Mặt trận Vị Xuyên 1984–1989 là một trong những chiến trường biên giới khốc liệt nhất, nơi quân và dân Việt Nam chiến đấu giành giật từng điểm cao, từng tấc đất để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.Vì sao Vị Xuyên lại trở thành nơi được gọi là “Lò Vôi Thế Kỷ”? -----------------------------
Executive Producer: Phung Trung Dung Producer: Dat Nguyen & Ma Thi Hue Research: Anh Nguyen Editing: Nguyen Van Khue Animation: Nguyen Tuan Anh Gaffer: Ngoc Nguyen Host: Viet Cuong Nguyen Thumbnail: Ngoc Nguyen Quality Control: Dinh Khiem Vu
This video documents the fierce border conflict at Vị Xuyên between Vietnam and China from 1979 to 1989. It details the strategic struggle for high-altitude peaks, the immense sacrifices of Vietnamese soldiers, and the tactical evolutions that eventually forced Chinese forces to withdraw, emphasizing the resilience and bravery required to protect national sovereignty.
Ngai Ba Cờ Tử, Đồi Thịt Băm, Thùng Lũng Gọi Hồn, Thác Ngọc Phục.
Đây là những tên địa danh gắn liền với mặt trận vị xuyên.
Tại đó, từng tấc đất đều đổi bằng máu, từng vách đá đều in giấu hy sinh.
Trong những năm 1980, cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc
chống quân xung quốc xâm lược bước vào giai đoạn khốc liệt nhất.
Vị xuyên chìm trong mưa bòm bão đạn.
Pháo gầm ngày đêm, đất đá bị cẩy nát.
Những trận đánh giành giật từng điểm cao diễn ra không ngừng.
Thế nhưng trong hoàn cảnh địa ngục ấy, quân và dân Việt Nam vẫn kiên cường chủ hướng.
Sống bám đá đánh giặc, chết hóa đá bất tử.
Máu đổ xuống để lá cơ tổ quốc vẫn tung bay trên những điểm cao biển cướp.
Để rồi, vị xuyên đã trở thành biểu tượng bất khuất của lòng quả cảm,
sự hy sinh và ý chí bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc.
Vậy, cuộc chiến tại nơi được mệnh dành là lò vôi thế kỷ đã diễn ra như thế nào?
Giảng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979,
60 vạn quân Trung Quốc với hàng trăm xe tăng, xe bọc thép,
cùng hàng ngàn khẩu pháo đồng loạt tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam.
Qua 10 ngày giao tranh, lực lượng quân khu 1 và quân khu 2 đã chuyển đấu ảnh dũng,
bước đầu làm phá sản kế hoạch đánh nhanh thắng nhành của chúng.
Điều này đã buộc Trung Quốc phải tung ra các đơn vị dự bị chiến lược.
Nhờ ưu thế quân số và vũ khí trang bị,
địch đã chiếm được một số địa bàn quan trọng của ta như thị xã Cao Bằng, Lào Cai, Cam Đường và Làng Sơn.
Cùng lúc này, tình hình ở chiến trường Campuchia cơ bản đã ổn định.
Vì vậy, quân đoàn 2 và quân đoàn 3 nhận lệnh khẩn trương cơ động lên biên giới phía Bắc chiến đấu,
đồng thời đẩy huy động và động viên nhân dân đứng lên chống quân xâm lược.
Vào ngày 5 tháng 3 năm 1979, Chủ tịch Tôn Đức Thắng ký ban hành lệnh tổng động viên trên cả nước.
Tuy nhiên, trong lúc giao tranh đang diễn ra gai gắt,
thì Bắc Kinh tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu dạy cho Việt Nam một bài học và rút quân về nước.
Ngày 7 tháng 3, nhằm thể hiện thiện trí, ta cho phép địch rút lui mà không trùy kích.
Đến ngày 18, quân Trung Quốc về cơ bản hoàn thành việc rút quân.
Tuy nhiên, Bắc Kinh vẫn duy trì 12 sư đoàn cùng hàng chục trung đoàn độc lập ở sát biên giới nước ta.
Lực lượng này thường xuyên lấn chiếm lãnh thổ và tiến hành chiến tranh phá hoại ở nhiều quy mô.
Và trong những năm tiếp theo, nơi vùng biên vẫn chưa thể thực sự yên tiếng súng.
Ngày 28 tháng 4 năm 1984, Trung Quốc mở cuộc xâm lược nước ta lần hai với 50 vạn quân,
hơn 400 khẩu pháo lớn các loại và trên 1.000 xe cơ giới.
Thay vì tấn công diện rộng trên toàn tuyến như trước, lần này địch tập trung chiếm một phần khu vực biên giới huyện Vị Xuyên.
Mục tiêu là lấn tới phía bắc suối Thanh Thủy, vẽ lại đường biên giới sâu vào lãnh thổ Việt Nam khoảng 5 km.
Câu hỏi ở đây là tại sao Vị Xuyên lại được chọn làm điểm tấn công?
Lý do bởi nơi này là địa bàn sao xôi hẻo lánh, cách thủ đô Hà Nội tới hơn 300 km,
và không có con đường nào kết nối trực tiếp.
Tổ chức tấn công tại đây có thể hạn chế sự chú ý của dư luận trong nước cũng như quốc tế.
Bên cạnh đó, ở khu vực biên giới Vị Xuyên, phía Trung Quốc là vùng cao nguyên, đồi đất cao hơn hẳn bên Việt Nam.
Địa hình này cho phép địch dễ dàng quan sát, bố trí trận địa pháo binh thầm xa, và triển khai các đội hệ bộ bình lớn.
Trái lại, ta sẽ gặp khó khăn trong tổ chức phòng ngự, phản công, cũng như chi viện ra chiến trường.
Ngoài ra, các điểm cao Vị Xuyên có giá trị chế thuật rất lớn.
Nếu chiếm được những vị trí này, quân Trung Quốc có thể đe dọa trực tiếp thị xã Hà Giang.
Từ đó, lấn sâu thêm vào lãnh thổ nước ta.
Không chỉ có vậy, bằng cách duy trì một điểm nóng xúc đột liên tục tại Vị Xuyên,
Trung Quốc buộc Việt Nam phải thường xuyên giữ một lượng lớn quân chủ lực và nguồn lực hậu cần ở biên giới.
Giai đoạn 1984 cũng là lúc kinh tế Việt Nam đang gặp khủng hoảng nghiêm trọng.
Thế nên, việc phải căng mình nuôi quân sẽ khiến nền kinh tế càng thêm kiệt quệ.
Ngoài ra, Bắc Kinh cũng lo ngại về một cuộc chiến tranh toàn diện
có thể khiến công cuộc bốn hiện đại hóa của mình bị ảnh hưởng.
Vì vậy, lần này địch không tấn công toàn tuyến biên giới như trước,
mà chỉ tập trung vào một địa bàn chiến lược được lựa chọn kỹ cả.
Trên thực thế, chiến sự ở Vị Xuyên đã bắt đầu nóng lên từ đầu mùa hè năm 1984.
Từ ngày 2 đến trước ngày 28 tháng 4, quân Trung Quốc đã tổ chức một đợt phó kích lớn
bắn hơn 28.000 quả đạn vào lãnh thổ Việt Nam, tập trung ở biên giới huyện Vị Xuyên.
Đáng chú ý, địch không chỉ tấn công tiền tuyến,
mà còn đã 11.000 quả đạn sâu tới tận thị xã Hà Giang.
Vào lúc 5 giờ sáng e 8 tháng 4,
quân Trung Quốc bắn vào các trần địa phòng ngựa của ta tại biên giới Vị Xuyên
khoảng 12.000 viên đạn pháo lớn nhằm mở đường cho bộ binh tấn công.
Dù quân số và vũ khí trang bị lép vế trước đối phương,
các chiến sĩ Việt Nam đã kiên cường bám trụ, đánh trả nhiều đợt xung quang của địch.
Trên sự diễn ra tại nhiều cao điểm,
trong đó có 1509 đặc biệt quan trọng về mặt chiến thuật.
Nếu kiểm soát điểm cao này,
quân Trung Quốc sẽ không chế được toàn bộ khu vực tới Bắc suối Thanh Thủy.
Vì vậy, địch đã điều 2 tiểu đoàn bộ binh tăng cường có phó binh Tri Viện,
quyết đánh chiếm bằng nước.
Mặc dù trên đấu anh Dũng, nhưng do quân Trung Quốc đồng áp đảo,
bộ đội ta đã hy sinh và bị thương nhiều,
nếu không còn khả năng giữ được cao điểm 1509.
Vào 15h30, quân ta được lệnh rút lui,
chuyển hướng bình độ 1450, đánh địch phù hột.
Một đài đội bộ binh của ta được điều đến Tăng Viện,
đã đẩy lui nhiều cuộc tấn công của địch,
tiêu diệt tại chỗ nhiều tên, nhưng cũng phải chịu thương vọng lớn.
Bình độ 1450 cuối cùng bị quân Trung Quốc đánh chiếm,
lực lượng của ta ở 1450 rút về phòng ngự tại bình độ 1100.
Bên cạnh những vị trí vừa được kể,
chiến sự trên hướng Tây Sông Lô còn diễn ra ở cao điểm 772, 685, 233.
Trung Quốc triển khai, quân số đông hơn ta gấp nhiều lần,
lại có hỏa lực pháo binh và xùm phối chi viện ác liệt.
Vậy nên, mặc dù bộ đội Việt Nam chiến đấu với cùng Anh Dũng,
nhưng đến ngày 30 tháng 4 năm 1984,
địch đã chiếm được tất cả các điểm cao,
bao gồm 1509, 772, 685, 266, 233 Tây Sông Lô.
Quân ta thương vong lớn, phải lùi về tuyến thấp tổ chức phòng ngự
để ngăn quân Trung Quốc lấn sổng.
Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 15 tháng 5,
một sứ đoàn bộ binh địch của pháo binh chi viện
đã tấn công vào các cao điểm 1030, 840, Sì Cả Lá.
Tất cả các điểm cao,
ta bị tổn thất lớn,
buộc phải rút về các cao điểm 920, 788,
khu vực Ba Hán, để tổ chức phòng ngự.
Sau khi bị quân Trung Quốc chiếm mất toàn bộ các trần địa
trên tuyến biên giới cả Tây và Đông Sông Lô,
bộ tư lệnh quân khu 2 chủ trương củng cố những vị trí đang chốt giữ,
kiên quyết chiến đấu không cho quân địch tiếp tục lấn sổng.
Các đơn vị nhận lệnh củng cố lực lượng,
bổ sung quân số, vũ khí trang bị,
từng bước phản kích lấy lại những điểm cao đã mất.
Nhằm giành lại cao điểm 772, 233 Tây Sông Lô và 1030 Đông Sông Lô,
bộ tư lệnh quân khu 2 đã phát động chiến dịch Mb84.
Lực lượng được khuy động bao gồm trung đoàn 876,
sư đoàn 356 có nhiệm vụ chiếm lại cao điểm 772,
trung đoàn 174, sư đoàn 316 có nhiệm vụ chiếm lại cao điểm 233,
và trung đoàn 141, sư đoàn 312 có nhiệm vụ chiếm lại cao điểm 1030.
Phương án tác chiến thực hiện theo cách truyền thống.
Theo đó, pháo binh bắn chuẩn bị, bộ binh hoặc đặc công đánh cửa mở,
rồi bộ binh đông loạt xung phong.
Về phía quân Trung Quốc,
địch đã biến các trại địa chiếm được thành hệ thống liên hoàn, kiên cố, vững chắc.
Một số vị trí quan trọng có 2-3 hàng rào dày thép gài kết hợp mìn.
Pháo binh xung cối cũng được chuẩn bị kỹ cả.
Chúng thường xuyên càng ngày lẫn đêm bắn thòng vạn quả đạn vào các trại địa phòng việc của ta.
Những nơi bị nghi là điểm tập kết người, vật chất,
và những vị trí bộ đội ta có thể tiếp cận tấn công.
Pháo binh địch còn bắn trận dọc đường số 2 từ thị xác Hà Giang lên Thành Thuỷ.
Điều này gây rất nhiều khó khăn trong việc vận chuyển vũ khí, đạn dược lên các điểm tập kết.
Thiêu thốn về hỏa lực và tiết tế do đường vận tải bị khống chế đã khiến quân ta gặp bất lợi lớn.
Ngày 11 tháng 6, Sư đoàn 313 đã tổ chức tấn công cao điểm 233 nhưng không thành.
Thì đồng thời là pháo của ta hồi ấy cũng hạn chế quá.
Mà pháo giặc mỗi lần mình đắn vào đấy,
thì là pháo giặc nó khoảng như là một tiểu đoàn nó bắn vào cái trận địa của chú.
Tại vì cái trận địa của chú là cái trận địa nó bị lộ rồi.
Tại vì bọn chú là vào chiếm lính rất sớm để thay 313.
Đến 5 giờ sáng ngày 12 tháng 7 năm 1984,
chiến dịch MB84 chính thức mở mặt.
Pháo binh đông loạt khai hỏa trong 45 phút.
Sau khi pháo bắn chuẩn bị xong, lực lượng được giao nhiệm vụ đã mở được cửa ngựa.
Quân ta đông loạt xung phong đánh chiếm lại 3 cao điểm.
Sư đoàn 356 sử dụng tiểu đoàn 3 chung đoàn 876 tăng cường tấn công nhằm giành lại điểm cao 772.
Quân địch phòng thủ tại đây gồm một tiểu đoàn tăng cường và một trận địa cối 100 lỳ.
Sau hơn 1 giờ giao tranh ác liệt, ta đã chiếm được mỏm D3 và chạy.
Quân Trung Quốc lúc này dựa vào các công sự chiến hào và giao thông hào để chống trả dữ dội.
Pháo khối của địch cũng bắn trùm lên đội hình xung phong và lực lượng tiếp sau của ta.
Tuy có một số thương vong, nhưng quân ta vẫn tiếp tục tiến công vào các trần địa của quân Trung Quốc.
Trước nguy cơ thất thủ, vào khoảng 12 giờ ngày 12 tháng 7, địch triển khai lực lượng tiến sau lên tầng viện, thực hiện phản kích đẩy ta khỏi điểm cao 772.
Kết quả, ta đã tiêu diệt hơn 100 tên địch, đánh sập một nhà kho, pháo hủy trần địa súng cối 100 lỳ.
Ta cũng phải chịu thương vong lớn với hơn 100 chiến sĩ hi sinh, trong đó có cả các cán bộ chỉ quý.
Trong một diễn biến khác, sư đoàn 316 sử dụng tiểu đoàn 3, trung đoàn 174 tấn công chiếm điểm cao 233.
Lực lượng này được hỗ trợ bởi một trung đội đặc công, một trung đội hóa học, một trung đội công binh, một khẩu đội DKZ 82 ly và hai súng máy 12 ly 7.
Đúng 5 giờ chiều ngày 12 tháng 7, sau khi điều khỏa lực pháo binh và súng cối tri viện, bộ đội ta đồng loạt xung phòng.
Hai đai đội bộ binh tăng cường của địch chống trạc quyết liệt khiến ta chịu một số thương vong.
Với quyết tâm chiến đấu cao, bộ đội Việt Nam đã chiếm được gần hết mỏm A của cao điểm 233.
Đến lúc này quân ta bị pháo binh Trung Quốc bắn phá dữ dội.
Các đơn vị địch cũng tăng cường lực lượng trạng đứng và phản kích khiến ta chịu tổn thất nặng.
Nhận thấy tình hình khó khăn, hoạt trận do lệnh dừng tấn công, rút bộ đội khỏi trận điện.
Trong trận này ta đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 200 người.
Về phía ta, hơn 150 đồng chí hy sinh.
Trên hướng đông sông Lô, bộ tư lệnh mặt trận giao nhiệm vụ cho sư đoàn 312.
Quân đoàn 1 được tăng cường lên chiến đấu tại mặt trận Vị Xuyên.
Trong chiến dịch MB-84, đơn vị này có nhiệm vụ giành lại cao điểm 1030.
Lực lượng địch chiếm giữ 1030 chỉ là một tiểu đoàn bộ binh.
Thế nhưng khi sư đoàn 312 triển khai trung đoàn 141 để tấn công,
quân Trung Quốc đã phát hiện được và tập trung hỏa lực pháo binh,
súng cối, bắn vào đội hình chiến đấu của ta.
Trung đoàn 141 chịu thương vong nặng và buộc phải rút về sau, củng cố lực lượng.
Như vậy, chiến dịch MB-84 ngày 12 tháng 7 đã không thành công.
Đây cũng là ngày bộ đội ta đổ máu nhiều nhất trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Vị Xuyên,
từ năm 1984 đến năm 1989.
Vì vậy, ngày 12 tháng 7 còn được gọi là ngày dỗ trận các liệt sĩ đã hy sinh tại mặt trận Vị Xuyên.
Sau chiến dịch MB-84, bộ tư lệnh quân khu 2 và bộ tư lệnh mặt trận Vị Xuyên
chủ chương thay đổi chiến thuật sang bám thắt lưng địch mà đánh.
Cụ thể, tạo với địch sen kẽ khi có điều kiện, tìm mục tiêu phù hợp,
dùng lực lượng thích hợp đánh chiếm, đánh đầu tháng đó, đánh chắc giữ chắc.
Đồng thời, công tác bảo đảm các mặt được tăng cường, nơi biệt quan trọng vật chất để củng cố,
xây dựng trận địa ngay sau khi đã đánh chiếm mục tiêu.
Bên cạnh đó, việc bộ trí sử dụng vũ khí cũng trú trọng các loại hỏa lực đi kèm
như cối 60 và 82 lì.
Nhờ chủ chương này, bộ đội Việt Nam đã giành được một số thành quả.
Cuối năm 1984, đầu năm 1985, ta đã tấn công giành lại điểm E5,
quad F, 4 hầm, A6.
Đồng thời, các khu vực khác ở cao điểm 685, bình độ 400, được tăng cường vòng ngự.
Phần lớn trận địa của tàu và địch sen kẽ cách nhau 200 đến 300 mét.
Còn nơi như tại 4 hầm, khoảng cách dài bên chỉ là 20 đến 30 mét,
nên hạn chế được hỏa lực pháo binh, súng cối.
Thường vòng nhờ vậy cũng giảm bớt.
Cùng với đó, điều cần thiết lúc này là tiến hành một trận đánh hiệu quả
nhằm sốc lại tinh thần chiến đấu cho bộ đội.
Mục tiêu được chọn là A6B, tức mỏm Tây Bắc của đội A6.
Lý do là vị trí này có giá trị quan trọng.
Cả ta và địch đều dễ dàng quan sát, khống chế khu vực ngã Ba Thành Thủy,
đồng thời bổ trí các loài hỏa lực bắn thẳng để các cao điểm khác trong khu vực.
Quân Trung Quốc trần giữ tại đây cũng chỉ có một trùng đội tăng cường.
Nơi này xa các điểm phong ngữ khác của địch,
lại không có chiến hào kết nối vì địa hình núi đá.
Khi ta đánh chiếm được, quân Trung Quốc muốn chi viện hay phản kích đều mất thời gian.
Vì phải di chuyển qua quãng đường xa, chống trải,
lại dễ bị tiêu diệt bởi hỏa lực ở trận địa đồi đài A4-Cod F.
Đối với quân ta, A6B chỉ cách mỏm A6A phía Tây Bắc
Nhờ vậy, bộ đội có thể bí mật giấu quân,
chuẩn bị cơ sở vật chất, vũ khí, lực lượng tăng viện sẵn sàng tại các trại địa lên cận.
Tuy nhiên, địa hình phía đông của đội A6 lại khá chống trải,
nên khi ta tiến công, dễ bị địch phát hiện và dùng hỏa lực gây thương vong lớn.
Một là Nguyễn Văn Tốn, người Thái Bình.
Một là anh Tuyên ở Hương Yên.
Do đó, cách đánh được lựa chọn lần này là tấn công bí mật.
4h30 phút sáng ngày 31 tháng 5 năm 1985.
Hòa bình và xung khối của ta đồng loạt nã đạn
và các chế địa phòng thủ của quân Trung Quốc trên toàn mặt trận.
Trong lần đầu tiên, đối với đội A6B,
súng 1207 DKZ từ bình độ 1100,
ba hán cũng khai hỏa để tạo thế nghi bình.
Đúng giờ gờ sáng ngày 31 tháng 5,
khi sông mù còn chưa tan, bộ bình ta tấn công bất ngờ.
Chỉ trong vòng 30 phút, địch bị tiêu diệt gần hết,
chỉ còn lại hàng số 7.
Đường vào đây khó khăn, nền phận Trung Quốc cũng chống trả quyết liệt,
khiến một số chiến sĩ của ta thương vong.
Tuy nhiên, địch không cầm cử được lâu, do ta đã tìm được lối tiếp cận.
Những tên trong hàng bị tiêu diệt hoặc bắt sống.
Ngay sau khi giành được chiến thắng, ta đã nhanh chóng bổ sung quân số,
vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm lên A6B,
đồng thời gia cố công sự, chuẩn bị đánh địch phản kích.
Quân Trung Quốc quyết liệt lấy lại bằng điều vị trí này.
Trong ngày 1 tháng 6, địch tiến hành 5 lần phản kích,
và lần nào cũng bị ta đẩy lui.
11 ngày tiếp theo, mỗi ngày quân Trung Quốc đánh lên A6B 2-3 lần,
nhưng đều thất bại.
Kết quả là hàng ngàn tên bị tiêu diệt.
Trung Quốc nhận xét đây là trận thua thảm hại nhất
trong cuộc chiến lấn chiếm biên giới Vị Xuyên.
Về phía ta, điểm cao A6B được giữ vững trong suốt 5 năm
cho đến khi địch rút quần.
Trong thời gian chiến đấu, đơn vị của chú bắn được 1 phát,
4-5 đơn vị khác của Trung Quốc tập trung vào bắn lại đơn vị của cầu đội.
Sau thất bại này, quân Trung Quốc vẫn tiếp tục bắn sang Vị Xuyên,
hàng vạn viên đạn pháo và cối.
Mục tiêu nhằm chuẩn bị cho cuộc tấn công lớn
vào một số trận địa phòng ngự của ta.
5 giờ sáng ngày 3 tháng 9 năm 1985,
sau gần 2 giờ bắn pháo cấp tập,
quân Trung Quốc đã huy động lực lượng lớn đánh từ nhiều hướng.
Bộ đội ta dựa vào công sự,
lại được sự chi viện hiệu quả của pháo binh, súng cối,
nên tiêu diệt được hàng trăm tên địch,
để lưu tất cả các đợt tấn công giữ vững trận địa,
dù chỉ có một trận địa bị thất thủ.
Chỉ có một cầu trung liên của Trung Quốc tập trung bắn vào,
bộ binh không chào lên được,
thì yêu cầu pháo cối nào mới rót vào trong đúng cái cửa hàng đó,
thì sau 2 khỏa đạn thôi đã tiêu diệt được.
Thế nên mình cũng, cầu này cũng được quân dương
và cũng được sự đoàn trưởng khen thưởng.
Cùng lúc đó, các chỉ huy của ta cũng nắm được ý đồ của quân Trung Quốc.
Sau khi chiếm được một phần trận địa của giãi pha Hán,
địch sẽ tăng cường lực lượng
và tiếp tục tiến công dành lấy toàn bộ giãi núi.
Do vậy, Sư đoàn 314 được lệnh giữ vững các trận địa còn lại,
ngăn địch tăng viện và chuẩn bị phản kích dành lại trận địa đã mất.
Sau đó, ta sử dụng pháo binh, súng cối và rocket BM-24
liên tục chế áp các vị trí của địch,
đặc biệt bắn trận ở 840,
ngăn quân từ cao điểm 1030 xuống tăng viện cho pha Hán.
Đêm 23 dạng sáng 24 tháng 9, ta dự định phản công,
nhưng do Sư đoàn 314 chưa kịp chuẩn bị,
nên không kịp tiến hành.
Trong ngày 24, sau khi xác định hang số 2
là nơi địch tập trung lực lượng và cố thủ,
ta dùng 4 quả B-72 bắn trực tiếp vào hang,
tiêu diệt phần lớn quân địch, số còn lại phải bỏ chạy.
Đêm hôm đó, Sư đoàn 314 triển khai một đại đội phản công.
Đến 5 giờ sáng ngày 25,
với sự chi viện của pháo binh và súng cối,
ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch và giành lại trận địa ba Hán.
Sau đó, Sư đoàn 314 nhanh chóng cổ cố trận địa
và hoan thiên hệ thống giao thông hào để giảm thương vong.
Như đã nói, ở Vị Xuyên,
ta và địch thường bố trí sen kẽ
chỉ cách nhau vài chục đến vài trăm mét.
Đặc biệt, khu vực đồi đài Cô Ích, Đã Pháp
sở hữu vị trí chiến lược quan trọng
vì án ngưỡng quốc lộ 2.
Đồng thời, nơi này cũng có nguy cơ bị địch
dùng xe tăng đánh chiếm để tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam.
Vì vậy, ta khẩn trương củng cố hệ thống
hào chống tăng và giao thông hào tại đây.
Trong một tuần, công bình đã đào giao thông hào
ở khu vực đồi đài sâu thêm 1,7 đến 2 mét
giúp bộ đội cơ động an toàn hơn và giảm thương vong.
Sự chuẩn bị này là không hề thừa thái.
Vì trong suốt 5 năm chiến đấu,
quân ta phải liên tục chống trả các đợt tiến công của địch.
Tiêu biểu có thể kể đến tiêu đoàn 4,
trung đoàn 5, 6, 7 trong 4 ngày liên tiếp
đánh bại các đợt tiến công
được phó binh địch yểm trợ mạnh,
buộc quân Trung Quốc phải rút lùi.
Đến ngày 2 tháng 9 năm 1985,
địch huy động một trung đoàn bộ binh
mà cuộc tấn công lớn vào đồi đài Cối.
Dưới sự chi viện của pháo binh,
sung Cối, quân ta dựa vào công sự thiên cố,
đánh trạng quyết liệt, gây nhiều thương vong cho địch.
Tuy nhiên dựa vào ưu thế quân số và hồi lực yểm trợ mạnh,
địch vẫn tiếp tục hồ hạc tiến công
nhằm chiếm vào được trạng địa.
Ta vẫn kiên quyết giữ vững vị trí,
tiêu diệt 200 tên địch,
dù có 10 người hy sinh và 37 người bị thương.
Sau đó, quân Trung Quốc tiếp tục pháo kích
và tổ chức hàng trăm đợt tấn công
nhưng vẫn không thể chiếm được trạng địa.
Ngày 11 tháng 9,
địch bí mật đặt hàng tấn thuốc nổ dưới chân đồi đài
rồi cho kích nổ,
khiến 18 chiến sĩ Việt Nam hy sinh.
Nhưng trạng địa vẫn được giữ vững.
Sau thất bại tháng 9 năm 1985,
địch chuyển sát tấn công các đợt nhỏ
nhưng đều bị đánh bại.
Sáng năm 1986,
hai bên chủ yếu sử dụng pháo binh và sung Cối
sát thường lỡ nhỏ.
Ngày 14 tháng 10 năm 1986,
quân ta phối hợp chặt chẽ giữa bộ binh và pháo binh,
đánh bại ba đợt tấn công của địch
vào bình độ 1.100.
Năm ngày sau,
ta tiếp tục ngăn chặn hai tiểu đoàn địch
đánh đồi tròn vào các điểm 9-20
giữ vững toàn bộ trạng địa.
Sáng năm 1987,
nhân định địch sẽ mở cuộc tấn công quy mô lớn.
Quân ta chủ động củng cố công sự,
bổ sung đoạn dược,
hoàn thiện phương án tác chiến và nâng cảm cảnh sát.
Sáng ngày 5 tháng 1,
bốn sư đoàn bộ binh Trung Quốc
đồng loạt tấn công nhiều vị trí trọng yếu
như bình độ 1.100,
bốn hầm, đồi đài, cố ích,
đá pháp, đồi tròn,
cao điểm 8-40, si ca lá
và bà hán.
Nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng và hiệp đồng chặt chẽ
giữa bộ binh và pháo binh,
quân ta đánh bại nhiều đợt tiến công,
gây tổn thất lớn cho địch.
Sau các cuộc tấn công liên tiếp,
từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 1,
địch buộc phải chấm dứt chiến dịch,
trong khi toàn bộ trạng địa của ta vẫn được giữ vững.
Từ đây,
Trung Quốc không còn tấn công quy mô lớn nữa.
Thay vào đó, địch chủ yếu
tổ chức các cuộc tập kích nhỏ
và dùng pháo binh, súng khối bắn khóa trận địa tảng.
Năm 1988,
tình hình tiếp tục diễn biến theo hướng này.
Sang năm sau, Trung Quốc bắt đầu
ngừng pháo kích, pháo hủy một số công sự
và rút quân.
7 giờ sáng ngày 15 tháng 5 năm 1989,
địch trong đội mình đồng loạt
phá bỏ hơn 20 căn hầm kiên cố
ở một số điểm cao
thuộc tuyến biên giới huyện Vị Xuyên.
Cũng từ ngày đó,
tiếng súng đã ngưng trên toàn
tuyến biên giới phía Bắc.
Đến tháng 10 năm 1989,
Trung Quốc rút hết quân khỏi đất Việt Nam,
kết thúc 5 năm lẫn chiếm biên giới
Vị Xuyên, cũng như 10 năm
xâm lược nước ta.
Một thập kỳ đạn bom qua đi,
để lại giải biên cương vẹn tròn.
Sòng đang sao trang sự trói lại ấy
lại là những đôi đau chưa thể ngôi ngoài.
Hàng ngàn chiến sĩ đã
hi sinh, nhiều người đến nay
vẫn nằm lại giữa những khẻ đá Vị Xuyên.
Mảnh đất này vì thế đã trở thành
bản thiên anh hùng ca về lòng yêu nước,
về ý chí bảo vệ
từng tất đất thiền liền,
và là minh chứng cho dân lí,
không có gì quý hơn độc lập, tự do.
Hôm nay, khi đất nước đã
hòa bình, chúng ta càng phải nâng cao
ý thức bảo vệ chủ quyền.
Và luôn ghi nhớ bia đơn sâu sắc
những thế hệ cha anh đã hi sinh
để tổ quốc được bình yên.
Phụ đề được thực hiện bởi cộng đồng Amara.org