TRUNG QUỐC ĐÃ SAI LẦM KHI THÁCH THỨC QUYẾT TÂM CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG
#linhdan
TRUNG QUỐC ĐÃ SAI LẦM KHI THÁCH THỨC QUYẾT TÂM CỦA VIỆT NAM Ở BIỂN ĐÔNG
Chào mừng quý vị trở lại với chương trình TÔI LÀ LÊ MINH
Hãy thưởng tượng một đại dương mênh mông nơi từng là chứng nhân cho những cuộc hải chiến khốc liệt và những cuộc tranh giành không hồi kết.
Biển Đông, cái tên mà mỗi khi nhắc đến đều gợi lên hình ảnh của những trận cuồng phong,
của những âm mưu ẩn sau những con sóng tưởng như yên bình.
Những bên dưới bề mặt lặng gió ấy, một cơn bão lớn đang âm thầm hình thành,
một cơn bão mà trái tim của nó là tham vọng vô tận của Trung Quốc.
Những hòn đảo bị sâm chiếm, những dạng san hô bị hủy hoại và những tuyến đường biển huyết mạch bị uy hiếp.
Tất cả không chỉ là câu chuyện của ngày hôm qua, mà là lời cảnh báo rõ ràng về những gì có thể xảy ra vào ngày mai.
Bắc Kinh, với sự quyết đoán lạnh lùng, đã phác họa một bức tranh quyền lực khiến cả thế giới phải giật mình.
Nhưng đằng sau những hành động hung hăng, liệu Trung Quốc có thực sự kiểm soát được ván bài nguy hiểm mà họ đang chơi?
Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé nhưng chưa bao giờ biết cúi đầu trước áp lực.
Từ những năm tháng kháng chiến chống ngoại sâm cho đến những cuộc đối đầu hiện đại trên Biển Đông,
dân tộc này luôn thể hiện một sức mạnh kiên cường, vượt lên mọi thách thức.
Với quyết tâm bảo vệ từng tức biển, từng hòn đảo, Việt Nam không chỉ đấu tranh vì chủ quyền của mình,
mà còn gửi đi một thông điệp mạnh mẽ đến cả khu vực.
Tự do hàng hải và luật pháp quốc tế không thể bị khuất phục bởi bạo lực.
Cuộc đối đầu giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Biển Đông không chỉ là một cuộc chiến về lãnh thổ,
mà còn là trận chiến của ý chí, của lòng tự tôn dân tộc và của sự công bằng trên trường quốc tế.
Trước những âm mưu và hành động ngang ngược, câu hỏi đang ra là
liệu Việt Nam có đủ sức để một lần nữa đứng vững trước gã khổng lồ Phước Bắc?
Và liệu cộng đồng quốc tế sẽ ủng hộ như thế nào trong cuộc đấu tranh công lý này?
Việt Nam đã quá mệt mỏi với tham vọng không giới hạn của Bắc Kinh tại Biển Đông,
đặc biệt là khi họ tiếp tục khiêu khích bằng những động thái quen thuộc nhưng đầy nguy hiểm.
Trung Quốc đang đánh cực lớn khi khơi màu một cuộc cạnh tranh mới
tại một trong những điểm nóng nhất thế giới.
Kể từ năm 1974, khi họ chiêm đóng quần đảo Hoàng Sa,
căng thẳng giữa hai nước về chủ quyền tại Biển Đông ngày càng leo thang.
Các cuộc tranh chấp gây gắt vẫn tiếp diễn tại những khu vực như quần đảo Trường Sa,
nơi biểu tượng hóa cho tham vọng không ngừng của Bắc Kinh trong việc kiểm soát khu vực này.
Cùng với sự lớn mạnh của Trung Quốc, thái độ táo tợn của họ cũng ngày càng gia tăng,
điển hình như các hành động nạo vét dạn san hô và phá hủy môi trường biển,
xây dựng các căn cứ quân sự kiên cố trên những hòn đảo xa xôi
hay là phô trương sức mạnh trước các tuyến hàng hải quốc tế.
Nhưng Trung Quốc không chỉ dừng lại ở Việt Nam,
hành động của họ còn gây áp lực trực tiếp lên các quốc gia khác,
bao gồm cả Philippines.
Kể từ khi chiếm đóng bãi cạn Scarborough vào năm 2012,
Trung Quốc liên tục phớt lờ luật pháp quốc tế,
ngang nhiên tuyên bố chủ quyền tại các vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.
Và điều này đã dẫn đến hàng loạt vụ đụng độ,
trong đó có sự kiện vào ngày 8 tháng 10 khi tàu tuần duyên Trung Quốc nổ súng
vào tàu tiếp tế của Philippines gần bãi cạn đang tranh chấp.
Hiện tại, Bắc Kinh còn gia tăng căng thẳng bằng cách khơi lại các yêu sách cũ ở Vịnh Bắc Bộ,
điều chắc chắn sẽ khiến Việt Nam phản ứng mạnh mẽ.
Trung Quốc từng tuyên bố chủ quyền toàn bộ Vịnh Bắc Bộ
theo bản đồ đường 11 đoạn từ thời kỳ trước năm 1949, sau đó tuyên bố này bị tư bỏ.
Nhưng những phát ngôn gần đây cho thấy Bắc Kinh đang muốn phục hồi yêu sách này.
Vào tháng 3 năm 2024, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân tuyên bố
là Bắc Kinh có quyền xác định đường cơ sở lãnh hải tại Vịnh Bắc Bộ,
khiến tình hình càng thêm căng thẳng.
Đương nhiên là phía Việt Nam đã thẳng thừng bác bỏ những yêu sách phi lý này.
Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận về đường phân định biển từ năm 2000,
nhưng Hà Nội hiểu rõ rằng với Bắc Kinh, từ thỏa thuận chỉ như viết trên nước
có thể tan biến ngay khi những lợi ích của họ thay đổi.
Trung Quốc chỉ có thể bị kiềm chế nếu phải đối mặt với nguy cơ bị đáp trả mạnh mẽ
khi mở rộng các yêu sách trong tương lai.
Điểm tích cực là Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp khiến Trung Quốc
phải dè chừng trong quá khứ về hiện tại.
Với Hà Nội, việc ngăn cản tham vọng của Bắc Kinh đòi hỏi phải củng cố quan hệ với Hoa Kỳ.
Từ năm 2020, Việt Nam đã tham gia vào khuôn khổ quát cộng
và thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ kinh tế với Washington,
với kim ngạch thương mại song phương tăng gấp 4 lần từ 30 tỷ USD năm 2013
lên 139 tỷ USD vào năm 2023.
Cột mốc quan trọng chính là chuyến thăm cấp nhà nước mang tính lịch sử
của Tổng thống Mỹ Joe Biden đến Hà Nội trong năm 2023,
khi hai nước chính thức nâng cấp quan hệ lên tầm đối tác chiến lược toàn diện.
Dù chưa chính thức thiết lập mối quan hệ an ninh toàn diện với Hoa Kỳ,
Việt Nam đã cho thấy tiềm năng đẩy mạnh hợp tác quốc phòng.
Đồng thời, việc phát triển mối quan hệ kinh tế sâu rộng hơn với Washington
không chỉ tăng cường vị thế của Việt Nam,
mà còn đảm bảo Mỹ có thêm động lực hỗ trợ Hà Nội trong các tranh chấp với Bắc Kinh.
Ngoài ra, Việt Nam cũng khuyến khích các công ty Mỹ mở thêm nhà máy tại đây,
một bước đi quan trọng đối với cả hai bên.
Với Hoa Kỳ, việc dịch chuyển chuỗi cung ứng sang Việt Nam giúp giảm sự phụ thuộc
vào Trung Quốc làm suy yếu vị thế kinh tế của Bắc Kinh.
Khi Việt Nam đóng vai trò ngày càng lớn trong chuỗi cung ứng toàn cầu,
sự ổn định của đất nước này không chỉ quan trọng đối với Mỹ mà còn với cả thế giới.
Điều này khiến cộng đồng quốc tế quan tâm hơn
trong việc bảo vệ Việt Nam trước những tham vọng của Bắc Kinh.
Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược
với siêu cường bên kia Thái Bình Dương,
Việt Nam còn mờ rộng tâm ảnh hưởng của mình với Nhật Bản.
Tháng 11 năm 2023, hai quốc gia chính thức nâng cấp quan hệ
lên mức đối tác chiến lược toàn diện, đánh dấu bước tiến mới trong hợp tác song phương.
Cùng thời gian đó, Việt Nam và Indonesia cũng đã tăng cường hợp tác quốc phòng toàn diện,
hải quân, lực lượng bảo vệ bờ biển, ngành công nghiệp quốc phòng
cũng như công tác đào tạo và nghiên cứu chiến lược của hai nước
được cam kết phối hợp hiệu quả ở mọi cấp độ.
Đến tháng 8 năm 2024, Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quân sự với Philippines,
tập trung đặc biệt vào các vấn đề hàng hải
và cam kết giải quyết tranh chấp một cách hòa bình.
Mặc dù vẫn còn các bất đồng về tranh chấp đảo ở Biển Đông,
cả hai quốc gia nhận thức rõ rằng sự hợp tác là cần thiết
để đối phó với những thách thức từ đối thủ lớn mạnh hơn.
Trong khi đó, Việt Nam cũng củng cố mối quan hệ sâu sắc với Ấn Độ,
quốc gia chia sẻ lợi ích trong việc kiềm chế tham vọng bành trướng của Trung Quốc tại khu vực.
Tháng 11 năm 2024, hai nước đã tiến hành cuộc tập trận quân sự song phương VINX2024,
tập trung vào nâng cao năng lực y tế và kỹ thuật
trong khuân khổ các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.
Dù quy mô nhỏ, cuộc tập trận này đã phản ánh sự đồng thuận chiến lược giữa hai bên.
Việt Nam còn đóng vai trò quan trọng trong chiến lược chuỗi kim cương của Ấn Độ
đối trọng với chuỗi ngọc chai của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương.
Trước các hành động mang tính xâm lược của Trung Quốc trong khu vực,
đặc biệt đối với Philippines, đồng minh hiệp ước của Hoa Kỳ,
Việt Nam đang kiên quyết nâng cao năng lực phòng thủ,
mà không quá phụ thuộc vào bất kỳ cường quốc nào.
Hỗ trợ từ Mỹ vẫn đóng vai trò quan trọng, nhưng Việt Nam đặt trọng tâm
vào việc tự chủ và sẵn sàng ứng phó theo cách riêng của mình.
Trong suốt triều dài lịch sử hơn 2 thế niên kỷ, Việt Nam đã luôn dũng cảm
đứng lên phản bác các yêu sách phi lý từ Trung Quốc trong khu vực,
bất chấp nguy cơ xảy ra căng thẳng.
Hiện tại, Việt Nam đã xây dựng các tiền đồn trên quần đảo Trường Sa,
tương tự như Trung Quốc.
Bắc Kinh kiểm soát 3 thực thể lớn nhất tại quần đảo Trường Sa,
đó là đá vành khăn, đá subi và đá trự thập.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng nắm giữ 5 trong số 7 thực thể lớn nhất còn lại,
bao gồm đảo Trường Sa, hay còn gọi là đảo Trường Sa lớn,
thực thể lớn thứ 4 trong khu vực.
Dữ liệu vệ tinh từ Sáng kiến Minh Bạch Hàng hải Châu Á,
một nhánh của Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế CSIS cho thấy,
Việt Nam đã bồi đắp 280 hectare trên 10 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa
từ tháng 11 năm 2023 đến tháng 6 năm 2024.
Con số này vượt xa các năm trước, với 163 hectare từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2023,
138 hectare trong năm 2022 và 133 hectare năm 2021.
Như vậy là chỉ trong vài năm ngắn ngủi, Hà Nội đã đạt được những tiến bộ vô cùng lớn.
Tổng diện tích bồi đắp của Việt Nam hiện là 955 hectare,
bằng khoảng một nửa so với 1881 hectare mà Trung Quốc đã hoàn thành
trong hơn một thập kỷ qua.
Trong khi Bắc Kinh bắt đầu từ năm 2013, Việt Nam chỉ mới tăng tốc từ năm 2020.
Nhờ đó, đảo Trường Sa lớn của Việt Nam đã đạt chiều dài 4.318 mét,
đủ điều kiện để xây dựng đường băng quân sự tương tự như các cơ sở
trên đảo kiên cố của Trung Quốc.
Ngoài ra, các hòn đảo còn lại cũng được trang bị mạng lưới hào
và hệ thống phòng thủ ven biển mới,
cùng với bãi đắp trực thăng tạm thời tại một số địa điểm.
Nhưng điều bất ngờ là Trung Quốc không có nhiều động thái phản đối
trước sự hiện diện ngày càng mạnh mẽ của Việt Nam tại Biển Đông.
Trong khi Bắc Kinh áp dụng các biện pháp trừng phạt cứng rắn với Philippines,
họ lại thật trọng hơn khi đối mặt với Việt Nam.
Mặc dù có thể Trung Quốc không muốn mở rộng căng thẳng cùng lúc với nhiều quốc gia
và tránh đẩy Việt Nam vào các liên minh đối kháng mạnh mẽ hơn.
Jack Cooper, chuyên gia tại Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ và Greg Pauling,
giám đốc sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á thuộc CSIS,
khi phân tích trên truyền trang War on the Rocks, đã nhận định rằng lý do này chưa thực sự thuyết phục.
Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, Trung Quốc đã đồng loạt mở ra nhiều cuộc đối đầu
với lãnh thổ với các quốc gia láng giềng, từ quần đảo Senkaku gần Nhật Bản
đến dãy Himalaya đầy biến động ở biên giới biên độ.
Một Trung Quốc tự tin và quyết đoán hơn bao giờ hết đã trở thành dấu ấn của nhiệm kỳ này.
Tuy nhiên tại sao Bắc Kinh không đẩy mạnh các động thái với Việt Nam?
Nhiều chuyên gia tin rằng lý do là vì Việt Nam được xem là một đối thủ khó bị khuân phục.
Theo các báo cáo của Cooper và Pauling, giới chức Trung Quốc tin rằng Philippines sẽ chấp nhận
nhượng bộ theo ý muốn của Bắc Kinh, đặc biệt là sau nhiệm kỳ của Tổng thống Duterte
từ năm 2016 đến 2022.
Những nỗ lực xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc của Duterte,
dù nhằm giảm bớt phụ thuộc vào Mỹ, đã vô tình khiến Bắc Kinh tin rằng
họ có thể dễ dàng áp đặt ý chí của mình lên Manila mà không gặp nhiều trở ngại.
Ngược lại thì Việt Nam đã nhiều lần thể hiện sự sẵn sàng phản kháng trước sức ép của Trung Quốc.
Các cuộc đối đầu vào năm 1974 và 1988, dù kết thúc không có lợi cho Hà Nội,
nhưng cũng đã gửi đi một thông điệp mạnh mẽ rằng Việt Nam sẵn sàng chiến đấu nếu cần.
Thêm vào đó, cuộc chiến biên giới năm 1979 là một bài học cay đắng cho Trung Quốc
khi Quân Giải phóng Nhân dân PLA phải đối mặt với sức mạnh của một đội quân
có kinh nghiệm chiến đấu dây dạn như Việt Nam.
Điều đáng nói là lãnh đạo quân sự cấp cao của Trung Quốc ngày nay như là tướng Trương Hữu Hiệp
và tướng Lý Tác Thành đều từng tham gia cuộc chiến biên giới với Việt Nam.
Chính những kinh nghiệm trực tiếp từ chiến trường đã giúp họ hiểu rõ khả năng
và ý chí của quân đội Việt Nam, khiến Bắc Kinh phải cân nhắc kỹ
trước khi có những động thái hung hàng hơn.
Không chỉ dựa vào lịch sử, Việt Nam hiện tại vẫn là một lực lượng đáng gờm,
với tổng số quân nhân bao gồm cả lực lượng dự bị đứng thứ ba thế giới, khoảng 5,83 triệu người.
Việt Nam sở hữu tỷ lệ quân sự cao đáng kể,
cứ 1.000 người thì có 56,9 người tham gia lực lượng vũ trang.
Quân số thường trực của Việt Nam tuy nhỏ hơn Trung Quốc,
nhưng luôn thể hiện khả năng tác chiến hiệu quả và sự sẵn sàng đối mặt với bất kỳ thách thức nào.
Thậm chí Trung Quốc không cần phải nhớ lại lịch sử xa xôi để hiểu điều này.
Những xô đột gần đây đã đủ để họ nhận ra sức mạnh thực sự của Việt Nam
và sự quyết tâm trong việc bảo vệ chủ quyền của dân tộc này.
Vào ngày 1 tháng 5 năm 2014, Trung Quốc triển khai gian khoan dầu Hải Dương 981
cùng ba tàu vệ tinh từ đảo Hải Nam tiến về phía nam.
Con tàu được Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc gọi là vũ khí chiến lược này
đã áp sát đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Khu vực này là tâm điểm tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc,
nhưng hành động của Bắc Kinh đã thách thức danh giới pháp lý.
Gian khoan Hải Dương 981 sau đó tìm cách khoan thăm dò
tại hai lô dầu khí thuộc quyền quản lý của Việt Nam, dù không tiến đến khai thác.
Vị trí đặt gian khoan cách đảo Lý Sơn của Việt Nam 120 hải lý về phía đông
và cách đảo Hải Nam 207 hải lý về phía nam tạo nên căng thẳng
tại khu vực giới hạn kinh tế đặc quyền được quy định trong UNCLOS.
Gian khoan này nằm gọn trong vùng thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam
theo đường phân định lãnh thổ.
Sau bài học từ sự kiện bãi cạn Scarborough năm 2012,
Việt Nam đã nhanh chóng khẳng định chủ quyền,
triển khai tàu cảnh sát biển và kiểm ngư nhằm ngăn cản hoạt động thăm dò trái phép của Trung Quốc.
Ngày 3 tháng 5, các tàu Việt Nam đã tìm cách cản trở hoạt động vào gian khoan,
buộc Bắc Kinh phải điều thêm tàu hải cảnh, tàu cá dân sự
và có thể là tàu hải quân PLA đến bảo vệ.
Họ lập thành nhiều lớp vành đai bảo vệ, chiến thuật quen thuộc trong các tranh chấp trên biển.
Xung đột xảy ra ngay lập tức với các vụ va trạm và cáo buộc lẫn nhau.
Đến ngày 7 tháng 5, Hà Nội báo cáo sự hiện diện của 60 tàu
cùng hàng chục máy bay Trung Quốc, trong khi Việt Nam tăng cường con số lên 29 tàu.
Dù bị hư hỏng, các tàu Việt Nam được sửa chữa khẩn cấp và nhanh chóng trở lại đối đầu.
Tại Việt Nam, các cuộc biểu tình lớn phản đối hành động của Trung Quốc
đã diễn ra ngay trước cửa Đại sứ quán Hà Nội.
Sự việc leo thang vào ngày 13 tháng 5 khi biểu tình chuyển thành bạo loạn,
dẫn đến nhiều nhà máy của doanh nghiệp Trung Quốc bị phá hoại.
Ít nhất 200 người bị bắt vì hành vi bạo lực.
Bắc Kinh nhanh chóng phản ứng mạnh mẽ, cáo buộc Việt Nam đứng sau kích động bạo loạn,
đồng thời đưa ra cảnh báo du lịch.
Từ đó, căng thẳng trên biển cũng ngày càng giao tăng.
Bắc Kinh tố cáo Hà Nội huy động 60 tàu đến khu vực,
trong khi phía Việt Nam lại khẳng định Trung Quốc đã triển khai từ 130 tàu
với kích cỡ và công nghệ vượt trội.
Mặc dù vậy, Việt Nam không nao núng trước nỗ lực khai thác dầu mò của Trung Quốc
tại vùng biển tranh chấp.
Thậm chí khi một tàu cá của Việt Nam bị chìm sau va chạm
và có tin đồn Trung Quốc điều quân đến biên giới phía Nam, Hà Nội vẫn không nhượng bộ.
Đáng chú ý, vào ngày 27 tháng 5, Trung Quốc đột ngột chấm dứt bế tắc
khi rút giàn khoan dầu khỏi khu vực, đưa nó về phía đông bắc đảo Tri Tôn.
Một quan chức cấp cao của Trung Quốc cũng đã có chuyến thăm Hà Nội,
trung hợp với việc các tàu hải cảnh Trung Quốc và giàn khoan bắt đầu rút lui.
Đến ngày 15 tháng 7, giàn khoan hoàn toàn rơi khỏi khu vực,
sớm hơn dự kiến một tháng, đánh dấu thất bại lớn của Bắc Kinh
trong nỗ lực áp đặt tại Biển Đông.
Các cuộc đối đầu vào năm 2019 và 2023 tiếp tục cho thấy Việt Nam không ngần ngại
đứng lên trước sức ép từ Trung Quốc.
Với sự hợp tác ngày càng chặt chẽ với các đối tác quốc tế,
Hà Nội đặt mục tiêu củng cố sức mạnh để đối phó hiệu quả hơn
với các yêu sách phi lý của Bắc Kinh trong tương lai.
Trung Quốc rõ ràng không muốn lặp lại những thất bại cay đắng này.
Bắc Kinh cũng thận trọng để không đẩy Việt Nam vào thế xây dựng
một liên minh mạnh mẽ hơn cho khu vực.
Gần đây, Việt Nam đã thực hiện nhiều bước để cải thiện quan hệ song phương.
Đáng chú ý, vào tháng 12 năm 2023, chỉ 3 tháng sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Joe Biden,
Chủ tịch Tập Cận Bình đã đến Hà Nội,
thúc đẩy khí kết một tuyên bố chung dài 16 trang và 36 văn kiện hợp tác.
Các thỏa thuận này bao gồm nhiều lĩnh vực quan trọng,
từ cơ sở hạ tầng như xây dựng cầu nối tỉnh Vân Nam với Lào Cai qua sông Hồng,
cho đến việc phát triển đường sắt liên vận kết nối miền Nam Trung Quốc
với các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Ngoài ra, hai nước còn đạt được thỏa thuận về công nghệ xanh, phát triển kinh tế và thương mại.
Đặc biệt, hai bên cam kết hợp tác an ninh và thiết lập đường dây nóng giữa Bộ Đông nghiệp Việt Nam
với cảnh sát biển Trung Quốc nhằm giải quyết các sự cố nghề cá ở Biển Đông,
tổ chức cứu hộ chung và thậm chí là thực hiện tuần tra hải quân chung của vịnh Bắc Bộ.
Gần đây, Trung Quốc cũng đã tăng mạnh lượng sầu riêng nhập khẩu từ Việt Nam,
nhưng các động thái mới đây lại dường như đi ngược lại mối quan hệ đối tăng này.
Đầu tháng 12, hải quân Trung Quốc đã đình chỉ các lô hàng từ 33 nhà cung cấp sầu riêng Việt Nam,
viện dẫn lý do liên quan đến vấn đề chất lượng.
Tuy nhiên thực tế cho thấy đây chỉ là cây cớ khi mà Trung Quốc đang cố gắng bảo vệ
2.700 hectare sầu riêng trồng tại đảo Hải Nam,
nơi gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với sản phẩm từ Việt Nam.
Đây thực chất là cuộc chiến danh thị phần.
Không chỉ dừng lại ở việc hạn chế nhập khẩu trái cây tươi,
Trung Quốc còn tìm cách kiểm soát các ngành công nghiệp quan trọng hơn.
Tuy nhiên, một ví dụ điển hình là việc họ cố gắng thống trị thị trường toàn cầu
bằng cách bán thép với giá thấp hơn chi phí sản xuất.
Trong 11 tháng đầu năm 2023, Việt Nam đã nhập siêu thép từ Trung Quốc lên tới 4 tỷ USD.
Đáp lại, từ tháng 12 năm 2023, Hà Nội đã áp thuế chống bán pha giá từ 4-22%
lên một số loại thép nhập khẩu từ Trung Quốc.
Tháng 6 năm 2024, Việt Nam tiếp tục mở cuộc điều tra chống bán pha giá với thép Trung Quốc và Hàn Quốc.
Điều này minh chứng rằng Việt Nam không dễ bị cuốn vào các chiến thuật hứa hẹn viển vông của Trung Quốc.
Có thể nói, xét thổng thể, Việt Nam là một quốc gia với lịch sử kiên cường chống lại áp lực từ phương Bắc.
Dù phải đối mặt với những rủi ro không nhỏ, Việt Nam, với sự hiểu biết sâu sắc về Trung Quốc
so với nhiều quốc gia láng giềng khác, đã có những hành động thích hợp.
Dù không thể ngăn Trung Quốc chiếm Hoàng Sa hay phần lớn Trường Sa, Việt Nam vẫn luôn sẵn sàng chiến đấu,
ý chí đó đôi khi đủ sức khiến kẻ bắt nạt phải trùn bước.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay của chúng tôi cũng xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị để lại quan điểm cá nhân ở phần dưới. Xin chào và hẹn gặp lại!
