THUẬN THEO TỰ NHIÊN - QUI LUẬT CỦA SỰ TRƯỜNG TỒN

Thach Nguyen
43 Người theo dõi
576 Lượt xem video·15 thg 9, 2026
Tìm hiểu ý nghĩa của triết lý "Thuận theo tự nhiên" của Đạo giáo. Vài nét về công trình thủy lợi đập Yuzui được xây dựng theo triết lý này vẫn còn hoạt động trên 2000 năm.
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIVideo phân tích sự đối lập giữa tư duy \"chinh phục thiên nhiên\" của phương Tây và triết lý \"thuận theo tự nhiên\" của phương Đông. Thông qua các thảm họa sinh thái và những công trình thủy lợi cổ đại, video khẳng định rằng sự trường tồn chỉ đạt được khi con người biết tôn trọng và hòa hợp với quy luật của vũ trụ thay vì cưỡng ép hay cải tạo thô bạo.
Triết học phương Đông dạy con người phải sống thuận theo tự nhiên.
Ảnh hưởng của triết lý này hàng ngàn năm qua vẫn len lỗi trong mọi ngóc ngách cuộc sống của con người,
trở thành phương châm bậc nhất để trường tồn với thời gian.
Tại đây, chúng ta thử tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa về vấn đề này.
Ngược với thuận theo tự nhiên là tư tưởng chinh phục thiên nhiên ở phương Tây,
họ cho rằng con người là chủ thể tối cao, còn tự nhiên là đối tượng cần được bổ xể và cải tạo.
Tự nhiên hơn giả đối với họ là sự hỗn độn, còn hình học nhân tạo mới là biểu hiện của văn minh và trật tự.
Nguồn gốc của tư tưởng này bắt nguồn từ triết học.
Con người là trung tâm, tôn vinh lý trí và khoa học do hai nhà triết học Francis Bacon, Anh, và René Descartes, Pháp khởi xướng.
Francis Bacon đưa ra tuyên ngôn nổi tiếng, tri thức là sức mạnh.
Bacon cho rằng mục tiêu của khoa học là thấu hiểu các bí mật của tự nhiên, để bắt tự nhiên phải phục tùng và phục vụ cho lợi ích của con người.
Còn René Descartes, ông coi cơ thể con người và toàn bộ thiên nhiên chỉ là những cỗ máy cơ học vô tri vô giác,
nên con người có quyền định hình, đập bỏ và tái cấu trúc nó theo ý muốn của mình.
Nhưng thực tế không phải vậy, khi con người dùng cơ giới để đập bỏ, sang phẳng và nắng dòng địa lý theo tư duy hình học của phương Tây,
thiên nhiên không biến mất, nó tích tụ năng lượng, phản kháng và dội ngược lại bằng những thảm họa sinh khái khủng khiếp.
Có những bài học giáo hướng cay đắng nhất trong lịch sử cận hiện đại, bình chứng cho sự thất bại của tư duy, chinh phục thiên nhiên này.
Thảm họa bác bụi, đất bô, cái giáo có việc xóa sổ thảm thực vật tự nhiên.
Đầu thế kỷ 20, làng sống di dân cơ giới hóa tràn vào vùng Đại Bình Nguyên của Mỹ.
Với tư duy cải tạo đất hoang, họ dùng máy cày cào sơi xóa bỏ toàn bộ lớp cỏ thảo nguyên để trồng lúa mì độc canh.
Hậu quả là khi một trận hàng hán ập đến vào năm 1931, không còn rễ cỏ tự nhiên để giữ đất và đồ ấm,
toàn bộ lớp đất bề mặt màu mỡ biến thành bụi mịn.
Những cơn bão bụi khổng lồ cao hàng trăm mét đã nút chững các thành phố, làm mù mắt da rút và khiến hàng nghìn người chết vì bệnh biêm phủi do hít bụi bẩn.
Đây được coi là thảm họa sinh thái do con người tự gây ra lớn nhất lịch sử nước Mỹ,
buộc chính phủ Mỹ phải thay đổi hoàn toàn luật canh tác và nhận ra không được phép cạo trọc lớp da tự nhiên của trái đất.
Sự biến mất của hồ Arrow khi con người nghĩ mình thông minh hơn thiên nhiên.
Vào thập niên 1960, các kỹ sư liên xô cũ thực hiện một đại dự án nắng thẳng và chuyển hướng tồn bộ hai dòng sông lớn
Amu Dairya và Sia Dairya để dẫn nước vào sa mạc trồng bông.
Họ tuyên bố biển Arrow là một sai lầm của tự nhiên, việc để nước chảy ra biển là lãng phí tài nguyên.
Nhưng thiên nhiên không phải là cổ máy cơ khí như họ nghĩ.
Hậu quả là sau nửa thế kỷ do mất nguồn nước cấp, biển Arrow từng là biển hồ lớn thứ tư thế giới đã bị bốc hơi và biến mất đến 90% diện tích.
Toàn bộ ngành ngưa nghiệp trù phú sụp đổ.
Các tàu đỉnh cá khổng lồ nằm trơ trội rỉ xét giữa sa mạc áp.
Tệ hơn, đáy biển khô căng trơ lại lớp muối và hóa chất độc hại, bị gió cuốn đi hàng ngàn cây số, gây ra tỷ lệ ung thư và dị tập bẩm sinh khủng khiếp cho người dân quanh vùng.
Bản chất của nước là từng hoàng.
Khi con người cắt đứt mạch máu của một vùng đất, toàn bộ hệ sinh thái của vùng đó sẽ chết theo.
Các đập thủy điện, hồ chứa nước thủy lợi và nguy cơ ngập lụt lũ quét.
Bước sang thế kỷ 20, các đại dự án ngăn sông đắp đập bằng cách chặn các dòng sông lớn, làm ngập lụt hàng triệu hectare rừng và phá hủy toàn bộ hệ sinh thái bản địa để làm thủy điện hoặc hồ chứa nước.
Thời kỳ công nghiệp hóa xem các dòng sông tự nhiên là hôn giả và lãng phí nếu không được khai thác.
Hiện nay, các hồ chứa nước này trong mùa mưa đã xả lũ bất thường, tạo nên những cơn lũ quét nghiêm trọng, gây thiệt hại về người và kinh tế ở các vùng hạ lưu.
Khi nhắc đến đỉnh cao của tư duy cải tạo tự nhiên, không thể không nói đến đập tam hiệp ở Trung Quốc.
Công trình thủy điện lớn nhất hành tinh này chứa tới 40 tỷ mét khối nước, đóng vai trò khổng lồ trong việc điều tiết nước cho vùng hạ lưu, cung cấp năng lượng điện.
Thế nhưng, nó đã làm thay đổi tổn bộ cảnh quan vùng Trường Giang, làm ngập lụt hàng loạt đô thị di tích lịch sử và làm biến mất nhiều loài sinh vật đặc hữu.
Hơn nữa, việc nén một khối lượng nước tương đương với cả một con sông lớn và một không gian cố định luôn đi kèm với những kịch bản giận dữ khốc liệt của mẹ thiên nhiên.
Trong một kịch bản giả định tồi tệ nhất, nếu một siêu công trình như thế này chịu một sung lực vượt qua giới hạn dịu đựng của đập, hậu quả sẽ vượt xa mỗi sức tưởng tượng.
Một bức tường nước cao hàng chục mét sẽ quét vào vùng hạ lưu với vỏng tóc của một chiếc xe đua.
Hàng loạt đô thị lớn dọc theo sông Dương Tử sẽ phải đối mặt với sức tàn phá không thể đảo ngược.
Triết học chinh phục thiên nhiên của phương Tây đã tạo tiền đề cho cuộc cách mạng công nghiệp, đem lại nhiều thành tựu nhưng đồng thời cũng để lại nhiều thảm họi khối trường mà cho đến nay con người vẫn không thể khôi phục lại hoàn toàn.
Chúng ta hãy đi ngược về phương Đông với đỉnh cao của tư tưởng thuận theo tự nhiên.
Triết lý này được khởi xướng bởi Lão Tử tại Trung Hoa.
Hoàn toàn đối lập với triết học phương Tây, Đạo Giáo tập trung vào mối quan hệ giữa con người và vũ trụ.
Có ba khái niệm cốt lõi trong Đạo Giáo giải thích hoàn hảo cho tư duy thuận theo tự nhiên.
Đạo Quy luật tối cao
Lão Tử viết trong Đạo Đức Kinh, người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo đạo, đạo thuận theo tự nhiên.
Tự nhiên ở đây không chỉ là vạn vật ở quanh ta, mà là trạng thái tự thân như nó vốn có là quy luật tối cao.
Con người không thể và không nên đứng trên quy luật này.
Khi xây dựng một công trình trên một mảnh đất, người xưa không tìm cách thay đổi nó.
Nếu có một hồn đá lớn hay một dòng suối, họ coi đó là đạo của khu đất.
Việc thiết kế uốn lượng xung quanh hồn đá chính là sự tôn kính đối với đạo.
Vô vi, hành động không khiên cưỡng
Vô vi thường bị hiểu lầm là không làm gì cả.
Thực chất nó có nghĩa là không làm gì trái với tự nhiên.
Không dùng ý chí chủ quan và bạo lực để cưỡng ép vạn vật.
Hãy hành động như dòng nước.
Nước luôn chảy về chỗ trũng, gặp đá thì uốn dòng.
Không bao giờ tìm cách đâm đầu vào đá để phá hủy nó.
Nhưng cuối cùng nước lại chảy qua tất cả.
Một kiến trúc sư thấm nhung tư tưởng vô vi sẽ không dùng mấy ủi để sang bằng một ngọn đồi.
Bởi vì đó là cữ vi, là cưỡng ép.
Thay vào đó họ xây nhà từng bậc theo sườn dốc.
Công trình đã đời một cách tự nhiên như thế.
Nó tự mọc lên từ lòng đất chứ không phải do con người ạp đặt vào.
Hài hòa âm dương và sinh thái đạo giáo quan niệm thiên nhân hợp nhất.
Coi con người và thiên nhiên là một thể thống nhất.
Thiên nhiên là một cơ thể sống khổng lồ.
Mỗi nguồn núi là một khúc sương.
Mỗi dòng sông là một mạch máu dưới da.
Việc đào bới chặt phá vô tội vả được ví như việc cắt da cắt thịt của cơ thể sống đó.
Nó sẽ làm đứt gãy mạch khí dẫn đến tai hòa cho người sinh sống ở đó.
Vì vậy xây dựng nương theo tự nhiên là cách để bảo vệ sinh khí của cả vùng đất và của chính con người.
Đến nay vẫn còn những công trình kinh điển minh họa hoàn hảo cho triết lý thuận theo tự nhiên của đạo giáo.
Khác với tư duy xây dựng thông thường,
các công trình này đã biến đổi hình dáng của mình để họa tan vào lòng của mẹ thiên nhiên.
Hệ thẩm thủy lợi Đô Giang Yến ở Tứ Xuyên, Trung Quốc
trị thủy bằng cách nương theo dòng nước.
Được xây dựng vào khoảng năm 256 trước công nguyên bởi Lý Băng,
đây là công trình thủy lợi không cần đập ngang sông duy nhất còn hoạt động trên thế giới.
Hoàn toàn tương phản với đập tam hiệp thể hiện sức mạnh của con người chinh phục thiên nhiên,
nhưng gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường sống và tìm ẩn nhiều rủi ro.
Lý Băng chọn cách thuận dòng theo tự nhiên.
Thay vì xây một bức tường bê thông khổng lồ cắt ngang dòng sông như Tư Duy hiện tại,
ông cho xây dựng một con đập chia dòng có hình dáng như miệng con cá,
gọi là cá Duy Duy,
ngay giữa lòng sông để tự động phân chia dòng nước.
Hoạt động của nó dựa trên nguyên lý thủy động lực học tự nhiên
để tự động điều tiết lưu lượng nước
và tự động lọc cát bồi lắng mà không cần bất kỳ hệ thống máy tính hay vang nhân tạo nào.
Duy Duy là một con đê nhân tạo dài hơn 500 mét,
hình chất lá nhô ra giữa dòng sông,
chia con sông thành hai nhánh sông trong dẫn vào đồng bằng thành đô để tưới tiêu
và sông ngoài duy trì dòng chảy tự nhiên để xả lũ.
Tùy theo mùa, đập Duy Duy tự động thay đổi tỷ lệ phân phối nước
nhờ vào thiết kế hình họp lòng sông.
Mùa khô, sông trong chiếm 60%, sông ngoài chiếm 40% lượng nước.
Và mùa ít nước, mực nước sông xuống thấp,
do lòng sông trong được đào sâu và hẹp hơn,
nước theo trọng lực tự động chảy xiết và tập trung phần lớn khoảng 60%
để bảo đảm nguồn nước tưới tiêu và sinh học cho vùng hạ lưu.
Mùa lũ, sông trong chiếm 40%, sông ngoài chiếm 60% lượng nước.
Khi lũ về, mực nước dân cao vượt quá độ sâu của lòng sông.
Do sông ngoài có thiết kế lòng sông rất rộng và nong,
lượng nước lũ khổng lồ tràn lên sẽ tự động đổ vào sông ngoài khoảng 60%
để thốt nhanh ra dòng chính giúp vùng sông trong tránh được lũ lụt.
Nguyên lý tự động xả cát sỏi.
Không chỉ điều tiết nước, đập dui dui còn tận dụng triệt đế lực ly tâm
của dòng chảy cong để giải quyết bài tốn bồi lắng phù sa.
Đập dui dui dựa vào đoạn cong của dòng sông,
kết hợp với vận tốc dòng chảy của nước ở bề mặt và thẳng đáy
mang theo phần lớn bùng, cát và sỏi đá là khác nhau
để hướng thành phần cát sỏi đá đi vào dòng sông ngoài khoảng 60%,
còn 40% lượng phù sa mịn đi vào dòng sông trong
để bồi đắp cho đồng bằng tứ xuyên thành vùng đất màu mỡ.
Một lượng cát sỏi ít ổi lột vào nội gian,
sau đó sẽ tiếp tục bị lội bỏ ra ngoài một lần nữa nhờ lực ly tâm
tại bộ phận thứ hai của hệ thống là đập tràn phi sa
trước khi dòng nước đi qua miệng bảo bình để điều tiết lượng nước vào đồng bằng.
Bởi vì đập dui dui không hoạt động độc lập
mà nằm trong cụm ba công trình chính mang tính liên hoàn.
Toàn bộ công trình trông giống như một cụ lao tự nhiên chảy hiền hòa giữa dòng sông
chứ không hề có gián dắp áp đặt của bàn tay cơ giới
đã biến vùng bùng địa tứ xuyên từ một nơi thường xuyên gánh chịu thiên tai lũ lụt
trở thành một vùng đất trù phú của Trung Quốc.
Đập dui dui đã đóng vai trò thiết yếu
trong việc kiểm soát lũ lụt và thị lợi trong hơn 2.000 năm,
thể hiện trí tuệ trường tồn của kỹ thuật cổ đại
đồng thời bảo vệ sự tình vượng của đồng bằng thành lô.
Không cảm biến, không máy tính, không có thiết bị cơ giới tự động,
không cần năng lượng cung cấp,
vậy mà người xưa lại điều khiển được dòng nước khung giữ
còn hơn cả siêu máy tính hiện nay.
Hơn nữa là trường tồn bình vững đã hơn 2.000 năm,
hoàn toàn không giống như một số người cho rằng người xưa là ngu mũi.
Thật ra hàng nghìn năm qua,
con người không hề thông minh hơn chút nào,
chỉ là vấn đề lựa chọn giải pháp phục vụ cho cuộc sống là khác nhau.
Trên thế giới còn rất nhiều công trình thuận theo tự nhiên
mà chưa được đề cập ở đây.
Chẳng hạn ở Việt Nam có những nhà sàng của người miền núi
được xây nương theo độ dốc của sườn đồi,
không cần sang lắp mặt bằng lớn,
giúp thốt nước mưa tránh lũ quét giữa nguyên dòng chảy tự nhiên của bề mặt đất.
Những công trình trên cho thấy thuận theo tự nhiên không phải là sự yếu thế,
mà là đỉnh cao của trí tuệ khi biết mượn lực của đất trời đã tạo nên sự trường tồn.
Những bài học lịch sử đã chứng minh rằng
sức mạnh thực sự của con người không nằm ở việc sở hữu chiếc máy xúc lớn như thế nào
để sang phẳng một ngọn núi,
mà ở chỗ chúng ta có đủ trí tuệ để xây dựng một công trình trường tồn cùng ngọn núi đó hay không.
