Nghe Full: https://ganjing.b3355.xyz/s/O3Qyanm8jW Ebook PDF Q1: http://e.pc.cd/832y6alK Bìa Q1: http://e.pc.cd/ra2y6alK -- Ebook Q2: http://e.pc.cd/Wa2y6alK Bìa Q2: http://e.pc.cd/9NQy6alK ----- File In: http://e.pc.cd/EEuy6alK ----- Cuốn sách này sẽ liệt kê phân tích rõ Trung Cộng đã tiến hành thay thế văn hóa truyền thống một cách hệ thống như thế nào, đã tiến hành cải tạo tư tưởng một cách hệ thống ra sao, sử dụng thủ đoạn truyền bá như thế nào, cho đến biểu hiện của những người sau khi bị cải tạo tư tưởng, v.v.. ----- Tự luận Chương 1: Thay thế Văn hóa Truyền thống một cách hệ thống Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống (phần 1) Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống (phần 2) Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống (phần 3) Chương 3: Các thủ đoạn nhồi nhét (phần 1) Chương 3: Các thủ đoạn nhồi nhét (phần 2) Chương 3: Các thủ đoạn nhồi nhét (phần 3) Chương 4: Biểu hiện của người ta sau khi bị cải tạo tư tưởng (phần 1) Chương 4: Biểu hiện của người ta sau khi bị cải tạo tư tưởng (phần 2) Chương 5: Biểu hiện thường thấy của Văn hóa đảng trong tuyên truyền (phần 1) Chương 5: Biểu hiện thường thấy của văn hóa đảng trong tuyên truyền (phần 2) Chương 6: Những ngôn từ của đảng đã trở thành thói quen (phần 1) Chương 6: Những ngôn từ của đảng đã trở thành thói quen (phần 2) Chương 7: Văn hóa đảng trong cuộc sống (phần 1) Chương 7: Văn hóa đảng trong cuộc sống (phần 2) Chương 8: Thói quen tư duy kiểu Văn hóa đảng (phần 1) Chương 8: Thói quen tư duy kiểu Văn hóa đảng (phần 2) Lời kết
Ban biên tập cựu bình
Dạy thệ văn hóa đạn
Phần 2
Các biểu hiện cụ thể của văn hóa đạn
Phần 5
Đặc trưng của nguồn từ của đạn
Nguồn từ của đạn có rất nhiều đặc điểm dễ nhận ra.
Ví dụ, nguồn từ của đạn có tính giả dối, phóng đài, vu khống, mang rờ, thô tục, sạc mùi máu tanh.
Theo thống kê từ điển Tần suất Háng ngữ Hiền đại do Trung Quốc Đại lục,
xuất bản năm 1986, trong số tất cả từ vận háng ngữ hiện đại,
bao gồm các thực từ và hư từ.
Tần suất sử dụng động từ chết đứng vị trí thứ 237, từ giết xếp vị trí thứ 940.
Ngoài ra, do đảng Cộng sản giành chính quyền bằng cách tạo phản,
quản lý người dân Trung Quốc theo kiểu quân sự hóa,
nên từ ngữ mang màu sắc quân sự trong nguồn từ của đạn có rất nhiều.
Ở đây chúng tôi tập trung phân tích 4 đặc trưng của nguồn từ của đạn.
Mục 1. Trung Cộng lũng đoạn quyền định nghĩa từ ngữ.
Ngàn ngữ phương Tây có câu,
việc của Caesar là của Caesar, việc của Thượng Đế là của Thượng Đế.
Chính trị chỉ là một tầng diện của toàn bộ kết cấu xã hội.
Trong tình huống thông thường,
chính trị sẽ cùng phát huy tác dụng với tín ngưỡng, đạo đức, tập tục, v.v.
Một chính quyền, theo nghĩa thông thường,
sẽ không có ý định giải quyết tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống con người,
càng không định giải quyết những vấn đề quan tâm cuối cùng của nhân sinh,
như con người từ đâu đến, đi về đâu, mục đích đời người là gì.
Nhưng Trung Cộng là một chính quyền tài giáo mà tôn giáo và chính trị được hợp nhất.
Nó tất nhiên phải đưa ra một bộ lý giải về trời đất con người,
hành vi sinh hoạt và tư tưởng con người,
để thay thế cho chức năng câu thúc và điều tiết xã hội của tín ngưỡng chính giáo,
đạo đức truyền thống và phong tục tập quán.
Ngôn từ của đạn do Trung Cộng tạo nên một cách có hệ thống,
đã cấu thành một thế giới ảo tưởng hoàn chỉnh,
bao trùm kính kệ lên thế giới chân thực,
quy định ra thể chế chính trị và kết cấu xã hội,
giữ tư tưởng hành vi của con người.
Nhìn từ bên ngoài, hệ thống ngôn từ của đạn là một quá trình biến hóa không ngừng.
Nhưng quy tắc căn bản của hệ thống ngôn từ của đạn thì tuyệt đối không đổi.
Thay đổi thì cũng đồng nghĩa với việc tự nó giải thể.
Quy tắc căn bản này là,
hệ thống ngôn từ của đạn là để phục vụ
cho việc duy hữu sự thống trị độc tài của tài giáo Trung Cộng.
Sự thay đổi của ngôn từ của đạn
cũng không được gây tổn hại đến lợi ích căn bản của đạn.
Thế nên đạn tất nhiên sẽ lụng đoạn quyền giải thích hệ thống ngôn từ của đạn.
Điểm này cho thấy ngôn từ của đạn suy cho cùng,
là một hệ thống khép kín.
Trong cuốn Từ Điện Háng Ngữ Hiền Đại,
nhà xuất bản Thương Vụ năm 1981 của chính quyền Trung Cộng,
một lượng lớn cách giải thích từ ngữ tra ngập giáo dục chính trị,
tuyên truyền tẩy não của Đảng Cộng sản.
Đảng Cộng sản đã biến cuốn sách công cụ tra cứu
theo nghĩa truyền thống thành cuốn từ điện chính trị văn hóa đạn hiện đại.
Những từ dưới đai xã hội bình thường vẫn đang sử dụng,
nhưng Trung Cộng lại giải thích về những từ này hoàn toàn khác.
Đạn, chính đạn ở nước ta là chỉ đảng Cộng sản Trung Quốc.
Đạn trong chữ chính thể nghĩa là tôn dùng sự hắt ám.
Cộng tử nói, quân tử quần nhi bắt đạn
Kết đảng tất nhiên phải mưu lời riêng.
Cùng đảng thì phải phạt gì?
Phạt kẻ khác biệt, không cùng đảng.
Đây là một từ mang nghĩa xáo theo truyền thống.
Lạp đảng vi công, hành lạp đảng vì lợi ích chung
vốn là cách nói tự bản thân nó đã có mâu thuẫn.
Trong tu tử học Tây Phương được gọi là từ xử chữa có tính mâu thuẫn.
Trung Cộng dùng từ đảng làm danh từ riêng cho mình.
Đảng không đầu, không có mặt, thống trị tất cả.
Từ nay đã bị Trung Cộng cưỡng chế đưa vào nghĩa tốt, nghĩa chính diện.
Giải phóng, cởi trói được tự do và phát triển chuyên dùng việc chỉ lật đổ sự thống trị, phản động.
Cách mạng, giai cấp bị áp bức dùng bạo lực để cướp đoạt chính quyền.
Phá bỏ chế độ xã hội cũ suy đổi, xây dựng chế độ xã hội mới tiến bộ.
Cách mạng phá bỏ quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới.
Dân chủ. Chỉ về việc mặt chính trị thì người dân có quyền được tự do phát biểu ý kiến, tham gia quản lý chính quyền quốc gia.
Dân chủ có tính giai cấp như dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.
Chỉ có dân chủ của giai cấp tư sản, không có dân chủ của giai cấp vô sản.
Ở nước ta, nhân dân được hưởng dân chủ rộng rãi và chân chính nhất.
Trung Cộng không chỉ lũng đòn quyền giải thích từ ngữ, mà còn lũng đòn quyền giải thích pháp luật.
Quyền giải thích chân lý, cũng tức là quyền khống chế đối với chân lý.
Có quyền bá chủ ngôn ngữ rồi, Trung Cộng bất cứ lúc nào cũng có thể nguy trang thành hóa thân của chân lý.
Mục 2. Tính đa tầng nghĩa và tính lừa gạt của ngôn từ của đảng.
Văn hóa đảng mang tính đa tầng nghĩa, có thể phân thành văn hóa đảng bề mặt, văn hóa đảng trung tầng và văn hóa đảng tầng thâm sau.
Văn hóa đảng bề mặt thì hót như khứu, dùng để lừa gạt và khống chế đài chúng.
Văn hóa đảng trung tầng, dùng để duy trì các hoạt động căn bản của đảng.
Văn hóa đảng tầng thâm sau có mục đích để duy hữu sự sống còn của đảng, không gì không dùng đến nó.
Nó là đảm bảo căn bản cho sự tồn tại phát triển của đảng.
Đảng và lãnh đạo đảng không bị chế ước bởi văn hóa đảng bề mặt.
Họ chỉ coi văn hóa đảng bề mặt là một công cụ.
Tính đa tầng thứ của văn hóa đảng là một chứa ngại quan trọng, khiến mọi người khó mà nhận thức được bản chất văn hóa đảng.
Ngược lại, ngôn từ của đảng cũng có thể phân thành ngôn từ của đảng ở bề mặt, ngôn từ của đảng trung tầng và ngôn từ của đảng tầng thâm sau.
Ngôn từ của đảng bề mặt bao gồm những ngôn ngữ mang hình thái ý thức tốt đẹp nhất của Trung Cộng.
Vì nhân dân phục vụ, nền văn minh tinh thần xã hội chú nghĩa, lấy đức triệt quốc, xã hội hài hòa, v.v.
Ngôn từ của đảng trung tầng phối hợp với quá trình vận hành bình thường của chính quyền Trung Cộng.
Người bình thường dễ lẫn lộn nó với những từ ngữ hành chính được chính phủ sử dụng thông thường khi thực hiện chức năng quản lý.
Ngôn từ của đảng trung tầng bao gồm những từ ngữ được phân tích kỹ ở phần trước, như tuyên truyền, quán truyệt, chấp hành, đấu tranh, chiến sĩ thi đua, đại biểu,
tinh thần hội nghị, đường lối, nhận thức, lãnh đạo, cấp trên, hiệu triệu, phóng đấu, quỹ ban, báo cáo tư tưởng, từ kiểm điểm, phê bình và tự phê bình.
Ngôn từ của đảng tầng thăm sau không có đặc trưng về hình thái, rất có thể chỉ là tiếng lóng,
nhưng vì nó phơi bày rõ tính cực đoan, tàn bạo, vô liêm sĩ, bản chất lưu manh của Trung Cộng,
nên trong tình huống bình thường nó chỉ lưu truyền trong nội bộ thành phần nồng cốt của Trung Cộng.
Loại ngôn từ của đảng này bao gồm những câu như
nịnh nọt, ton hót thì không tốt, nhưng việc công tác cách mạng thì lại tốt và nên làm, của Lưu Thiếu Kỳ.
Học sinh mà không nghe lời, thì cho một liên đội súng máy, xử lý là xong, của đảng Tiểu Bình.
Pháp Luân Công giảng chân thiền nhẫn có thể thẳng tay mà đàn áp, của gian trạch dân, v.v.
Đáng chú ý là có lúc Trung Cộng để cho ngôn từ của đảng tầng thăm sau biểu hiện ra bề mặt, để biểu đạt mục đích đặc biệt nào đó.
Ví dụ, như kiểu bọc bạch của Mao Trạch Đông và đảng Tiểu Bình,
ta là Lưu Manh thì ta còn sợ ai, đã kích động sự xung bái bạo lực của rất nhiều người.
Luân điệu của vị tướng Trung Cộng Chu Thành Hổ,
không thiết hy sinh tất cả những thành phố tính từ Tây An về phía Đông, để đánh một trận đại chiến tranh hạt nhân với nước Mỹ.
Phát ngôn của Nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trị Hảo Điền,
dẹp sạch nước Mỹ, chính là Trung Cộng giả vờ vô tình tuyết lộ cho thế giới,
nhằm mục đích thăm dò phản ứng của nước kia,
đồng thời tuyên bố rõ ràng với đối phương rằng nó là một kẻ sẵn sàng liều chết,
gây cút sóc tâm lý cho đối phương.
Quá trình một người bình thường bị văn hóa đảng khống chế là một quá trình từ nông cạn đến thăm sau.
Ban đầu bị ngôn từ của đảng bề mặt lừa gạt,
sự kích động trong thời kỳ cách mạng,
sự ngây thơ trong sáng của lớp thiếu niên nhi đồng,
tinh thần sục sôi, nhiệt huyết của lớp thanh niên,
tiến thêm một bước là thái độ phản cảm với ngôn từ của đảng bề mặt,
nhưng lại không dám nói ra.
Rồi khi quen thuộc với nó đến mức thành tự nhiên như ngựa quen đường cũ,
người ta lặp lại một cách máy móc ngôn từ của đảng trung tầng,
và trở thành một phần tử của tổ chức tại giáo Trung Cộng.
Tiến sâu hơn người ta nếm trải những lợi ích của việc dựa vào văn hóa đảng,
thấm nhuận hàm nghĩ chân thực của ngôn từ của đảng tầng thăm sau,
ghi hội cho lợi ích và sinh tồn của đảng một cách ích kỷ, cực đoan.
Từ đó hoàn toàn trói buộc bản thân vào đảng,
vinh cùng hưởng, nhục cùng chịu.
Còn người hiện nay phần đông đều vô cùng phản cảm với ngôn từ của đảng trên bề mặt.
Họ không nhận thức rõ ràng ngôn từ của đảng ở trung tầng
thực chất là để duy hữu sự thống trị độc tài của Trung Cộng.
Còn đối với ngôn từ của đảng tầng thăm sau,
họ không biết hoặc không dám tin rằng những từ ngữ cực đoan,
ích kỷ, tàn bạo, vô liêm sỉ này mới thể hiện bản chất thực sự của Trung Cộng.
Xét một cách tương đối, tính lừa gạt của ngôn từ của đảng bề mặt khá yếu,
tính lừa gạt của ngôn từ của đảng trung tầng khá mạnh.
Ngôn từ của đảng tầng thăm sau không chê đại sự tài ác của đảng,
nhưng không thể xuất hiện trên các văn kiện và các kênh truyền thông chính thức,
không thể quảng bá rộng cho người ta biết.
Mặt khác, mức độ tài ác của Trung Cộng vượt khỏi sức tưởng tượng của người bình thường,
nên để hiểu được ngôn từ của đảng tầng thăm sau rốt cuộc có ý nghĩa gì,
điều này cũng cần phải có dũng khí lớn và trí tuệ sáng suốt.
Cần nói rõ ràng mặc dù ở Trung Quốc hiện nay hầu như không còn ai tin vào ngôn từ của đảng bề mặt nữa,
nhưng trong tuyên truyền Trung Cộng lại không thể tách khỏi ngôn từ của đảng bề mặt,
vì Trung Cộng cần dùng nó để lừa gạt người ngoại quốc
và tung hỏa mù trong nội bộ Trung Cộng để lừa gạt lẫn nhau,
đồng thời lừa gạt lương tâm của các đảng viên.
Mục 3. Tính trưu tượng và tính nguội biện của ngôn từ của đảng
Lời nói của người bình thường luôn luôn cụ thể có cảm xúc dễ hiểu và dễ nắm bắt.
Vũ nhân Trung Quốc chú trọng tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ,
tự thiên tử dĩ, trí vô thứ dân, nhất thì gia dĩ tu thân vi bản,
nghĩa là từ thiên tử cho đến thường dân tất cả đều lấy việc tu thân làm căn bản.
Một người cho dù có khát vọng lớn đến đâu, cũng đều phải bắt đầu từ những việc cơ bản nhất,
như làm việc tỉ mỉ trước sau như một, hiếu kính phụ mẫu yêu thương huynh đệ,
tính ngưỡng chính thống và hệ thống đạo đức luôn luôn dùng ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu để biểu đạt,
ví dụ những tiêu chuẩn như không được giết người, không được trộm cướp,
không được tạo bằng chứng giả, hãm hại người khác, trong 10 điều răng của chúa,
vô cùng cụ thể và không cần trình độ giáo dục cao, ai ai cũng có thể hiểu và thực hành theo.
Nhưng ngôn từ của đảng của Trung Cộng lại mơ hồ trưu tượng khác thường.
Tính trưu tượng cao của ngôn từ của đảng khiến cho Trung Cộng rất dễ đổi trắng thay đen,
sớm nắng chiều mưa, đua cợt, nguy biện, lừa gạt người dân trong nước và thế giới.
Trung Cộng cứng ép nhồi nhét bộ từ ngữ của đảng này vào đầu những người trí thức và người dân thường,
có thể đạt đến mức khiến người ta thà tin vào thứ ngôn ngữ rượm rà, khó hiểu của Trung Cộng,
chứ không tin vào sự phán đoán thông thường của bản thân.
Trước cái gọi là cải cách ruộng đất, vùng nông thôn phía Bắc Trung Quốc có mối quan hệ gia tộc vô cùng hòa thuận,
hoàn toàn không có kiểu đấu tranh giai cấp, một sống hai chết,
giữa địa chủ và người làm thuê là mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ.
Nhưng sau khi đảng Cộng sản đến, ngoài việc kích động xúi dục lũ lưu manh địa phương tạo phản,
nó còn tiêm nhiễm vào người nông dân sự hận thù giai cấp.
Đa số mọi người mặc dù cả đời chưa từng gặp phải địa chủ ác bá như Trung Cộng miêu tả,
nhưng Trung Cộng lại nguy biện rằng, cướp bóc và áp bức nhân dân lao động là bản chất giai cấp của giai cấp địa chủ.
Vì vậy trải nghiệm mang tính cá biệt của những người nông dân không thể làm thay đổi kết luận mang tính khoa học của chủ nghĩa Mark Lenin, tư tưởng Mao Trạch Đông.
Một mặt mọi người xuất phát từ sợ hãi và lãng quên,
mặt khác không cách nào bác bỏ được cách nói trừ tượng của Trung Cộng về bản chất giai cấp,
nên dần dần người ta bắt đầu tin tưởng thực sự có tồn tại một giai cấp địa chủ.
Giai cấp này áp bức bóc lột những người dân nghèo khổ,
muốn sống yên ổn thì hoặc là tiêu diệt bọn họ,
hoặc phải khiến cho họ sống dưới nền chuyên chính vô sản,
chỉ được im lặng ngoan ngoãn không được nói bừa làm càng.
Hiện tượng này vô cùng điển hình,
sở dĩ sự dối trá của Trung Cộng có thể thuận lời thông suốt không gặp trở ngại
là do tính trừ tượng và tính nguy biện xảo trá của ngôn từ của đảng có mối quan hệ rất lớn.
Trong các cuộc vận động chính trị hết lần này đến lần khác trong lịch sử của Trung Cộng,
đều đã từng xuất hiện loại hiện tượng này.
Không tin tưởng những tình cảm lung lý tự nhiên như tình thân, tình bằng hiểu,
thậm chí không tin vào trải nghiệm của bản thân mình,
mà lại tin theo những lý luận cực đoan của đảng Cộng sản trái ngược với cái tình có lý thông thường.
Cũng vì thế mà gây ra biết bao thảm cảnh cha con phản bồi lẫn nhau,
vợ chồng thù hận lẫn nhau trong thời cách mạng văn hóa.
Theo thống kê trong cuốn Từ Điển Tần Suất Háng Ngữ Hiên Đại,
xét về tần suất sử dụng,
từ chủ nghĩa xếp ở vị trí thứ 37 trên tổng số các từ vận háng ngữ hiện đại,
bao gồm thực từ và hư từ,
và xếp thứ 4 trong số tất cả danh từ,
chỉ đứng sau từ nhân và hai từ chỉ phương vị trên trong.
Chủ nghĩa xuất hiện 253 lần trong báo cáo đại hội thứ 12 của Trung Cộng,
250 lần trong đại hội thứ 13,
216 lần trong đại hội thứ 14,
253 lần trong đại hội thứ 15,
155 lần trong đại hội thứ 16.
Trong các văn kiện báo chí sách giáo khoa của Trung Cộng,
những cụm từ đứng đầu là chủ nghĩa thường gặp là chủ nghĩa Mark Lenin,
chủ nghĩa cộng sản,
chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa phong kiến,
chủ nghĩa thực dân,
chủ nghĩa tư bản,
chủ nghĩa đế quốc,
chủ nghĩa bá quyền,
chủ nghĩa duy vật,
chủ nghĩa duy tâm,
chủ nghĩa trụ quan,
chủ nghĩa mệnh lệnh,
chủ nghĩa gia tộc,
chủ nghĩa cơ hội,
chủ nghĩa mạo hiểm,
chủ nghĩa đào tạo,
chủ nghĩa bế quan,
chủ nghĩa tự do,
chủ nghĩa giáo điều,
Cho đến nay,
có lẽ không ai có thể làm rõ
những từ này rốt cuộc đại biểu cho ý nghĩa gì.
Nhưng trong các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng,
các mũ chủ nghĩa gì gì đó
đã từng đẩy hàng nghìn hàng vạn người vào chỗ chết.
Tính trừ tượng của ngôn từ của đảng
thuận tiện cho Trung Cộng
tùy ý giải thích từ ngữ
dựa theo nhu cầu chính trị của nó.
Nếu từ ngữ sử dụng quá cụ thể,
thẳng thắng,
mọi người đều có thể hiểu,
thì Trung Cộng không dễ dàng mà lừa gạt như vậy.
Trừ tượng một chút,
mọi người đều thấy mơ hồ,
thì Trung Cộng có thể tùy ý giải thích.
Chủ nghĩa xã hội
thời của Mao Trạch Đông
lại tiếp tục cách mạng
dưới điều kiện chuyên chính giai cấp vô sản.
Thời đảng Tiểu Bình lên nóng quyền
lại đề xuất
nghèo khổ
thì không phải là chủ nghĩa xã hội.
Thời của Giang
thì có thể cho nhà tư bản gia nhập đảng.
Rốt cuộc cái gì là chủ nghĩa xã hội?
Nói trắng ra,
phàm là thứ mà đảng Cộng sản làm
thì đều là chủ nghĩa xã hội.
Những ngôn từ của đảng
như giai cấp,
đường lối,
nhận thức,
cánh tả,
cánh hữu,
tiến bộ,
phản động,
chế độ công hữu
tức người dân chỉ được sở hữu
trên lý thuyết,
chỉ Trung Cộng thực sự được sở hữu.
Chủ nghĩa xã hội,
đặc sắc Trung Quốc,
v.v.
đã tạo nên những tấm màng đen trùng trùng
mà Tập đoàn Quyền lực Trung Cộng
nắp ở đằng sau tấm màng đó.
Vì lợi ích và sự sống còn của Tập đoàn,
một mặt trong nội bộ
nó cấu xé lẫn nhau
Mục 4
Tính tiếp thu
và tính sáng tạo
của ngôn từ của đảng
Ngôn từ của đảng
còn có đặc điểm là
tính thu nạp
và tính sáng tạo.
Tính thu nạp
chỉ Trung Cộng có sở trường
trong việc chỉnh lý
thu nạp ngôn từ
của người bình thường
và biến nó thành của mình,
thậm chí dùng lời phê bình
của người khác
để làm đẹp cho mình.
Trung Cộng còn vô liêm sỉ
đến mức
lấy tất cả thành quả văn minh
trong lịch sử nhân loại
để biện hồ cho bản thân.
Những từ vốn mang ý nghĩa
tốt đẹp như
ái quốc,
sự phục hưng vĩ đại
của dân tộc Trung Hoa,
lấy đức triệt quốc
bị Trung Cộng trộn dùng
trong thời gian dài.
Hiện nay người ta
hầu như không thể sử dụng
những từ này
một cách bình thường
mà không cảm thấy phản cảm.
Tính sáng tạo
nghĩa là sau khi
đã hình thành tư duy văn hóa đảng
thì có thể sáng tạo ra từ mới
thể hiện sức sống
đi cùng thời đại
của chính quyền Trung Cộng.
Trung Cộng có tổ chức nghiêm ngặt
và sự khống chế nghiêm ngặt
đối với xã hội.
Một khi đầu não
của chính quyền tà ác này
người lãnh đạo
hoặc trung ương đảng
đã quyết định
phương chăm chính sách gì
thì những tổ chức
cấp dưới của chính quyền
sẽ giống như
tay chân của nó
hoàn toàn chấp hành
chính sách này.
Trong quá trình thực hiện
đã sinh ra
một lượng lớn
ngôn từ của đảng.
Trong những năm gần đây
phương thức chủ yếu
để sáng tạo
từ mới của Trung Cộng
bao gồm
văn hóa đảng
cộng với
từ dùng trong văn hóa
Văn hóa đảng
cộng với
Hậu quả
của tính thu nạp
và tính sáng tạo
của ngôn từ của đảng là
sau khi một loạt
ngôn từ của đảng
đã chuẩn bị đào thải rồi
thì một loạt
ngôn từ của đảng mới
lại được nhanh chóng
tạo ra.
Trong quá trình sử dụng
ngôn từ của đảng
bị pha trộn
biến dạng
làm xuất hiện
một số lượng khổng lồ
muôn hình vạn trạng
các biến thể của nó.
Nội hàm văn hóa đảng
của những từ mới này
khiến cho người ta
khó mà đề phòng được.
Trong lịch sử Trung Quốc
và nhân loại
kẻ ngoại lai
đến xâm lược
chỉ chiếm lĩnh đất đai
chứ không thể
thuần phục được
cả một dân tộc
bởi vì chỉ cần
người dân bị xâm lược
còn giữ được
tinh thần dân tộc
thì sẽ không dễ dàng
bị khuất phục.
Trong lời dẫn
của bài này có nói
ngôn ngữ tạo nên
diện mạo tinh thần
bản sắc dân tộc
vì vậy để
hủy hoại tinh thần
của dân tộc
kẻ xâm lược
ngoài việc
chiếm hữu đất đai
còn phải phá hủy
văn hóa truyền thống
vốn có của dân tộc đó
mà hủy hoại
ngôn ngữ
công cụ tải thể
của nền văn hóa
chính là một trong
những thủ đoạn
hữu hiệu nhất
để hủy diệt
văn hóa dân tộc
tinh thần dân tộc.
Ví dụ
trong cuộc chiến
phổ Pháp
năm 1870
nước phổ
sau khi chiếm
nước Pháp
liền mưu toan
bắt phải dạy tiếng Đức
ở các trường học
nằm trong
khu vực chiếm đóng
cấm dùng tiếng Pháp
Trung Cộng
đã áp dụng
nhiều thủ đoạn
để hủy hoại
văn hóa
truyền thống
Trung Hoa
làm biến dị
và thay thế
ngôn ngữ
là một trong số đó.
Ngược lại
với thái độ
ngôn ngữ chú trọng
bồi dưỡng đạo đức
hoàn thiện phẩm cách
giáo hóa nhân tính
của văn hóa
truyền thống
ngôn ngữ của Trung Cộng
là để phục vụ
cho lợi ích
của tập đoàn này
giả dối là
linh hồn
của ngôn ngữ
Trung Cộng.
Ngôn ngữ
của Trung Cộng
không chỉ giả dối
mà còn
méo mó
lệch lạc
nó dùng
một bộ từ vừng
thật thật
giả giả
âm thầm
biến dị tư tưởng
của con người.
Nó dùng
một hệ thống
ngôn ngữ
kiểu treo đầu dê
bán thịt chó
thay đổi
hoàn toàn
chiều hướng phát triển
của lịch sử
dân tộc.
Cuối cùng
hủy diệt
truyền thống
và tinh thần
dân tộc
Trung Hoa
được thân
truyền lại
mà người dân
không hề biết.
Văn hóa
chính thống
của Trung Hoa
đã hoàn toàn
biến mất
và bị thay thế
toàn diện
bằng nội dung
văn hóa đảng.
Dân tộc Trung Hoa
từ đó đã chẹt ra khỏi
quan hệ hài hòa
với vũ trụ,
bị đặt sai
vị trí
trên thế giới,
đối lập
với tinh thần
vốn có
của nhân loại.
Phương thức
sinh tồn
và hướng phát triển
của cả dân tộc
Trung Hoa
đã đi ngược lại
với quỹ đạo
mà tạo hóa
đã sắp đặt.
Nguồn gốc
của ngôn ngữ
và văn hóa
Trung Quốc
là gì?
Đa số người Trung Quốc
ngày nay
đều không biết.
Họ còn tưởng rằng
người Trung Quốc
từ xưa đến nay
vẫn nói như vậy.
Hệ thống
ngôn từ của đảng
đã bóp nghẹt
tinh thần
và sức sống
dân tộc,
tăng cường,
củng cố
năng lượng
và sức trói buộc
của hệ thống
phản nhân loại này.
Trong lịch sử
người Trung Quốc
vẫn luôn tự hào
vì khả năng
đồng hóa
mạnh mẽ
của văn hóa
Trung Quốc.
Văn hóa Trung Quốc
trong thời kỳ
hòa bình
vô cùng huy hoàng
khiến cho các nước khác
phải đến chầu bái.
Ngay cả khi Trung Quốc
bại trận
hay mất nước
thì khả năng đồng hóa
các nền văn hóa
di tộc của nó
vẫn biểu hiện mạnh mẽ.
Triều đình Nguyên Mông
và Mãng Thanh
đã bị khuất phục
bởi sự bác đại
tinh thần
của văn hóa Trung Hoa.
Cam tâm tình nguyện
thần phục
trước sức mạnh
thần kỳ ấy.
Họ đã truyền thừa
những tinh hoa
Qua phân tích tổng hợp
số lượng lớn từ ngữ
chúng ta không thể không đối diện
với một hiện thực quan trọng.
Lịch sử không thể khuất phục
của văn hóa Trung Hoa
đã bị viết lại.
Văn hóa Trung Hoa
đã bị Đảng Cộng sản
thay thế bằng chủ nghĩa
Mark Lenin
tà ác ngoài lai.
Trên phương diện văn hóa
và ngôn ngữ
thì người Trung Quốc
đã sớm bị mất nước rồi.
Mục 2
Ngôn từ của Đảng
cưỡng chế thay đổi
cuộc sống của người dân Trung Quốc.
Ngôn từ của Đảng
là bộ phận ngôn ngữ
được người Trung Quốc
hiện nay sử dụng nhiều nhất
có tính hành động
và tính tri phối mạnh nhất.
Tính tri phối của ngôn từ của Đảng
biểu hiện chủ yếu ở
Thứ nhất,
ngôn từ của Đảng
có tần suất sử dụng cao.
Thứ hai,
ngôn từ của Đảng
có uy quyền cao.
Theo thống kê
từ điện tần suất hán ngữ hiện đại
thứ tự về tần suất sử dụng
của một số từ ngữ Đảng
điển hình trong toàn bộ
từ vận hán ngữ hiện đại
bao gồm cả những hư từ
như
của
và
như sau.
Ngoài ra,
từ Đảng
là một từ
không thường dùng
trong xã hội truyền thống.
Nhưng sau khi
Trung Cộng thành lập,
tần suất sử dụng
của từ Đảng
nhanh chóng
nhảy lên vị trí
119.
Đảng Cộng sản
vị trí
331.
Đây gần như
là danh từ
có tần suất sử dụng
cao nhất.
Có thể thấy rõ ràng rằng
hiện nay
Trung Cộng
đang đứng
ở vị trí
độc đảng
độc tài
ở Trung Quốc.
Tính quyền uy cao
của ngôn từ của Đảng
thể hiện
ở việc
nó lấy
bạo lực
của Trung Cộng
làm hầu thuẫn.
Nó chiếm lĩnh
những lĩnh vực
ngôn ngữ
có sức ảnh hưởng nhất
như
chính trị,
kinh tế,
tư pháp,
giáo dục,
tin tức.
Những thể loại
ngôn ngữ
của xã hội chính thống
liên quan đến
luân thường,
đạo lý,
ăn ở đi lại,
tình yêu đôi lứa
không hoàn toàn biến mất
nhưng chỉ nằm
ở vị trí ngoài rìa
và dễ bị chi phối.
Cho dù người ta
có muốn hay không
trong các hoàn cảnh chính thức
công khai
đều bị bắt
sử dụng ngôn từ của Đảng.
Ngôn từ của Đảng
và hậu quả
mà ngôn từ của Đảng
mang lại
lý luận của Trung Cộng
phải được
học tập,
lĩnh hội,
chính sách của Trung Cộng
phải được
quán triệt,
chấp hành,
v.v.
đã cưỡng chế
thay đổi cuộc sống
của người Trung Quốc
đem đến cho
người dân Trung Quốc
những tai họa nghiêm trọng.
Mục 3
Ngôn từ của Đảng
cái nhìn phiến diện
của người Trung Quốc
ngày nay
ngôn ngữ là
công cụ tư tưởng
tư tưởng của con người
thể hiện
ở sự kết hợp
của từ và câu.
Ngôn từ của Đảng
đã cải biến
cách nhìn nhận
về thế giới
của con người.
Nó thể hiện
cái nhìn phiến diện
của người Trung Quốc
ngày nay.
Mục 1
Ngôn từ của Đảng
khiến cho người ta
bảo vệ ác đảng Trung Cộng
một cách không tự biết.
Ngôn từ của Đảng
dù là ngôn từ
do Trung Cộng tạo ra
hay là ngôn từ
bị Trung Cộng cải tạo
mục đích tồn tại
của chúng
chính là để duy trì
bảo vệ nền thống trị
của ác đảng Trung Cộng.
Dùng tư liệu ngôn ngữ
đã bị bóp méo
mà Trung Cộng
cung cấp cho người dân
thì người dân không thể
nhìn thấy được
gián vệ chân thực
của thế giới
mà chỉ có thể nhìn thấy
Bộ từ vận
mà Trung Cộng
tự phát minh ra
đã mô tả
là lịch sử thành lập
của nó.
Nếu một người
dùng bộ từ ngữ này
để suy xét
về lịch sử Trung Cộng
thì chỉ có thể có được
những kết luận
mà Trung Cộng
muốn cho anh ta biết.
Hãy xem bảng dưới đây
bảng 5
Trường Chinh
bắt Thượng Kháng Nhật
thực chất là
trốn chạy rút lui.
Phân tích
sau năm 1931
khi đang diễn ra
cuộc chiến chống quân
xâm lược Nhật Bản
Trung Cộng
đã phát động
cuộc phiến loạn
tại Giang Tây
tiến hành các cứ vũ trang
sau khi bị
bao vây tiêu diệt
đã tháo chạy
tán loạn
về phía Tây Nam.
Cuộc bắt Thượng
sau đó
vốn là muốn tháo chạy
sang Nga
nên đành phải
sau khi quân Nhật
xâm lược toàn Trung Quốc
Đảng Cộng sản
thừa cơ phát triển
lớn mạnh
cuối cùng mang
tai hòa đỏ
đến cho cả nước.
Chỉnh đốn tác phong
thực chất là
tẩy não
viên an
khủng bố viên an.
Phân tích
Chỉnh
là tư tưởng được
chỉnh đốn
quản lý
quy phạm.
Từ chỉnh đốn tác phong
ám chỉ với mọi người rằng
Đảng đang quản đảng
Trung Cộng
đang gia tăng kiến thiết
của mình
đang nỗ lực
biến tác phong
của Đảng
thành chính thống.
Thực ra
chỉnh đốn tác phong
nghĩa là
Trung Cộng tăng cường
tẩy não
các cán bộ đảng viên
là cuộc tổng diễn tập
cho những cuộc
vận động chính trị
về sau
của Trung Cộng.
Giải phóng
Thực chất là
Trung Cộng
cướp chính quyền.
Phân tích
Giải phóng
chỉ sự phá bỏ
mọi trói buộc
giành được tự do.
Sau khi Trung Cộng
thành lập chính quyền
cả nước Trung Quốc
biến thành
một nhà tù lớn
nhân dân cả nước
đều sống
trong sự nô dịch.
Đi về địa phương
thực chất là
đi đầy.
Phân tích
Chỉ khác nhau
một vài chữ
nhưng có thể thấy được
sự giả hoạt của Trung Cộng
trong việc che giấu
hành vi ác độc
của mình.
Ba năm thiên tai
Thực chất là
nạn đói lớn
ba năm.
Phân tích
Nạn đói ba năm
là một tai họa
do con người gây nên
bởi chính sách
mong mùi của Trung Cộng.
Đại cách mạng văn hóa
thực chất là
đại phá hoại văn hóa
đại tẩy não toàn dân
đại thanh trần chính trị.
Phân tích
Văn hóa truyền thống
tin tưởng mệnh
của vua Gia Trời Định
Cách mạng chỉ sự thay đổi
thiên mệnh
như cuộc cách mạng thang vũ
thuận ý trời
mà hợp ý dân
trong dịch cách.
Trung Cộng đã
bóp méo ý nghĩa
của từ cách mạng
vốn để chỉ hành động
bạo lực
lọt đổi giai cấp thống trị.
Bóp méo nó
trở thành một từ
mang ý nghĩa tán dương.
Từ đại cách mạng văn hóa
đã che giấu
đi bản chất
của cuộc vận động.
Có tính lưu gạt nhất
là với thế hệ trẻ
và người nước ngoài.
Lên rừng xuống biển
tức là
lao động cải tạo trá hình
dành cho
phần tự trí thức trẻ.
Phân tích
Tự lên rừng xuống biển
khiến cho người ta
liên tượng đến
sự lãng mạn
ấm áp.
Đây cũng là
một trong những nguyên nhân
quan trọng khiến cho
một số thanh niên
thời đó
có cảm giác hoài niệm
về khoảng thời gian ấy.
Cách cách mở cửa
thực chất là
nới lỏng
quản lý kinh tế
quản lý chính trị
để duy trì chính quyền.
Phân tích
Bế quan tọa cản
suy thoái kinh tế
là do Trung Cộng gây ra.
Cả cách mở cửa
chẳng qua
chỉ là phục hồi lại
một phần
phương thức hoạt động kinh tế
trước khi Trung Cộng
cướp chính quyền.
Không hề có sự nới lỏng
về lĩnh vực chính trị.
Bạo loạn,
phản kích mạng,
sóng gió chính trị
thực chất là
vận động dân chủ
năm 1989.
Phân tích
ban đầu Trung Cộng
gọi cuộc vận động dân chủ
năm 1989
là bạo loạn.
Sau đó
bắt đầu sử dụng
từ sóng gió chính trị
với ý đồ khiến
mọi người hiểu nhầm
rằng Trung Cộng
cũng chỉ là nạn nhân
của sóng gió.
Những năm gần đây
Trung Cộng lại tạo ra
một lượng lớn
những từ ẩn ngữ
chính trị
để tô soan trác phấn
che đầy bộ mặt
thật xấu xa của nó.
Ví dụ gọi
thất nghiệp là
đợi việc
hạ cương vị
nghỉ việc nội bộ.
Đợi việc
ám chỉ là sẽ có việc
trong tương lai.
Hạ cương vị
tức là trước đây
đã từng có công việc
mà không nhắc đến
hiện nay không có việc.
Ví dụ khác
dưới sự thống trị
của Trung Cộng
những người dân nghèo khổ
bị gọi là
nhóm người yếu thế.
Ám chỉ tình cảnh
nghèo khổ của họ
là do nguyên nhân
ở tự bản thân họ.
Ngôn từ của đảng
ẩn ngữ chính trị
của Trung Cộng
có một vài hình thức
chủ yếu như sau.
Hình thức
đội trắng thay đen
như khởi nghĩa
giải phóng.
Hình thức
không phân biệt
đảng và quốc gia
như kiến quốc
ác quốc
thế lực phản động.
Hình thức
khuấy đục nước
như 10 năm tai họa
5 tháng hoang đường
sóng gió chính trị
nó có đặc điểm
là dùng
một từ mập mờ
không rõ
để gọi
một sự kiện lịch sử
nào đó
khiến cho người ta
không thể nào nhận ra
vai trò gây tội ác
của Trung Cộng
trong đó.
Hình thức
nói sai thành đúng
như trường chinh
cải cách mở cửa
hình thức này
có đặc điểm
việc xấu
nói thành việc tốt
gọi đóng rác rưỡi
được Trung Cộng
vớt lên
sau thời kỳ khủng hoảng
là công lao
vĩ đại của Trung Cộng
hoặc là quyết sách
sáng suốt
của lãnh đạo
Trung Cộng.
Hình thức
dương đông kích tay
như 4 hiện đại hóa
phát triển
là con đường tắt yếu
4 hiện đại hóa
bao gồm công nghiệp
nông nghiệp
quốc phòng
khoa học
kỹ thuật
nhưng không nhắc đến
hiện đại hóa chính trị
bản thân khái niệm
hiện đại hóa
cũng cần phải kiểm tra lại
nhưng ở đây
chúng ta chưa bàn đến
Trình độ văn minh
xã hội
và mức độ phúc lời
của người dân
được quyết định
bởi nhiều điều kiện
cùng lúc
Trung Cộng
chỉ nhấn mạnh
đến phát triển kinh tế
một cách phiến diện
mà chế giấu hiện thực
rằng
chính trị hữu bại
đạo đức suy đổi
môi trường ô nhiễm
do sự thống trị
độc tài
mang lại
mới là nguyên nhân
khiến cho môi trường
sống của người dân
ngày càng tồi tệ hơn.
Hình thức
giấu đầu
hở đuôi như
trỗi dài trong hòa bình
một người đến thăm nhà bạn
chắc chắn
sẽ không nói rằng
không phải tôi
đến cướp nhà anh đâu
biết bao đất nước
có nền kinh tế phát triển
nhưng cũng không có nước nào
tự xưng minh là
trỗi dài trong hòa bình.
Cách nói này
của Trung Cộng
lộ rõ
giả tăng quân sự của nó
đằng sau
sự phát triển kinh tế.
Do sự lũng đoạn
của Trung Cộng
trong các lĩnh vực
văn hóa
giáo dục
nghiên cứu
khoa học,
tin tức
nên người Trung Quốc
hiện nay
khi bàn luận
về một vấn đề nào đó
thì khó mà không sử dụng
những từ vận
mà Trung Cộng tạo ra
mà những từ vận này
lại dẫn người ta
đến kết luận
phải duy trì
sự thống trì
của ác đảng Trung Cộng.
Sự thống xoái
của ngôn từ
của đảng
khiến cho người dân
rất khó tư duy
và phát ngôn bình thường.
2. Ngôn từ của đảng
khiến người ta
không thể suy nghĩ bình thường.
Việc ngôn từ của đảng
khiến người ta
không thể suy nghĩ bình thường
thể hiện ở
rất nhiều phương diện.
Trong đó
phương diện chủ yếu
là phá hoại
các quy tắc đạo đức cơ bản.
Người trong xã hội
truyền thống
tin tưởng rằng
mọi người đều có
lòng trắc ẩn
sự quan tâm
yêu mến
giữa người với người
là yêu cầu cơ bản
làm người.
Vì mục đích
cướp đoạt
và củng cố quyền lực
Trung Cộng
cần phải không ngừng
kích động sự thù hận
của người dân
nhưng lòng nhân ái
đối với đồng loại
của người dân
không thể ngay lập tức
mà nhổ bỏ được.
Thế nên
Trung Cộng
đã sáng tạo ra
kẻ thù giai cấp
5 loại phần tử xấu
phần tử ác giáo
một loạt những từ
để ma quỷ hóa
những nhóm người
mà nó muốn loại bỏ
khiến cho các đảng viên
khi bức hài
những người này
không những không cảm thấy
có tội
mà ngược lại
còn có một loại
cảm giác tự hào
rằng mình thuộc loại
lẽ thẳng
khí hùng.
Dưới sự thống trì
của đảng Cộng sản
từ bán đứng
được thay thế
bởi những từ ngữ
mang ý ca ngợi
trong văn hóa đảng như
báo cáo tư tưởng
trao trái tim
cho đảng
đại nghĩ diệt thân
tối giác vạch trần
hỗ trợ chính phủ
làm rõ tình hình.
Từ bán đứng
không chỉ không
bị lên án
bởi đạo đức lương tâm
mà còn được
chính quyền ca ngợi
là hành động chính nghĩa
xuất phát từ
tình cảm cách mạng
cao thường
lập trường cách mạng
kiên định
tình cảm cách mạng
của giai cấp vô sản
trung thành tầng tùy
với đảng
nó xóa bỏ
cảm giác khinh bị
của người bình thường
đối với những hành vi
thấp hèn
như bán đứng
mặc báo
phiến khích người ta
quay lưng lại
với những chuẩn tắc
đạo đức cơ bản
của xã hội nhân loại.
Nguồn từ của đảng
là một hệ thống
có tính phong bế
bản thân hệ thống này
là tà ác
và biến dị.
Trong môi trường lớn
văn hóa đảng
biến dị này
một số cách tư duy
lố bịch
lại trở thành
rất bình thường
ví dụ
thực tiễn là tiêu chuẩn
duy nhất
để kiểm nghiệm chân lý
được Trung Cộng hô hào
gần 30 năm nay
người dân đã quá quen
đến nội trở thành bình thường
coi đó là những quy tắc vàng
chính xác
không cần nghi ngờ gì.
Nhưng suy nghĩ kỹ một chút
chúng ta sẽ phát hiện ra
câu nói này
nghe lố bịch như kiểu
vải vóc
là tiêu chuẩn duy nhất
để kiểm nghiệm thức đo
hàng hóa
là tiêu chuẩn duy nhất
để kiểm nghiệm cái cân
nếu nhất định
phải dùng cú pháp này.
Vậy nói
chân lý
là tiêu chuẩn duy nhất
để kiểm nghiệm thực tiễn
còn hợp lý một chút
có thể sẽ có người nói
anh đã hiểu sai
ý của câu này rồi
ý của nó là như thế này
vào lúc đó
nó có nghĩa là
lặp lại trật tự
giải phóng tư tưởng
vấn đề
chính là ở chỗ này
phải đặt câu nói này
vào trong hiện thực
xã hội lố bịch
do Trung Cộng tạo ra
thì nó mới thể hiện ra
sự có lý
điều này lại càng cho thấy
văn hóa đảng
là một hệ thống
lố bịch
và biến dị
những ví dụ như thế
có rất nhiều
chúng tôi sẽ không
đề cập thêm nữa
3.
Ngôn từ cổ đảng
khiến người ta
khó có thể giao lưu
với người
ở xã hội bình thường
sau khi tiếp thu
ngôn từ cổ đảng
do Trung Cộng định nghĩa
thì người ta
không thể biểu đạt
ý kiến của mình
cho những người
sống bên ngoài
văn hóa đảng
một cách rõ ràng
cũng khó có thể nghe
và hiểu được
hàm nghĩ chân chính
trong câu nói
của những người
sống bên ngoài
văn hóa đảng
một ví dụ điển hình
là cách hiểu
về từ nhân quyền
của người Trung Quốc
và người Tây Phương
hoàn toàn khác nhau
nhân quyền là
quyền lợi cơ bản
của người dân
khi một người phương Tây
bàn về
bảo vệ nhân quyền
thì điều họ quan tâm
là quyền lợi
của người dân
không bị chính phủ
xâm hại
tương tự khi một người
phương Tây
bàn về vấn đề
nhân quyền
với người Trung Quốc
thì họ đứng
về phía người dân Trung Quốc
chứ không phải
đứng về phía
chính quyền Trung Cộng
Lúc này
một người bình thường
nên cảm ơn người đó
mới đúng
nhưng qua sự tiên truyện
lâu dài của Trung Cộng
rất nhiều người Trung Quốc
nhận thức rằng
đây nhất định là
chủ nghĩa bá quyền
Tây Phương
dùng nhân quyền
làm cái cớ
để xâm phạm
vào chính trị trong nước
chủ nghĩa đế quốc Mỹ
mãi mãi
muốn tiêu diệt chúng ta
nghe thấy người Tây Phương
nói đến nhân quyền
những người này
còn bất bình
hơn cả
quan chức Trung Cộng
Hậu quả
của sự hiểu lầm
trong giao tiếp này
không chỉ làm tổn hại
đến hình tượng
của người Trung Quốc
quan trọng hơn
còn khiến cho người Trung Quốc
không thể tiếp nhận
những thông tin bên ngoài
một cách bình tĩnh
cởi mở
từ đó
mà mất đi cơ hội
phát triển
của dân tộc
khiến cho cả dân tộc
luôn bị cách ly
với văn minh nhân loại
bình thường
Lời kết
Thanh trừ ngôn từ của đảng
nói ngôn từ
của người bình thường
1.
Làm thế nào
phân biệt ngôn từ
của đảng
Muốn bài trừ
ngôn từ của đảng
thì trước tiên
phải có thể phân biệt
được ngôn từ của đảng
Nguyên tắc cơ bản
để phân biệt
ngôn từ của đảng là
thuận theo
ngôn từ của đảng
mà suy nghĩ
thì nhất định
sẽ đưa đến kết luận
là phải di hộ
sự thống trị
của Trung Cộng
Đây chính là
ý nghĩa tinh tế
sâu xa
của ngôn từ của đảng
Chúng ta lại tiếp tục
bàn về một số
cách đơn giản
để phân biệt
ngôn từ của đảng
Hỏi thêm một câu
tại sao
những năm gần đây
làm chính trị
đã trở thành
một tội danh đáng sợ
nhưng chẳng phải
Trung Cộng tự xưng
là đảng chính trị sao?
Chẳng phải
nó kêu gọi
mọi người đều phải
tham gia tổ chức
của nó
phải ủng hộ nó
hơn nữa
phải quan tâm
đến quốc gia đại sự
hay sao?
Hỏi như vậy
thì chúng ta sẽ phát hiện ra
Trung Cộng
chỉ cho phép
nó làm chính trị
chứ không cho
người dân tham gia
chính trị
giống như cách nói
làm việc thật
Tại sao
làm việc thật
cũng có thể
trở thành cái cớ
để quan chức Trung Cộng
tự khoe khoan
quát lát?
Lẽ nào
quan chức chính phủ
lại không nên
làm việc thật?
Không làm việc thật
thì chẳng nhẽ
làm việc giả sao?
Hỏi như vậy
chúng ta sẽ phát hiện
công việc thực sự
của quan chức Trung Cộng
là chỉnh đốn
khống chế tư tượng
của người dân
rồi làm một chút
công trình thành tích
công trình thể diện
Vì vậy
đối với họ mà nói
làm được một
hoặc hai việc thật
đã rất đáng
khoe khoan rồi
Thử hỏi xem
ai là người nói
do ai làm
làm cho ai?
Ví dụ
khẩu hiệu
ổn định áp đạo tất cả
chúng ta thử hỏi
Sự ổn định của ai
áp đạo tất cả?
Sự ổn định
của bách tính trăm họ
hay là
sự ổn định
của đảng Cộng sản?
Khi chúng ta
phát hiện ra
đáp án là vế sâu
thì có thể hiểu rằng
khẩu hiệu này
cũng là do Trung Cộng
hô hào
để duy hồ
sự thống trị
của bản thân nó
Chúng ta hãy xem
những từ này
thường kết hợp
với những từ nào
Ví dụ
tuyên truyền
chính sách của đảng
quán triệt
tinh thần trung ương
chấp hành
nghị quyết của đảng
dương cao
ngọn cờ vĩ đại
v.v.
Chúng ta hãy xem
từ đồng nghĩa
từ gần nghĩa
hoặc là từ trái nghĩa
với từ đó là gì?
Khi điền
sự yếu lý lịch
nếu một người
không phải là đảng viên Trung Cộng
cũng không phải đoàn viên
đoàn thanh niên Cộng sản
cũng không phải
đảng phái dân chủ
khi phải điền
ở cột
thành phần chính trị
là quần chúng
Tại sao không điền
là người vô đảng phái?
Quần chúng
và người vô đảng phái
có ý nghĩa tương tự
nhau đúng không?
Sau khi so sánh
chúng ta phát hiện rằng
quần chúng
không phải là người vô đảng phái
Người vô đảng phái
là thành phần
vô đảng
vô phái
Còn quần chúng
là người có nguyện vọng
gia nhập đảng
nhưng không đủ tư cách
Đảng không cần anh
Anh chỉ cần
chịu sự lãnh đạo
của đảng
Vì vậy
theo nghĩa này
từ quần chúng
mà chúng ta sử dụng
cũng là từ
của ngôn từ của đảng
Những năm gần đây
một số nhà văn
ở Trung Quốc đại lục
khi nhắc đến Trung Cộng
liên dung từ
đảng cầm quyền
Tại sao không gọi thẳng
là đảng cộng sản?
Đảng cầm quyền
đối lập với đảng
không cầm quyền
Ở Trung Quốc
hoàn toàn không có
đảng không cầm quyền
Mối quan hệ
giữa đảng cộng sản
và cái gọi là
đảng phá dân chủ
là mối quan hệ
giữa đảng độc tài
và đảng bình hoa
chứ không phải
là mối quan hệ
giữa đảng cầm quyền
và đảng không cầm quyền
Sử dụng từ đảng cầm quyền
tạo nên giả tướng rằng
Trung Cộng là chính phủ
do dân bầu
để che giấu
sự thống trị độc tài
của Trung Cộng
Tương tự như vậy
Cách nói
nâng cao năng lực cầm quyền
cũng tạo cho người ta
cảm giác
Trung Cộng đang thực hiện
chức năng quản lý
chính phủ bình thường
Thật ra
nâng cao năng lực cầm quyền
được hiểu chính xác
là củng cố
quyền lực độc tài
Chúng ta biến đổi
hoàn cảnh một chút
để xem xét
Thử tưởng tượng xem
liệu có khả năng
xảy ra những tình huống
như sau
Thị trưởng thành phố
Los Angeles
trong một cuộc hội nghị
đã phát biểu rằng
chúng ta phải nghiêm túc
lĩnh hồi tinh thần
bài phát biểu quan trọng
của đồng chí
gì gì đó
Tổng bí thư đảng
Cộng hòa California
về vấn đề
gì gì đó
Cầu thủ bóng rổ
nổi tiếng
của NBA
Hiệp hội bóng rổ
quốc gia Mỹ
Trong chương trình truyền hình
Đứa con phương Tây
đã trả lời phỏng vấn
rằng
chúng ta đạt được
Ngoài ra
so sánh theo chiều ngang
hoặc so sánh theo chiều dọc
cũng chính là
so sánh với
xã hội truyền thống Trung Quốc
hoặc so sánh
với xã hội quốc tế
Đây cũng là
phương pháp hiệu quả
để phân biệt
ngôn từ của đảng
Cùng với sự sập đổ
của hình thái ý thức
trung cộng
văn hóa đảng
đã trở thành đối tượng
để dân chúng Trung Quốc
đưa ra làm trọt cười
Rất nhiều câu về
truyền cười
truyền trào phúng
chăm biếm
được sáng tác
dựa theo
ngôn từ của đảng
đã trở thành
đề tài câu chuyện
của người dân
trong những buổi trà
dư tửu hậu
Ví dụ người ta
dùng những câu như
Cách mạng không phải
là lời mời khách
thì là ăn cơm
Cáng bồ không ngại
ăn uống vất vả
Trăm chén
nghìn gốc
chỉ mong được nghỉ ngơi
để đả kích
phong trào ăn uống
của giới quan chức
Những người dân
ở tầng lớp thắt kém
thì dùng những câu như
Suốt 30 năm
cuộc sống vất vả
nghèo khổ
ngủ một giấc
tỉnh dậy
là quay trở lại
thời kỳ trước giải phóng
Chính phủ
là Hoàng Thế Nhân
chúng tôi
là Dương Bạch Lao
để thể hiện
sự bất mạng
với chính sách
kinh tế
của Trung Cộng
Sau khi văn hóa đảng
được xác lập
ngôn từ của đảng
đã trở thành
phương thức
ngôn ngữ tiêu chuẩn
phép tu tử
của người ta
đã xa rời
phương pháp
biểu đạt chuẩn mực
Hiện tượng tu tử
sinh ra
từ ngôn từ của đảng
được liệt kê trên đây
là sự chế dịu
đối với ngôn từ của đảng
nhưng cũng đồng nghĩa
với việc thừa nhận
rằng
ngôn từ của đảng
là làm chủ
nâng cao địa vị
chuẩn mực
của ngôn từ của đảng
Lúc này
ngôn từ của đảng
từ chỗ sáng
lùi vào chỗ tối
từ ý thức
đi vào tiềm thức
của con người
nó vẫn phát huy vai trò của mình
theo cách thức
mà người ta
khó phát hiện hơn
Chúng tôi gọi
hiện tượng này
là hiện tượng
bối cảnh hóa
ngôn từ của đảng
Ngôn từ của đảng
bị biến dạng
vẫn là ngôn từ của đảng
hơn nữa
còn là thứ ngôn từ của đảng
ở tầng thăm sâu hơn
Bất cứ từ ngữ nào
cũng mang theo
những tin tức nhất định
Ngôn từ của đảng
bị biến dạng
trong những câu truyện cười
câu về dân gian
trong vô trì vô giáp
vẫn phát huy
sức ảnh hưởng
đối với tư duy con người
Chúng ta nên hết sức
tránh sử dụng
loại ngôn ngữ này
Hiện nay
ở Trung Quốc đại lục
ngày càng có nhiều người
công khai lên án
tố cáo
đảng Cộng sản Trung Quốc
là người nên sử dụng
ngôn ngữ của người thường
và tư duy của người thường
để mắng ác đảng
Chứ không phải
ở trong văn hóa đảng
dùng ngôn từ của đảng
để mắng ác đảng
Cần phải nhấn mạnh rằng
một số ngôn từ của đảng
vốn là ngôn ngữ
của xã hội nhân loại bình thường
Nhưng sau khi
bị đảng Cộng sản cải tạo
bị sử dụng
lập đi lập lại
trong môi trường văn hóa đảng
nên đã bị nhiễm nặng
màu sắc văn hóa đảng
Đây không có nghĩa là
chúng ta từ nay về sau
không thể sử dụng
những ngôn ngữ này nữa
Ngược lại chúng ta có thể
và hơn nữa
nên dùng những từ này
một cách đường đường chính chính
theo ý nghĩa bình thường
trong ngữ cảnh bình thường
giống như trong
cử bình Cộng sản đảng
đã gọi Trung Cộng
là tà giáo
3. Tìm kiếm chân tướng
liễu giải chân tướng
truyền rộng chân tướng
Sở dĩ đảng Cộng sản
có thể xây dựng
và mở rộng
một hệ thống ngôn từ
của đảng lớn mạnh đến thế
chỉ trong mấy chục năm ngắn ngũi
là do nó dự vào
những thủ đoạn
cứng chế bạo lực
môi trường tin tức
bị phong tỏa
và sự tiên truyền
nhồi nhét rợp trời
Vì vậy
để phá bỏ
ngôn từ của đảng
không chỉ cần
dũng khí đạo đức phi thường
còn ý thức trách nhiệm
đạo đức
để cư tuyệt
với văn hóa đảng
mà còn còn tiếp xúc
nhiều với những thông tin
chân thực
được biểu đạt
bằng ngôn ngữ
nhân loại bình thường
Nếu người dân Trung Quốc
không muốn tiếp tục
sống trong dối trá
thì họ không thể
không bắt đầu
từ việc nỗ lực
Văn hóa Trung Hoa
mới còn có ngôn ngữ mới
Ngôn ngữ mới
sẽ được sáng tạo nên
bởi những con người
có được cuộc đời mới
dự trên đạo đức