Đàn Nam Giao - Tập 1 - Tuần Phim Tài liệu Hà Nội

King Kong Film
76 Người theo dõi
19 Lượt xem video·7 thg 1, 2025
Người xưa quan niệm tam tài bao gồm trời, đất và người hợp thành vũ trụ, con người luôn ở giữa.
Trời là cõi minh mang hình tròn trên đầu, đất là cõi bao la, hình vuông, nơi con người tựa vào để làm ra của cải.
Tế trời và tế đất không thể thiếu với người xưa.
Đàn tế trời, đất luôn luôn là một công trình kiến trúc tín ngưỡng cung đỉnh không thể thiếu, ít nhất ở Việt Nam là từ thời lý.
Ở Việt Nam, đàn Nam Giao là nơi tế trời, đất, linh vị các tiên đế đương chiều vào một ngày tốt đầu xuân hàng năm và do chính nhà vua trực tiếp tế.
Việc quy định 2-3 năm một lần làm đại lễ tùy thuộc vào mỗi vương chiều.
Tế Nam Giao được quan niệm là lễ tạ ơn, báo cáo với trời đất về sự hiện diện của vương chiều, cầu mong sự trường tồn của một chiều đại, sự thinh vượng của quốc gia, của quốc thái, dân an.
Đàn Nam Giao thường thường ở một kinh thành được làm ở phía Nam, cách kinh thành khoảng 2-3km.
Khi lễ Nam Giao, vua và các chiều thần đi bộ, cho nên khoảng cách tương đối hợp để tổ chức một nghi lễ.
Nghi lễ tế Giao là một trong nghi lễ rất quan trọng của một chiều đình.
Phan Huy Chú đã dẫn sách Chu lễ, xét lễ tế Giao lời cổ có 2 nghĩa.
Một là tế để đón hỏa khí, tức như trong sách Chu lễ nói, đông trí tế trời ở đàn viên khâu.
Hai là tế để cầu được mùa, tức là như thiên ngược lệnh.
Kinh lễ nói, ngày mùng 1 tháng riêng, vua tế trời để cầu được mùa.
Đời sau, lễ tế ở đàn viên khâu và đàn phương trạch không làm nữa, chỉ có đầu xuân tế Giao, hợp tế cả trời đất.
Đàn tế thường được xây lộ thiên, mô thức kiến trúc này vừa mang ý nghĩa tôn giáo, vừa mang yếu tố chính trị của nền quân chủ đông phương.
Trong đó vương quyền được kết hợp chặt chẽ với thần quyền.
Đàn tế Nam Giao thể nguyễn hộp 3 tầng, dưới lớn, trên nhỏ, trồng lên nhau, mang biểu tượng thiên, địa, nhân hợp nhất.
Mỗi tầng mang hình dạng và màu sắc riêng, trời tròn đất vuông, thiên thạch địa hoàng.
Tầng dưới dụng hình vuông, can xung quanh quét vôi màu đỏ, tự trưng cho con người.
Tầng thứ 2 cũng có hình vuông, gọi là phương đàn, tự trưng cho đất.
Mỗi lần tế, người ta dựng lên ở đó một cái nhà vuông lập đoài vàng, nhỏ hơn nhà trên, gọi là hoàng ốc.
Tầng trên cùng hình tròn, gọi là viên đàn, tự trưng cho trời.
Hình thức, phương hương và màu sắc của kiến trúc đàn Nam Giao đều áp dụng nguyên tắc âm dương vũ hành của dịch học.
Trong lịch sử đàn tế Nam Giao nước ta, có 5 triều đại không kiến lập đàn tế Nam Giao.
Đó là các triều Lý, Hồ, Lê, Tây Sơn, Nguyễn.
Riêng triều Trần và triều Mạng sử dụng đàn tế Nam Giao của các triều trước.
Đàn Nam Giao ở Kinh Đô Thăng Long được xây dựng từ thời Lý.
Đàn Nam Giao ở Thanh Hóa do Hồ Hán Khương xây dựng trên giấy đúng Sơn vào năm 1402.
Đàn Nam Giao ở Vạn Lại, xã Xuân Châu, viện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa
do Vua Lê Thế Tông Niên Hiệu Quang Hương thứ nhất năm 1578 xây dựng.
Đàn Nam Giao ở Kinh Đô Thú Xuân của triều Tây Sơn.
Đàn Viên Khâu thời Tây Sơn do Quang Toàn Đắc ở ngoài cửa liễu thị Hà Nội.
Đàn Nam Giao ở Kinh Thành Huế của quân triều Nguyễn được xây dựng năm 1806.
Đàn Nam Giao ở Kinh Thành Thăng Long có một lịch sử phát triển và tồn tại lâu dài nhất so với những đàn Nam Giao hiện biết.
Đàn Nam Giao Thăng Long trạch qua các triều đại Lý, Trần, Lê và một phần của thời Tây Sơn
đã được ghi chép trong khá nhiều sử sách, đề ký và nghiệp bạo cổ ở nước ta
như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tiến Văn Tiểu Lục, Lê Triều Hội Biển, Vũ Trung Tủy Bút, Không Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục.
Đàn Nam Giao cổ nhất là đàn Nam Giao của Kinh Thành Thăng Long.
Nếu mà theo sử của ta chép trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư,
thì vào thời Lý Anh Tông năm 1154 có nhắc đến việc Lý Anh Tông xài các quan đại thần ra phía Nam của Kinh Thành Thăng Long để đắp đàn Viên Khâu và Vũ Đàn.
Sự kiện đắp đàn Viên Khâu là 1154, còn đắp Viên Đàn là 1137.
Thực ra trong quá trình chúng tôi khai quật thì đã phát hiện ra được những viên gạch thời Lý, Lý Anh Tông là có liên đại 1057.
Đó là viên gạch ghi chữ có in hàng chữ là Lý Gia Đệ Tam Đế, Long Thụy Thái Bình, Tứ Liên Đại.
Với những di vật mà đã đạo được thì lịch sử của đàn Nam Giao Thành Thăng Long có sớm hơn trước cả lúc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư vi chép.
Các bản đồ Thành Đâu Kinh của tập Hồng Đức bản đồ đều ghi nhận đàn Nam Giao ở gần phía Nam Thành Đại La.
Trên bản đồ vẽ Thành Thăng Long thời Hồng Đức năm 1490 còn thấy vùng đất kia Nam mênh mông đầm nước bao bọc suốt từ đại hồ Văn Lâm Khang đến sát gần đàn Nam Giao.
Trên bản đồ Hà Nội năm 1806-2008 đã truyền cuộc nhận định này.
Năm 2007 do yêu cầu xây dựng một số công trình ở đây, Viện Khảo Cụ Học đã tiến hành khai cuộc 3 đợt sân nền ngắt gạch cổ đặc trưng thời lê,
lẫn các loại gạch phía trước của nhiều di vật như gói, nầu mê, v.v.
Đặc biệt đã phát lộ di tích kiến trúc hình chữ công.
Hẹp nhất là 8 đây là bình đồ kiến trúc hình chữ công.
Trong đợt khai cuộc năm 2007, chúng tôi đã phát hiện được một phần của đàn Nam Giao.
Đáng kể nhất là kiến trúc hình chữ công khá lớn.
Cách thức xây dựng cũng như vật liệu xây dựng mang hoàn toàn dấu vết văn hóa thời Lý Trần.
Ví dụ như ở đây chúng tôi tìm thấy được một cái lền nhà hình chữ công,
thì cái lền nhà này tương yếu lớn.
Cái thứ hai là tìm thấy cả một cái hệ thống trụ móng bằng sành,
rồi cũng thấy Lý như là hệ thống trụ móng sọ của thời Trần.
Lễ Tế Giao trải qua hàng mấy trăm năm ở Kinh Đô đã trở thành nét văn hóa của người dân Kinh Kỳ.
Đàn Nam Giao còn là một điểm quan trọng nằm trong trục Bắc Nam mà hoàn thành là trung tâm.
Trên trục này có thể góp phần xác định hệ thống đàn Tế, đàn Thờ, đàn Co Chuyên Văn
và các kiến trúc khác bao quanh hoàn thành Thăng Long.
Loại hình di thích này rất đặc biệt, không phổ biến, lại bị phá hủy nhiều nên sự hiểu biết về chúng còn rất hẳn chế.
Cho tới thời điểm hiện tại, những công trình nghiên cứu về di thích đàn Nam Giao còn rất hiếm hoi.
Các nhà khoa học cũng không ngừng nghiên cứu và tìm kiếm các thư liệu khoa học với quy mô
kiến trúc đàn Nam Giao qua các triều đại phong kiến,
với khối lượng hàng vạn hiện vật đã lộ diện trong các cuộc khai cuộc khảo cổ học
bước đầu phần nào cho ta thấy được vai trò của đàn Nam Giao trong các triều đại lịch sử.
Được coi là một trong số rất ít đàn Nam Giao cổ nhất nước ta,
chỉ sau đàn Tế Nam Giao của thời nhà Lý, đó chính là đàn Tế Nam Giao nhà Hồ.
Đàn này do Hồ Hán Thương xây dựng dưới chân núi Đốn Sơn, xã Vĩnh Thành,
huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa vào năm 1402.
Tuy mức độ không cổ bằng đàn Nam Giao Thăng Long,
nhưng theo các nhà nghiên cứu và khoa học cổ học,
đây thuộc vào loại đàn Tế có cấu trúc tương đối rõ ràng và phức tạp nhất.
Những bí ẩn của nó đã bắt đầu được khẽ lộ từ năm 1920.
Nam Giao thành nhà Hồ do Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương xây dựng,
xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 15.
Hiện nay đây là đàn duy nhất có cấu trúc xây bằng đá,
dùng vật điệu kiến trúc bằng đá.
So với các nước gần đây, đây cũng là một trong những điện tương đối đặc biệt
của đàn Nam Giao Thanh Hóa và cũng là đặc thù của Thanh Hóa,
nó là một vùng rất là nhiều núi đá
và cũng là một trong những kỹ thuật, phản ánh kỹ thuật xây dựng của nhà Hồ.
Rất là giỏi trong việc xây dựng thành quách,
rồi là các công trình kiến trúc khác bằng đá.
Trang vàng của thành Hoàng Lế,
kinh đô đầu tiên của nhà Tây Sơn khép lại đã hơn 200 năm,
nhưng được thu lại ngắn hơn khi di tích đàn Nam Giao được phát hiện.
Cuộc khai quần di tích thành Hoàng Lế từ Viện Khảo Củ Học Việt Nam
phối hợp với Bảo tàng Tổng hợp Bình Định,
thực hiện vào cuối năm 2007,
đã làm lộ ra một phần hai móng trong ngoài của đàn Nam Giao,
với gạch và một ít đá ong.
Từ những phát lộ và hiện vật thu được,
các nhà Khảo Củ Học đã có được cứ liệu
để khẳng định về sự hiện diện của đàn Nam Giao tại tỉnh Tường Định.
Chúng ta đang ở trung tâm đàn Nam Giao
của Vương Triều Thái Đức của phong trào nông dân của người Tây Sơn.
Sau khi năm 1776,
Nguyễn Nhạc đã xây thành Hoàng Đế
để làm nơi định đô cho Vương Triều mình,
ông ta đã chọn địa điểm đẹp nhất
ở phía Tây Nam thành
để xây dắt đàn Nam Giao
làm nơi đại diện cho Vương Triều mình
là nơi tế cáo trời đất
của Vương Triều Tây Sơn trong lịch sử.
Và cái đàn Nam Giao tồn tại cho đến ngày nay.
Thành Hoàng Đế hiện nay nằm trên địa phận thôn Nam Tân,
Bắc Thuận, xã Nhân Hậu và Bà Canh,
thị trấn Đập Đá, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Thành gồm có ba lớp thành,
thường gọi là thành ngoại, thành nội và từ cấm thành.
Về phía góc tây nam của thành ngoại có một quả đồi cao
hình tròn như bát út.
Đây là quả đồi cao và to nhất trong thành Hoàng Đế.
Nhân dân thường gọi là gò chùa.
Chính trên gò chùa này,
khảo cổ học đã phát hiện di tích đàn Nam Giao.
Khu đất có độ cao 37,5 mét so với vùng đất biển.
Các nguồn tư liệu lịch sử cho thấy,
nhà Tây Sơn từ khi khởi thiệp lập Vương Triều đầu tiên
đến khi lên ngôi lần cuối cùng
đều rất chú trọng đến việc tế trời đất.
Với quan niệm thánh nhân vâng theo đảo trời mà chỉ nước thương dân,
khi đóng đô, nhà Tây Sơn đều chú trọng xây dựng đàn Nam Giao để tế trời đất.
Trong ba đàn Nam Giao của nhà Tây Sơn,
có thể thấy đàn Nam Giao tại kinh thành Hoàng Đế
được xây dựng đầu tiên, khởi đầu cho hệ thống đàn Nam Giao xây dựng sau này.
Kết quả khai cuộc cho thấy,
dưới lớp đất màu đỏ đã tìm thấy di tích nền lát bằng gạch hình vuông và đá ong.
Quanh đỉnh hình tròn còn có dấu tích kè gạch và đá ong thu dần lên đỉnh,
đầm nện vào đất đồi màu đỏ lẫn sói đá kiên cố.
Tại mặt đông của sườn đàn đã phát hiện dấu tích bậc lên xuống xây bằng gạch.
Dưới đỉnh đàn hình tròn là một cấp nền hình gần vuông.
Như vậy, có thể thấy đàn Nam Giao của thành Hoàng Đế xây dựng theo mô hình quy chuẩn là
trên tròn, dưới vuông, tự chưng cho trời tròn và đất vuông.
Cuộc khai cuộc đã chú trọng làm sáng tỏ
cái di tích kiến trục đàn Nam Giao của nhà Tây Sơn xây dựng trong lịch sử.
Có 3 nguồn để khẳng định về vị trí của đàn Nam Giao.
Thứ nhất là về tài liệu lịch sử có nói là đàn Nam Giao của nhà Tây Sơn
được xây dựng ở phía Nam, phía Tây Nam của thành Hoàng Đế.
Nếu lấy từ cấm thành làm trung tâm,
thì địa điểm mà chúng ta khai cuộc là nằm ở phía Tây Nam,
phù hợp với tư liệu lịch sử.
Cái thứ hai, về tài liệu khảo sát,
thì đàn Nam Giao theo điển lễ là nơi tế trời đất của một vương chiều.
Cho nên, qua khảo sát trên địa bàn,
thì đây là vị trí cao nhất trong tổng thể các di tích kiến trục của thành Hoàng Đế
bởi vì địa điểm này cao 37,5m so với mặt biển.
Thay là cấu trúc của địa hình này là nó thỏa mãn được yêu cầu về điển lễ của đàn Nam Giao.
Cái yếu tố thứ ba để khẳng định đây là đàn Nam Giao
bởi vì qua các cuộc thái quật học cổ đã làm xuất lộ
cái nền móng kiến trúc hiện còn của đàn Nam Giao
mà nhà Tây Sơn xây dựng trong lịch sử.
Nó thể hiện qua những vật liệu xây dựng và cách đố trí xây dựng trên mặt đàn.
Là những vật liệu này được sản xuất dưới thời Tây Sơn
và sử dụng xây dựng trong những công trình kiến trúc quan trọng nhất
trong vùng đất Hoàng Cung của Triều Đình Tây Sơn là vùng đất Tử Cấm Thanh.
Với ba nguồn tư liệu mà đã nêu trên chúng tôi có thể nói rằng
đây chính là địa điểm đàn Nam Giao của nhà Tây Sơn trong lịch sử.
Những đàn Tế Trời của các thời Lý, Trần, Lê, Hồ, Tây Sơn
hiện tại chỉ còn là các viết tích những hiện vật tìm được qua các đợt khai cuộc khảo cổ.
Đàn Nam Giao Triều Nguyễn ở Huế là di tích Tế Trời duy nhất còn lại tương đối nguyên vẹn
tại nước ta cho tới thời điểm này.
Tuy nhiên, so với cấu trúc của đàn Nam Giao Thành Thăng Long và Thành Nhà Hồ
cũng có những điểm khác biệt.
Ở Huế xưa nay có bốn vị trí xây đàn Nam Giao khác nhau
để các vua chúa lên Tế Trời hàng năm hoặc ba năm một lần.
Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Lan năm 1635 đến năm 1648,
đàn Tế Trời được khiết lập ở một khoảng đất thuộc làng Kim Long
gần nơi Chúa Dòng Thù Phụ.
Qua Triều Tây Sơn năm 1788 đến năm 1801,
lễ Tế Trời diễn ra ở một ngọn đồi gần phía tây núi Ngựa Bình
gọi là Hòn Thiên hay núi Ba Tầng.
Đến thời các vua nhà Nguyễn, ngay sau khi lên ngôi năm 1802,
vua Gia Long cho đắp đàn ở làng An Ninh vào năm 1803 để Tế Trời.
Nhưng sau đó ba năm, năm 1806,
triều đình nhà Nguyễn lại bỏ vị trí ấy để xây dựng đàn Tế khác
ở làng Dương Xuân, phía nam của Kinh Thành,
nay là địa phận phường Trường An, thành phố Huế.
Đàn Tế Trời Nội Thiên này được khởi công xây dựng vào ngày 25 tháng 3 năm 1806
do Thống chế Phạm Văn Nhân đứng ra điều khiển.
Kiến trúc của đàn gồm ba tầng trồng lên nhau,
ngoài ra còn có một số loại nhà phụ trợ được làm cố định hoặc tạm thời.
Thời gian công trình hoàn thành không được sửa sách ghi lại,
nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có lẽ đàn được xây xong vào cuối năm 1806
vì triều đình Gia Long đã cử hành lễ Tế Giao đầu tiên tại đây năm 1807.
Đàn Nam Giao thời Nguyễn gắn liền với Thuyết Thiên Mệnh của Nho Học.
Bên trong khuôn viên hình chữ Nhật, đàn Tế được xây thành ba tầng.
Dưới lớn, trên nhỏ, tự trưng cho Thuyết Tam Tài Thiên Điện Nhân.
Ba tầng cộng lại cao 4,65 mét.
Đàn quay mặt về hướng Nam, vòng tường bằng đá,
trung quanh khuôn viên của đàn có chỗ bốn cửa trống rất rộng,
nhằm theo bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc.
Trước mỗi cửa xây một bình không lớn, rộng 12,5 mét,
cao 3,2 mét, dày 0,08 mét.
Trong dịp Tế, trước mỗi cửa cắm hai lá cờ đại với màu sắc khác nhau,
cửa Bắc màu đen, cửa Nam màu đỏ, cửa Đông màu xanh, cửa Tây màu trắng.
Cũng ở Triều Nguyễn, theo Thuyết Thiên Mệnh của Nho Học ngày xưa,
vua là thiên tử, đảm nhận thiên lệnh của trời, cai trị thiên hạ.
Chỉ vua mới có quyền cúng Tế chở đất ở đàn Nam Giao.
Từ thời Gia Long năm 1802 đến năm 1820,
lễ Tế Giao được thực hành vào thượng tuần tháng 2 âm lịch.
Đến thời Thành Thái năm 1889 đến năm 1907,
vì thấy quá tốn kém nên triều đình thay đổi ba năm mới Tế một lần,
vào các Nam tím, mão, ngọ, rậu.
Trước kia, dưới Triều Nguyễn mỗi lần Tế,
vua lên ở lại tại Trai Cung trước ba ngày.
Từ Hoàng Cung, vua đi lên Trai Cung vào một đám rước gọi là ngự đạo,
khoảng từ 600 đến 3.000 người, tùy từng thời vua.
Đám rước chia thành ba đạo, tiền đạo, trung đạo và hậu đạo.
Ngự đạo có thể dài đến nửa cây số,
gồm các hoàng thân, các quan văn võ, lính tráng,
hương giáo, cờ quạt, chứa nghiễm, tàng lọng,
chim trống, voi ngựa, các loại đại nhạc, tiểu nhạc,
các đội ca múa, v.v.
Tất cả mặc phục lễ và trang sức rực rỡ.
Vua ngồi trấn ngựa miễn do lính loan ra gánh đi ở giữa trung đạo.
Vua khởi hành từ Hoàng Cung lúc 8 giờ sáng,
nhưng phải gần đến 12 giờ trưa mới tới Trai Cung
vì đoàn ngựa đạo đi rất chậm.
Ngày hôm sau, cuộc đại lễ chính thức bắt đầu từ khoảng 2 giờ sáng.
Dưới mặt đêm yên ả, tiếng chuông trống bỗng vang lên,
hàng trăm ngọn đuốc, hàng ngàn cây đèn được thắp lên
làm sáng rực cả một góc trời.
Vua rời Trai Cung, ngựa qua đứng trên viên đàn làng chủ tế.
Nhiều hoàng thân, đại thần được cử làm bồi tự,
phân huyến, chấp sự, đứng hai bên để hành lễ trước các án thờ phụ.
Nhưng lễ cúng tế ở đàn Nam Giao hết sức khó khăn và phức tạp.
Nhất cử nhất động, vua và các quan phải làm theo tiếng sướng
của các quan thông tán và nội tán.
Trình tự của lễ tế với các nghi thức lễ ngânh thần,
lễ điện ngọc bạch, lễ tấn trở, lễ hiến tước,
lễ tứ phúc tộ, lễ triệt soạn lần lượt diễn ra uy nghiêm,
kính cẩn như tấm lòng thành của cả vua quan cùng môn dân
dâng lên trời đất và các vị thần linh
để cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.
Trong khi hành lễ có cử đại nhạc gồm trung trống,
chiêng, khánh, tù và,
tiểu nhạc gồm tì, nhị, nguyệt, sáo,
văn võ vũ sinh múa bát giật
và các ca công hát 10 nhạc trương
trong 10 đoạn khác nhau của buổi lễ.
Cuộc tế kéo dài gần 3 tiếng lâu hồ mới xong,
vua Ngự về chai cung.
Đến sáng, các hoàng thân và đại thần tập hợp
tại sân chai cung để làm lễ khánh hạ.
Họ lại mừng vua vừa hoàn thành nhiệm vụ cao cả nhất của mình.
Ngay sau đó, Ngự đạo trở về hoàng cung
nghi trượng cũng sắp xếp như khi đi lên,
nhưng lần này thì có cử nhạc vui suốt trên lộ trình.
Trước đây, trong những ngày diễn ra lễ tế,
từ triều đình cho đến dân chúng ở kinh đô đều nô nức, hấn hở.
Dân chúng kéo nhau đi xem như hội.
Một số quan lại và dân chúng ở các tỉnh thành trong nước
cũng kéo về Huế tham gia hoặc chiêm ngưỡng
cuộc lễ long trọng, hoành tráng, đầy màu sắc và hết sức hấp dẫn này.
Những năm trở lại đây, lễ Nam Giao được đánh giá là
lễ hội có khuy mô hoành tráng nhất của các kỳ festival Huế.
Các hoạt động của lễ tế được đánh giá là chân sắc đến từng chi tiết.
Từ những điểm nhẫn quan trọng như đàn tế, đoàn ngựa đạo,
voi, ngựa, kiệu rước, trang phục,
cho đến những chi tiết nhỏ nhất như đồ vàng mã, cờ quạt,
binh khí, nhà khí, v.v.
đều được trú trọng đến tính chính xác
cho đúng như nguyên mẫu của lễ tế trong quá khứ.
Từ tế Nam Giao, một lễ hội cung đỉnh
có ý nghĩa nhân văn sâu sắc
mà trên hết là tinh thần hòa ái với thiên nhiên
với ước nguyện mưa thuận gió hòa,
quốc thái dân an, thiên hạ thái bình.
Lễ hội Nam Giao được phục dự
nhằm tôn vinh bài đạp truyền thống trên cơ sở kế thừa
giàu tính nhân văn.
Đó cũng là những điển hình tiêu biểu
cho một vùng đất có nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp
được hôn đúc và tiếp diễn theo những hành trình lịch sử.
Trong nhịp sống sôi động của đất nước đang vươn mình ra biển lớn,
việc tổ chức một lễ tế hoành tráng,
trang trọng và linh thiêng như lễ tế Nam Giao
thật sự là một khoảng lặng để mỗi chúng ta
có những giây phút sống chậm lại,
chiêm nghiệp, thanh tịnh lòng mình,
hướng đến những ước vọng về một cuộc sống hòa bình
ấm no cho tất cả mọi người,
sự phồn thịnh, mạnh giàu cho đất nước.
