Phát Hiện VÙNG ĐẤT NHIỀU VUA CHÚA NHẤT VN Khiến Triệu Người Ao Ước ! | Triết Lý Tinh Hoa
LINH DAN
280 người theo dõi
#Trietlytinhhoa #vandehomnay #tintuc24h
Mô Tả Nội Dung: Phát Hiện VÙNG ĐẤT NHIỀU VUA CHÚA NHẤT VN Khiến Triệu Người Ao Ước ! | Triết Lý Tinh Hoa
=================
"Triết Lý Tinh Hoa" - Ngôi nhà tri thức về Triết lý và Cuộc sống! bằng Cập nhật tin tức 24h trong ngày
===================
vấn đề hôm nay, báo vtc, tin tức trong ngày, tin tức, tin nóng, tin tức hôm nay, tin tức mới nhất hôm nay, tin tức mới nhất, tin thời sự, tin tức 24h, tin thời tiết, dự báo thời tiết, biến đổi khí hậu, triết lý cuộc sống. phụ nữ, hôn
Phát hiện bí ẩn về vùng đất linh thiêng nhất Việt Nam, toàn sản sinh ra vua chúa, khiến triệu người ước ao.
Mến chào quý vị đang đến với kênh Triết Lý Tình Hòa.
Quý vị thân mến, trên giải đất hình chữ S của chúng ta, nếu tính từ khi nước Nam ta có nhà nước đầu tiên cho đến khi kết thúc triều đại phong kiến cuối cùng là nhà Nguyễn,
thì điểm lại hầu hết các dòng họ vua chúa đa phần đều phát tích từ vùng đất này.
Vùng đất phát vương, đất đế vương không phải ngẫu nhiên mà có những tên gọi đó, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố tạo nên vùng đất linh kiệt và những con người cực kỳ rốt trúng.
Vùng đất nằm trọn tại vị trí đắc địa, có lăng mạch, hiếm có nên đã nhiều lần bị trấn ẩm, ranh giật.
Vậy vùng đất đó nằm ở đâu, vì sao nơi đây lại sản sinh ra toàn bậc kỳ tài và nó còn chữa được những yếu tố nào bí ẩn đằng sau?
Hãy cùng Triết lý Tinh Hoa đi tìm hiểu ngay sau đây!
Quý vị thân mến, Hà Nội có thể là thủ đô ngàn năm văn hiến, nơi tinh hoa đất nước hồi tụ.
Nghệ An có thể là vùng đất sản sinh ra nhiều nhân tài Việt Nam.
Thành phố Hồ Chí Minh có thể từng được coi là hoàn ngọc viễn đông,
nhưng để kể ra nơi được mệnh danh quê vua đất chúa là điểm phát tích nhiều triều đại nhất Việt Nam,
thì chỉ có một cái tên xứng tẩm nhắc đến, thanh hoa và cao bằng.
Nếu thanh hoa được xem là đất đế vương trung hội bởi rất nhiều vua chúa trong lịch sử đều phát tích từ vùng đất này,
thì cao bằng được xem là đất đế vương dung thân,
có thể giúp vua giữ gìn phục khí, cũng có thể sinh ra bậc vương giả.
Ngũ tinh cách tú triều nguyên, kim mọc thủy hỏa bốn bên loan hoàn,
thổ tinh kết huyệt trung ương, ấy đất sinh thánh, sinh vương đời đời.
Về đất phát vương nêu trên hẳn phải chú trọng quan sát hình dáng cuộc đất.
Theo ngũ hành, gồm hình tròn thuộc kim tinh, con kim, hình roi thuộc mọc tinh, con mọc,
hình vuông thuộc thổ tinh, con thổ, hình nhọn thuộc hỏa tinh, con hỏa, hình sóng thuộc thủy tinh, con thủy.
Theo đó, con thổ phải ở vị trí chính giữa, kết huyệt trung ương, và các con kim, mọc, hỏa, thủy sẽ tuần tự vây quanh.
Đất Thanh Hóa trải qua các đời có nhiều tên gọi khác nhau.
Xưa thuộc bộ Cửu Trân, đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Triệu là Quận Cửu Trân,
tên gọi Ái Châu quen thuộc được biết đến vào thời Lương Vũ Đế nhà Lương,
đến thời nhà Lý được đổi làm phổ Thanh Hóa, tên gọi Thanh Hóa từ đó mà được biết đến.
Về hình thể, sách Đại Nam nhất thông chí quyển 6 Phần Thanh Hóa tỉnh Trí cho biết,
mặt đông trong giáp biển lớn, mặt tây khống chế rừng dài, bảo Sơn Châu hoặc Sơn Thổ châm hiểm ở phía nam,
tự gọi Eo Ổng, giáp huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, núi Tam Điệp rang ngang phía bắc.
Ở trong thì sông Mã, sông Lương, sông Ngọc Giáp hợp nhau,
ở ngoài thì núi Chiếc Đũa, núi Biển Sơn che chở.
Thực là một trọng trấn có hình thế tốt.
Lại xét, Ái Châu là vùng đất mà như ngày nay nó là khu 4 đẩy ra, khu 3 đẩy vào,
tức là nơi giao nhau giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ,
có thể xem như là ít hầu của nước Nam nơi cõi Bắc vậy.
Nhờ có địa thế tự nhiên với biển, núi, sông che chở,
nên vùng đất này có được cái thế hiểm, yếu, hiếm có trong quân sự.
Chẳng thế mà sau này quân Tây Sơn lại chọn lùi về Tam Điệp,
còn gọi là đèo ba dội giao nhau giữa Ninh Bỉnh Thanh Hóa và Biển Sơn
để ngăn bước tiến quân thành.
Hình thế đắc địa như một vương quốc riêng như vậy.
Cũng từ đó mà hình thành nên tính cách, phong tục của người dân nơi đây
được àn nàm chỉ lược của Lê Tắc trong phần phong tục khen là
nơi sinh ra ở Giao Châu và Ái Châu thì rộng rãi cơ mô trí.
Còn trong Đại Nam nhất thống trí thì bình rằng
Sĩ tử thích văn học, giữ khí tiết, nông dân chăm cải cấy,
thợ thì có người đéo đá là sở trường hơn cả, ít người buôn bán.
Chính từ địa lợi nhân hòa ấy góp phần cho vùng đất Ái Châu
trở thành nơi thiên thời cho việc xưng vương dựng nước.
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước,
Thanh Hóa là nơi phát tích của nhiều triều vua nhất nước ta.
Nơi đây là quê hương 4 triều vua 2 dòng chúa.
Dù không phải địa phương được chọn làm nơi đóng đô,
xây kinh thành nhiều nhất,
nhưng Thanh Hóa vẫn là nơi sinh ra nhiều vua nhất.
Người sơ vẫn thường nói Thanh Hóa là vùng quê vua đất chúa
hay đất đế vương trùng hội,
hoặc quen thuộc hơn qua câu vua sứ thanh thần sứ nghệ.
Dựa trên các tài liệu lịch sử,
Thanh Hóa quả thực là cái nơi sản sinh ra nhiều vua chúa nhất Việt Nam.
Kể ra cụ thể hơn thì có 4 triều vua xuất thân từ Thanh Hóa
là nhà Tiền Lê 2 người,
nhà Hồ 2 người,
nhà Hậu Lê 27 người
và nhà Nguyễn 13 người.
Bên cạnh đó còn 2 dòng là chúa Trịnh và chúa Nguyễn.
Cũng vì là đất đế vương cho nên không phải ngẫu nhiên
mà nhà Trần đã từng phải cho người đục nối nấp sông
ở nơi đây để trấn yểm các huyệt mạch đế vương.
Điều này được chứng thực
bởi Việt Sử Địa Dư của Phan Đình Phồng nguyên văn như sau.
Trần Thái Tông niên hiệu Thiên ứng Chính Bình
năm thứ 17, 1248
sai người giỏi về phong thủy đi trấn áp vượng khí trong khắp núi sông
như núi Chiêu Bạc, sông Bà, sông Lễ ở Thanh Hóa
đều đào và đục đi,
lấp các khe canh, mở đường ngang lối dọc không kể xiết.
Núi Chiêu Bạc chính là núi Chiếu Sơn thuộc huyện Nga Sơn.
Sông Bà thuộc địa giới huyện Đông Sơn,
còn sông Lễ chính là sông Mã.
Nhưng việc làm ấy cũng chỉ như mũi bỏ biển
bởi ngay sau nhà Trần thì nhà Hồ đã phát ra từ Sứ Thanh rồi.
Thế nên lời của sửa thần Ngô Sĩ Liên quả chẳng sai chút nào.
Từ khi có trời đất này thì đã có núi sông này,
mà khí trời chuyển vận,
thánh nhân ra đời đều có số cả.
Khí trời từ Bắc chuyển sông Nam,
hết Nam rồi lại quay về Bắc.
Thánh nhân trăm năm mới sinh,
đủ số lại trở lại từ đầu.
Thời vận có lúc chậm lúc chóng,
có khi thừa khi mau mà không đều.
Đại lực là thế,
có can gì đến núi sông?
Nếu bảo núi sông có thể lấy pháp thuật mà chấn áp
thì khí trời chuyển vận,
thánh nhân ra đời có pháp thuật gì chấn áp được không?
Ví như Tần Thủy Hoàng biết là phương Đông Nam có vượng khí thiên tử,
đã mấy lần xuống phương ấy để chấn áp,
mà rất cuộc hán cao vẫn nổi dậy,
có chấn áp được đâu?
Liên tiếp các triều đại vua,
chúa phát tích từ đất Ái Châu mà ra,
nền trong dân gian đời xưa
có câu ngạn ngữ truyền đời
Vua Sư Thanh, Thần Sư Nghệ.
Ý nói Thanh Hóa là nơi phát tích
của các triều đại đế vương,
còn Sư Nghệ An là nơi
có các tôi thần giỏi giang giúp vua trị nước.
Theo thống kê của các tác giả,
kể từ khi nước ta có vua Thời Băn Lang
cho đến khi kết thúc chế độ phong kiến cuối cùng
là nhà Nguyễn vào năm 1945
với vua Bảo Đại,
thì Thanh Hóa chính là nơi khởi nguồn
của nhiều dòng vua chúa nhất nước.
Vậy nên nói Thanh Hóa
là vùng đất địa linh nhân kiệt
từ ngàn xưa đến nay quả chẳng hoa chút nào.
Dù ở thời kỳ nào,
Thanh Hóa luôn được đánh giá
là vùng đất địa linh nhân kiệt,
có ý nghĩa đặc biệt về phong thủy,
thậm chí dựa trên yếu tố tâm linh.
Nhiều người tin chắc Thanh Hóa
có chứa Long Mạch,
thế nên nơi đây mới sinh ra
nhiều vị vua chúa như vậy.
Theo một lý do để mọi người tin
Thanh Hóa ẩn chứa Long Mạch
là vì xưa kia nhiều thẻ phong thủy
địa lý phương Bắc đã tìm cách
trấn yểm vùng đất này.
Chuyện kể rằng quân xâm lược phương Bắc
khi đặt chân đến nơi đây
thấy có rừng, có biển, có sông, có rừng rà,
mọi thứ đều rất đất địa
thì sinh ra sợ hãi.
Chúng nói với nhau,
sợ rằng vùng đất này sẽ sản trinh ra bậc đế vương
để chống lại mình.
Đất của Vua
Năm Bảo Thìn 248
lệ hải bà Vương Triệu Thị Trinh
đánh quân Ngô
tại núi Nưa, Triệu Sơn Thanh Hóa
làm quân giặc Khiếp Đảm
tôn phục với câu cửa miệng
hoành qua đường Hổ Dị
đối diện bà Vương Nan
tức múa giáo chống hổ dễ
đỡ mặt vua bà khó.
Dù chưa lập triều nghi
nhưng ngay quân Ngô
đã tôn xưng người con gái
của chiến tuyến bên kia làm vua rồi.
Tháng 12 năm Tần Mão
931
Vương Đình Nghệ quê Làng Giàng
nay thuộc xã Thiệu Dương huyện Thiệu Hóa
tỉnh Thanh Hóa đã đánh đuổi
quàn đồ hộ Lý Khắc Chính
Lý Tiến của nhà đường Chiếm Thành Đại La
tự xưng làm tiết đổ xứ.
Nhưng thực ra đã là một
vua không ngai khi tiếp nối được nền độc lập
tự chỗ do dòng họ
khốc rực nên từ năm Ất Sửu
Tháng 7 năm Canh Thìn
980 Thái hậu Dương Vân Nga
khoác áo mời thập đạo tướng quân
Lê Hoàn lên ngôi để thống nhất
lòng dân chống quân xâm lực Tống
từ đó mở ra nhà Tiền Lê
980-1009
Lê Hoàn
tức vua Lê Đại Hành
vốn quê xã Sơn Lập huyện Thọ Sơn Thanh Hóa
Nhà Tiền Lê trải
ba đời gồm Lê Đại Hành
980-1005
Lê Trung Tông
1005 Lê Ngoại Triều
1005-1009
520 năm sau
cũng năm Canh Thìn
1400 Ngoại Thích Hồ Quý Ly
thoán đoạt ngồi vị Nhật Trần
lập nhà hồ với tên nước là Đại Ngu
kinh đô ở thành Tây Giai
tức Tây Đô của Thanh Hóa
Tổ tiên ông vốn ở Triết Giang Trung Quốc
sau di cư sang sống
ở Diễn Châu Nghệ An
rồi chuyển ra Hương Đại Lại
Nhà hồ chuyển qua 2 đời vua
trong 7 năm 1400-1407
thời gian 1428-1789
là thời kỳ tồn tại
của nhà hậu Lê
gồm giai đoạn Lê Sư
1428-1527
và Lê Trung Hưng
1533-1789
Người xông lập nhà hậu Lê
là Lê Thái Tổ Lê Lợi
Sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa
1416-1428
ông quê ở xã Xuân Lam
Thọ Xuân Thanh Hóa
Giai đoạn Lê Sư trải khoang mở vị vua
từ Lê Thái Tổ đến Lê Cùng Hoàng
được xem là thời thịnh trị
của chế độ phong kiến Đại Việt
với đỉnh cao là đời vua Lê Thánh Tông
trị vì 1460-1497
Giai đoạn Lê Trung Hưng
đánh dấu sự phục hồi của nhà Lê
sau khi bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi
với vị vua đầu tiên Lê Trăng Tông
1533-1548
và kết thúc với vua thứ 16
Lê Triêu Thống
1786-1789
Chiều đài cuối cùng của Việt Nam
là nhà Nguyễn
1802-1945
Do Nguyễn Ánh Gia Long Hưng Khởi
Tổ tiên của ông là chú Nguyễn Hoàng
vốn bản quán ở Gia Miêu
ngoại trang thuộc huyện Tống Sơn
xã Hà Long huyện Hà Trung nay
đất Thành Hóa
Nhà Nguyễn chỉ được 13 đời vua
bắt đầu từ vua Gia Long
1802-1820
cho đến vua Bảo Đại
1926-1945
Nhà của Chúa
Trong lịch sử nước Nam ta
ghi nhận chính thức có 2 dòng chúa
là chúa Trịnh và chúa Nguyễn
Cả 2 dòng chúa đều phát tích từ
Dư Thanh
Chúa Trịnh thời vua Lê Chúa Trịnh
thế kỷ 16-18
do trịnh kiểm lập nên
ông vốn là xuất thân nghèo nàn
từ làng Sóc Sơn huyện Vĩnh Lộc
Thành Hóa
tuy tiếng là phỏ giúp nhà Lê
nhưng quyền lực thực tế của các chúa Trịnh
lại át cả vua Lê
có cùng vua thì có phủ chúa
vua Lê có lục bộ thì chúa Trịnh có lục phiên
vua Lê dạo trung hưng
chỉ có hư vị mà thôi
thế nên dân gian mới co câu
phì đế phì bá quyền nghiêng thiên hạ
đế chỉ thế lực của chúa Trịnh
dòng dõi chúa Trịnh
Nguyễn Hoàng bắt đầu từ chúa Trịnh Kiểm
1545-1570
cho đến thời chúa Trịnh Bồng
1786-1787
bị bác Bình Vương Nguyễn Huệ
dẹp thì rứt hẳn
9 đời chúa Nguyễn
được lập nên sau thời chúa Trịnh
vào năm Mậu Ngọ
1558
Nguyễn Hoàng nghe theo lời trạng trình Nguyễn Bình Khiêm
khuyên Hoành Sơn nhất đại khả dĩ dung thân
nên đã vào
chấn trị đật thuận hóa
Chúa tiên Nguyễn Hoàng
chính là con trai thứ của an thành hầu
Nguyễn Kim người Gia Miu
ngoại trang được nói tới ở trên
Dòng dõi chúa Nguyễn
trải qua 9 đời từ Nguyễn Hoàng
1558-1613
cho tới Nguyễn Phúc Thuần
1765-1777
cố công lập nên
và khai phá đất Đảng Trong
mở rộng dần về phía nam đất nước
cho tới tận mỗi đất Cà Mau
Không chỉ là nơi
phát vua, phát chúa
Ái Châu Thanh Hóa còn nhiều lần đóng vai trò
trung tâm của đất nước khi từng
giữ vị trí là đất thần kinh
Cụ thể đây là Tây Đô
thời hồ với thành An Tôn
hay Tây Giai
1400-1407
Khi vua Lê Trang Tông phục quốc
bên Ai Lao năm quỹ tị 1533
đến năm quỹ mã 1543
cũng chọn Sư Thanh
để đóng làm nơi phát bình bắc tiến
đánh thằng lòng diệt mạc
Năm Bính Ngõ 1546
thì lập điện để ở
tại Sách Vạn Lại này thuộc huyện Thọ Sơn
Thanh Hóa tạo nên Nam Triều
để phân biệt với Bắc Triều của nhà mạc
ở Thăng Long
Co bằng đất đế vương
dung thân ẩn nấu
Thời nhà mạc khi vẫn nước dối bời
vua mạc ép vua Lê phải nhớ ngôi cho mình
lập nên nhà mạc
từ năm 1527-1592
thì rụp đổ
Trước khi rụp đổ
vua mạc thứ 5 là mạc mậu hợp
đã sai người đem lễ vật
đến thăm Trạng Trình Nguyễn Bình Khiêm
và xin hỏi về thế cuộc
Trạng Trình khi đó có một câu ngắn gọn
Cao Bằng tuy thiện
khả din sổ thể
nghĩa là đất Cao Bằng tuy là chật hẹp
nhưng có thể giữ được về sau
Quả đúng như lời Trạng Trình nói
7 năm sau vua mạc bị quân trình
đánh bật khỏi Thăng Long
và bị tri đuổi tư tán
vua nhớ lời dặn của cụ Trạng
Từ đó Cao Bằng được xem là đất dung thân
ẩn náu của các bậc đế vương
Theo các nhà phong thủy
những bậc thầy về địa lý
thì Cao Bằng là đất dung thân hiểm yếu
ẩn náu của bậc đế vương
nơi xuất phát của những cơn sấm xét
về xuôi
Chính vì thế từ thời Đường Ý Tông
Trung Quốc khi cao biển sông Lăng nước ta
đã cho xây thành Đại La
ở Thăng Long Hà Nội
và thành Nà Lữ ở Cao Bằng
Về sao thành Nà Lữ được
người Việt chấn giữ trừ bùa ỉm
của cao biển, đến nay di tích
thành Nà Lữ vẫn còn ở Làng Nà Lữ
xã Hoàng Trung huyện Hòa An
có hình chữ nhật dài 800m
rộng 600m xây bằng gạch
và bằng đá tảng
với 4 gò đất nổi mang tên
Long Ly Quỳ Phượng
Ngọc Phượng nằm ở trung tâm khi nhà mạc
chạy về Cao Bằng đã chiếm thành Nà Lữ
để đóng đô và xây thành đá
Năm 1052
thủ lĩnh người Tráng
người Tài Nồng ở Cao Bằng
là Nùng Trí Cao tự xưng là nhân huệ hoàng đế
đặt quốc hiệu là Đại Nam
và đưa quân sang tấn công bên đất Tống
được sự ủng hộ giúp đỡ
của người Thái, người Tài ở Quảng Tây
Nùng Trí Cao chiếm được rất
nhiều châu bên đất Tống
Anh Châu, Quý Châu, Cung Châu
Tầm Châu, Đằng Châu
Ngô Châu, Khang Châu, Đoan Châu
Úng Châu
Ông Xuân Đế Một Phương
sau này Nùng Trí Cao bị bại
dưới tay danh tướng nhà Tống là Địch Thanh
Mặc dù Nùng Trí Cao được xem là
đế vương của người dân tộc
Tài Nồng nổ lên đòi tự trị
giữa Đại Tống và Đại Cổ Việt
thời nhà Lý, nhưng dẫu sao đi nữa
ông cũng là một minh chứng cho sự linh thiêng
của vùng đất Cao Bằng
Cần ghi nhận thêm, đến thời hiện đại
Cao Bằng vẫn là mảnh đất huyền thoại
về hai phương diện lịch sử và địa lĩa phong thủy
vì Cao Bằng có Hàng Pác Bó
là nơi chủ tịch Hồ Chí Minh
chọn làm căn cứ lãnh đạo cách mạng Việt Nam
thời kỳ năm 1941-1945
có rừng Trần Hưng Đạo
ở xã Nam Tam Kim
huyện Nguyên Bình
là nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp tuyên bố
thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phong quân
ngày 22 tháng 12 năm 1944
là tiền thân của quân đội
nhân dân Việt Nam ngày nay
Xem thế từ Cao Biển
đến thời Lê Mạc
Trong tuyên này đất Cao Bằng vẫn là nơi tụ khí tàng phong
hết sức cát tường
theo cách nhìn phong thủy
Đến nay Cao Bằng được xem là nơi tụ khí tàng phong
rất tốt đẹp với nhiều danh nam
thắng cảnh như là
Thác Bản Dốc, Thác Nẵm Trá
Núi Mắt Thần
tạo ra nhiều sinh khí cho vùng đất này
Giải mã đất Phát Vương
của nhà Trần Cụ Tà Áo viết gì
Nếu cơ nghiệp nhà Lý
mở đầu bởi vị hoàng đế
xuất thân từ vùng địa linh cổ Pháp
đi công ẩn
thì đất Phát Vương của nhà Trần
lại nằm cách đó khá xa
về phía đông của thượng nguồn sông Phổ Đà
Mãi đến đầu thế kỷ 18
sau gần 900 năm xảy ra sự kiện
Cao Biển trấn yểm Long Mạch nước ta
một tài liệu của Trung Quốc
với tựa Cao Biển Di Cảo
cùng một số cuốn khác trước kia
như là An Nam Cửu Long Kinh chẳng hạn
Nhắc về Cao Biển
sau khi đem 5.000 quân vượt biển
tiến về hướng Nam năm 865
được tri viện thêm 7.000 quân nữ
vào năm sau 866
đã đánh chiếm nước ta
và lập bàn đồng giữa trời
dùng thuật phong thủy lẫn những phương pháp
thần bí để tầm Long giao diết
Vậy tầm Long là gì?
Tầm Long là phép tìm kiếm Long Mạch
ngoài đất trống như cụ Tạ Ao chỉ rõ
chẳng qua ra đến ngoài đồng
tỏ Mạch tỏ nước tỏ Long
mới tường và được học giả Cao Trung
qua hàng chục năm nghiên cứu
sách địa lý của Tạ Ao
giải thích rõ đải ý dưới đây
Long Mạch là mạch đất
bên trong cốt chứa khí mạch
giống như là trong cảnh cây cốt chứa nhựa cây
Nó có thể chạy qua những dãy đồi núi cao
cũng như có thể đi rất thấp
luồn qua sông qua suối
thậm chí qua biển
rồi đột ngột nhô lên với những thơ đất
lắm khi ủn lượn xà xà trên mặt ruộng
như hình con rồng đang cuộn mình vươn tới
để ôm trầu vào một huyệt đất nào đó
gọi là Long Nhập Thổ
nơi đó có thể hạ huyệt trôn cất
hoặc cải táng mồ mả cha ông
để con cháu đời giàu phát vương
phát tướng, phát trạng, phát tài lộc phú quý
Trước huyệt kết
có đất nổi lên cao tre trắng
gọi là Án
hoặc có gò bao quanh kết hình ấn kiếm
ngựa voi, chiêng trống gọi là Gia
Tạ Ao địa lý toàn thư
ghi rõ
muốn tầm long cần phải biết
thái tổ sơn của toàn thể các cuộc đất
xuất phát từ dãy Himalaya
phải biết Minh Đường
là nơi nước tụ trước huyệt
để nuôi khí lành
biết Thanh Long là thơ đất bên trái huyệt
và Bạch Hổ là thơ đất bên phải huyệt
cả hai ôm trầu vào huyệt kết
biết về Long Sinh
mạch sống động như mãng xã vương
đang phóng tới
Long Tử, mạch nằm ngay đơ như chiếc đũa tre
Long Cường, mạch nổi to như sóng lớn
Long Nhược, mạch lặng lờ
như sóng nhỏ lăn tăn
Những điều trên chắc thẳng
Cao Biển đã ứng dụng
trong cuộc tẩm long trên toàn cõi nước ta
để chấn iểm
Nhưng đất phát vương của 12 đời vua Trần
chưa kể thêm đời hậu Trần
đã tồn tại vượt lên ý đồ của Cao Biển
đó là vùng đất
ở nguồn sông Phổ Đà
tức sông Luộc
nằm trên địa phận thôn Lưu Gia
thuộc huyệt Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay
Phát vương trên đất kết
Đến với vùng đất
đó buổi sư khai có 3 anh em họ Lưu
gồm Lưu Khánh Đàm, Lưu Ba
và Lưu Lượng
về sau cả 3 người đều làm quan
trong đó Lưu Khánh Đàm được vua Lý Nhân Tông trọng dụng
khi vua sắp mất vào tháng chạp
năm linh mồi 1127
đã cho gọi Đàm vào nhận di chiếu
để cùng Lê Bá Ngọc
đưa hoàng thái tử là Lý Thần Tông lên ngôi
trước linh cữu
Tên tuổi của Lưu Khánh Đàm và Lưu Ba
đều được Ngô Sĩ Liên nhắc đến
trong Đài Việt Sử Ký Toản Thư
đó là dòng thứ nhất
tìm đến cư ngộ tại vùng đất Phong Thủy
ở nguồn sông Luộc
dòng họ thứ 2 đến với đất Phát Vương
là nhà họ Tô, chuyên buôn tờ lụa
giao có nhất nhì trong vùng
nhưng cả 2 họ Lưu và họ Tô
cũng chỉ dừng lại ở mức quý tộc
cự phú chứ không Phát Vương được
mà phải đợi đến họ Trần xuất hiện
thì đất kết mới ứng lên
một dòng vương giả mới
bắt đầu từ sự có mặt của một người
đến từ Hương Tức Mặc
Sứ Hải Thanh, đó là Trần Hấp
Trần Hấp sinh được 2
con trai là Trần Lý
Lý là Ca Chép
và Trần Thiện
Trần Lý lớn lên kết hôn với Tô Thị Hiền 15 tuổi
tức là 2 họ Trần và Tô
kết xuôi ra và tạo thành
thiết lực mạnh nhất trong vùng
Trần Lý có người bạn họ Phùng
rất giỏi về khoa địa lý
được dân chúng kính nể, thường gọi Thầy Phùng
ông là người hiểu biết rõ
kiểu đất hậu sinh Phát Đế
ở thôn Lưu Gia
mà tiến sĩ Đinh Công Vĩ đã ghi lại
trong cuốn Chuyện Tình Vua Chủ Hoàng Tộc Việt Nam
khá thuyết phục như sau
3 mũi nhọn trồng lên nhau này
là núi tam đảo
với 3 ngọn phủ nghĩa thạch bàn thiên thị
tức là Tổ Sơn
Long Mạch của nó chạy theo hướng Đông Bắc Tây Nam
thấp dần rồi chìm
qua sông Thiên Đức, tức sông Đuống
đến làng Hà Liễu của Châu Đẳng
mới đột khởi, nổ lên 1 ngọn núi khác
rồi từ đấy Long Mạch
lại chạy tiếp từ làng Nhật Cảo
đến làng Thái Đường
Kết lại ở gò sao
gò ấy phía trước có 3 gò lớn
là Tam Thai
phía sau có 7 gò nhỏ là Thất Tinh
xung quanh có đầm nước 3 bọc
khi mặt trời soi tới thì mặt đầm sáng
như gương phản chiếu
đối mặt với các cổ lao nhỏ hình đẹp
như những bồng xèn đang nở
Đấy là 1 trong 27 kiểu
đất hậu sinh phát đấy
Khi phát hiện ra chỗ đất kết
Thầy Phùng đã bàn với Trần Lý
nên cải táng bộ ông bà của họ Trần
về trôn ở đó
Vì sao Thầy Phùng lại không để dùng
chỗ đất kết để trôn ông bà mình
Theo Thầy Phùng và nhiều nhà phong thủy khác
người tìm sang Long Mạch
và chỗ huyệt kết chưa hẳn là người
có thể cải táng thân nhân của mình
để con chó phát vương được
vì cần phải ứng đúng mệnh số nữa
Thầy Phùng biết họ Trần sắp phát
và đã kể lại chi tiết bí mật
liên quan đến cầu chuyện phong thủy
ở gò sao cho con mình là Phùng Tá Chu
cũng là 1 nhân vật lịch sử được biết
Vào ngày lập thu vừa rồi
mộ hiển thủy tổ khảo
ở Thức Mạc và hiển thủy tổ tỷ
ở Lưu Gia của dòng họ Trần
đã rời chuyển đến gò sao
song Táng. Công việc hoàn tất
đúng giờ chính hợi
Những người tham gia giả soát các vị trí
và hình thể của Long Mạch lần cuối
để đặt la bản xác định nơi hạ huyệt
cũng như hướng cải táng
đều là người họ Trần
chỉ duy nhất có Thầy Phùng biết chuyện
song việc bên trên mộ được san phẳng
y như cũ để không lộ ra dấu vết
Sau cuộc lễ trưa lâu
vào giữa một đêm giảm sáng trăng
Thái tử Sảm
tức vua Lý Huệ Tông sau này
từ Thăng Long chạy loạn đến vùng Lưu Gia
đã tình cờ trông thấy và nhanh chóng
say mê của con gái xinh đẹp của Trần Lý
là Trần Thị Dung
lúc ấy mới 15 tuổi
là chị em Chô Bác ruột với Trần Thủ Độ
rồi cưới Dung. Đây là sự kiện mở đầu
một loạt biến cố tiếp đó
để vương quyền nhà Lý chuyển sang tay nhà Trần như thế nào
