ chạm súc.
Đêm nay cả làng nghề ở Long Điền V chỉ còn 4 hộ bám trụ với nghề.
Sản xuất cũng chỉ ở mức độ cầm chừng.
Họ vẫn bám trụ, vì với họ Cành Kiến vẫn sẽ sống được.
Bởi đã ăn sâu vào nếp văn hóa của con người vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Đáp ứng được thị hiếu nhu cầu tâm linh của người dân miền Tây sông nước.
Chúng tôi lại nghĩ về những trầm mặt của sông.
Dẫu biết vạn vật sẽ thay đổi theo sự xoay vần của tả hóa.
Nhưng ký ức ngày vui xưa cũ với những xuôi ngược theo dòng nước
luôn là những mãn màu tươi thấm khi sông và cuộc sống người dân nơi này là 2 thực thể hòa quyển.
Huyện chợ mới được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu, sông Phạm Đao và rạch cái Tàu Thượng.
Có 2 cửu lao là cửu lao Ông Trưởng và cửu lao Dinh.
Cửu lao Dinh nằm giữa sông Tiền có chiều dài 12km và chiều rộng 7km cùng với lịch sử hơn 300 năm khai phá.
Nơi đây từ lâu được biết đến là một cửu lao xanh.
Vùng đất mang đẳng bản sắc văn hóa miệng vườn và văn hóa tính ngưỡng tâm linh của người Việt vùng sông đất Nam Bộ.
Trên cửu lao khuất nẻo giữa sông Tiền, nhà thờ cửu lao Dinh,
một côi thánh đường với kiến trúc tây phương đã có mặt gần 150 năm trước.
Đây là một trong những nhà thờ xưa nhất miền Nam,
cũng là nhà thờ đầu tiên được xây dựng ở miền Tây Nam Bộ,
nhu tính từ hạ lưu sông Mekong vào.
Nhà thờ cửu lao Dinh với sức chứa lên đến 300 người,
được người Pháp xây dựng vào năm 1877 với thiết kế theo lối kiến trúc La Mã.
Phần lớn vật liệu được đem từ Pháp qua.
Còn đây là chùa Phát Thành,
một chùa nổi tiếng với công trình quần thể tượng Phật bao gồm 48 vị Bồ Tát thắng chúng.
Trong hai cuộc chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,
chùa từng là nơi ẩn đáu của các chiến sĩ cách mạng.
Hiện tại, An Giang đang có 11 tôn giáo được công nhận
trên tổng số 16 tôn giáo của cả nước.
Nếu gọi An Giang là vùng đất đa dân tộc, đa tôn giáo,
thì chợ mới là một lát cát điển hình.
Phần miền cửu lao Diên này là một bức tranh thua nhỏ
để có thể thấy được sự phong phú đa dạng của tôn giáo
và hòa quyện của tính ngưỡng nhìn từ một cửu lao nhỏ hiền hòa giữa 4 bể sông nước.
Chúng tôi ghé thăm làng Ba Quang Thượng Đẳng,
cụ di tích làng mộ thờ ba anh em là người ở cụ lao Diên
từng theo phòng nguyện ánh và tưởng nạn trên dòng thị đại.
Một không khí khác biệt so với những vùng đất mà chúng tôi vừa đi qua.
Niết thanh bình của một làng quê miền sông nước
được cảm nhận rõ ràng qua từng cung đường
với bức tranh du lịch sinh thái hấp dẫn và lãng mạn.
Cảnh bình yên của học sinh tan trường,
những tán xoài trong đưa đối lập hoàn toàn
với cái dữ dội, cái mênh mông mà chúng tôi vừa trải qua nơi đầu nguồn.
Hay tại con sông Phạm Đao, một phần làm nên chạy đất này.
Người ta nói địa danh như tấm bi lịch sử
là nơi tâm tư tình cảm của người xưa gửi gắm vào với sức mạnh vô hình
giúp con người tồn tại trước mọi biến cố khó khăn.
Kể từ khi thành lập vùng đất nơi biên ải đầu nguồn,
trường Đông Giang Nguyễn đặt cho nơi này cái tên miễn miều An Giang
có nghĩa là bình an nơi sông nước.
Phải chẳng điều này thể hiện niềm hy vọng của người xưa
về sự an vui ở một chốn sông sâu nước chảy?
Phải chẳng đó cũng là tính lạc quan và hào sản vốn có của người miền Tây Nam Mộ?
Với các khó khăn, các khắc nghiệp mỗi đầu khai phá,
ông cha ta luôn có một niềm tin mạnh liệt vào ngày mai.
Chúng tôi trở lại bờ phía đông của sông Hồ
nơi được mệnh danh là vùng đất sơn kỳ Thủy Tú
để góp nhật thêm những bán màu về vùng đất vương trậu của Tổ quốc phía Tây Nam.
