Những Phát Minh Đưa Nhân Loại Đến Gần Hơn Với Tận Thế!

some technique in some where
364 Người theo dõi
126 Lượt xem video·17 thg 3, 2025
Những phát minh từng được ca ngợi là kỳ tích công nghệ, nhưng ít ai ngờ rằng chúng lại suýt đẩy nhân loại đến thảm họa! Túi nilon phủ kín đại dương, xăng pha chì đầu độc hàng triệu người, khí Freon âm thầm xé toạc tầng ozone… Những “bước tiến vĩ đại” này đã để lại hậu quả khủng khiếp như thế nào?
Điều đáng sợ nhất là chúng ta chỉ nhận ra khi mọi thứ đã quá muộn! Liệu nhân loại có thể sửa sai hay sẽ tiếp tục bị nhấn chìm bởi chính những phát minh của mình?
Nhân loại đã từng tự hào vì sở hữu những kỳ tích công nghệ, giúp cuộc sống trở nên dễ dàng và tuyệt tiện hơn.
Các phát minh như động cơ hối nước, điện, công nghệ thông tin hay trí tuệ nhân tạo
đã mở ra những kỷ nguyên mới đưa loài người chạm đến những đỉnh cao tưởng chừng không thể.
Nhưng gần sau sự lộng lấy ấy, vẫn còn những ý tưởng âm thầm gây ra thảm họa cho toàn thế giới.
Vậy những phát minh ấy là gì?
Đâu là danh giới giữa sáng tạo và sự hủy hoại?
Hãy cùng lật mờ sự thật về những phát minh đã từng ngày thay đổi trái đất trong video hôm nay.
Những phát minh phá hủy thế giới
Vào giữa thế kỷ 19, khi mà công nghiệp hóa trở thành xu hướng phát triển của thế giới,
một số vật liệu có nguồn gốc từ động vật đã trở nên ngay một khan hiếm.
Loài voi phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng
vì nhu cầu sử dụng ngà voi cho các mặt hàng như phím đàn piano, bóng pia tăng cao trong thời điểm đó.
Một số con vật khác như rùa cũng phải chịu chung số phận.
Nhìn thấy tình hình này, các nhà phát minh khi ấy đã cố gắng giải quyết vấn đề
với nhiều sáng chế về vật liệu bán tổng hợp.
Trong đó có nhà khoa học này.
Năm 1862, Alexander Parkes đã được cơ bằng sáng chế cho một loại vật liệu mới có tên gọi là Parkinson.
Ông nhận thấy cellulose là một hợp chất có nhiều trong loài thực vật,
có thể trở thành nguyên liệu trong một loại vật liệu mới nếu được xử lý đủ cách.
Nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm hợp chất này sau khi biến đổi
để xem nó có tính dẻo, linh hoạt và dễ dàng công hay không.
Nghĩ là làm, Parkes đã trộn cellulose với acid nitric và acid sulfuric
để tạo ra một hợp chất gọi là nitrocellulose.
Đây là bước quan trọng đầu tiên vì nitrocellulose có thể được làm mềm và biến thành một dạng dẻo.
Sau khi tạo ra nitrocellulose, Parkes tiếp tục trộn hợp chất này với phenol,
một loại dung ngôi, để tạo ra một chất dẻo và dễ dàng công.
Kết quả chính là sự ra đời của Parkinson.
Tuy nhiên điểm hạn chế lớn nhất của loại vật liệu này
chính là đậu bền và không có khả năng sản xuất quy mô lớn.
Nhưng nó lại mở ra một kỷ nguyên mới.
Tạo bàn đạp trong một trong những phát minh vĩ đại nhất của nhân loại được ra đời.
Năm 1935, Wallace Carruthers tại công ty DuPont đã phát minh ra nylon,
loài nhựa tổng hợp đầu tiên được sản xuất hoàn toàn từ các hợp chất hóa học,
không phải từ cellulose.
Nó có tính chất bền, dẻo và dễ chế tạo,
được sử dụng rộng rãi trong sản xuất sợi dệt, lưới và các sản phẩm tiêu dùng khác.
Rất nhanh sau đó, vào năm 1950,
loài nhựa tổng hợp này đã được ứng dụng trong đời sống.
Sau nylon, nhiều loài nhựa khác như PE, PP và PVC được phát triển.
Đây chính là biểu đồ cho thấy sản lượng nhựa được sử dụng hàng năm trên toàn thế giới cho đến ngày nay.
Tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Ba Lan, Hungary và Đức,
mỗi một người dân trung bình sẽ tiêu thụ từ 300-400 túi nylon mỗi năm.
Có khoảng 1-5 tỷ túi nhựa đã được sử dụng và vứt bỏ.
Phải khẳng định rằng, nó đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống.
Mọi ngành nghề lĩnh vực đều có sự xuất hiện của nhựa và túi nylon.
Tuy nhiên, có một vấn đề mà chúng ta không thể lương chức được.
Sự tiền lợi lại đi kèm với những tác hại nghiêm trọng đối với môi trường, động vật và cả sức khỏe con người.
Nylon và túi nhựa hiện nay đang là một trong những nguyên nhân gây ồn nhiễm trên toàn cầu.
Theo ước tính của Liên Hợp Quốc,
mỗi năm có khoảng 500 tỷ túi nylon được sản xuất và sử dụng trên thế giới.
Trong đó, phần lớn là túi nhựa dùng một lần, được thải ra môi trường sau mỗi lần sử dụng.
Chúng không thể phân hủy nhanh và phải mất tới 500-1000 năm để biến mất.
Thậm chí trong quá trình đó, túi nylon chỉ phân giã thành các mảnh vụn nhỏ, chứ không tàn biến hoàn toàn.
Điều này khiến chúng trở thành một trong những vật liệu gây ồn nhiễm đáng lo ngại nhất.
Các túi nhựa bị vứt bỏ không đúng cách sẽ trôi nổi trên mặt đất
hoặc vào các hệ thống thoát nước, gây tắc nghẽn công dãnh và ồn nhiễm các nguồn nước.
Một thông kê từ tổ chức Greenpeace cho biết khoảng 8 triệu tấn nhựa mỗi năm được đổ vào đại dương,
trong đó nylon chiếm phần lớn.
Chúng không chỉ gây tắc nghẽn các dòng trời tự nhiên, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước và đất,
làm giảm khả năng sinh trưởng của cây trồng và động vật trong khu vực bị ồn nhiễm.
Bên cạnh đó, động vật hoang dã cũng là một nạn nhân khác của phát minh này.
Nhiều loài động vật như cá, rua biển, chim và động vật có vũ bị mắc kẹt trong túi nhựa
hoặc nuốt phải túi nhựa gây tử vong.
Theo một báo cáo của tổ chức Oceana, khoảng 100.000 động vật biển chết mỗi năm do bị mắc kẹt hoặc ăn phải túi nhựa.
Những sinh linh tội nghiệp không thể phân biệt giữa thức ăn và các vật thể nhựa
và khi chúng nuốt phải nhựa, các túi nhựa có thể làm tắc nghẽn hệ tiêu hóa,
dẫn đến cái chết do đói, nhiễm độc hoặc mất khả năng di chuyển.
Ngoài ra, nhựa cũng xâm nhập vào chuỗi thức ăn.
Các hạt nhựa nhỏ có thể được hấp thụ vào cơ thể động vật biển và sau đó đi vào con người của việc tiêu thụ ải sản.
Một nghiên cứu gần đây cho thấy, hơn 90% các loài động vật biển đã hấp thụ vi nhựa trong cơ thể chúng.
Khi con người tiêu thụ ải sản, chúng ta cũng có thể vô tình hấp thụ các hạt nhựa này,
do đến nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người,
bao gồm cả các vấn đề về nội tiết và nguy cơ hông thư.
Điều này cũng cho thấy rằng chính phát minh của nhân loại cũng đã tác động đến chúng ta.
Thật vậy, các chất hóa học như BPA, Phla Latis và các hợp chất động vật khác
có thể thấm vào thực phẩm và nước uống khi túi nhựa tiếp xúc với chúng.
Chúng đều là những hợp chất có thể làm thay đổi sự phát triển của cơ thể.
Và ảnh hưởng đến hệ thống biễn dịch.
Thậm chí các chất hóa học trong nhựa cũng có thể gây ra rối loạn học môn
và ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.
Ngoài ra, khi nhựa bị đốt cháy, nó phát thải các chất khí độc hại như dioxins,
có thể gây ung thư và ảnh hưởng đến sức khỏe hô hấp của con người.
Một nghiên cứu của Đại học Newcastle của Úc cho thấy,
mỗi năm con người có thể hấp thụ tới 5 gram nhựa,
tương đương với trọng lượng của một thẻ tiến dụng,
thông qua việc tiêu thụ thực phẩm và nước uống bị ô nhiễm nhựa.
Đây có thực là một cảnh báo đỏ,
vật túi ni lông đang thực sự tàn phá chính con người chúng ta và cả trái đất.
Liệu nhân loại có thể kịp nhận thức và thay đổi,
hay sẽ tiếp tục bị nhấn chim bởi chính phát minh của mình?
Khi việc sử dụng túi ni lông và giác thải của chúng trở thành vấn đề toàn cầu,
nhiều quốc gia bắt đầu có những động thái để cải thiện.
Liên minh châu Âu đã ban hành chỉ thị nhựa dùng một lần,
quy định cấm sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần.
Các quốc gia như Pháp, Đức và Ý đã áp dụng thuế cao
hoặc cấm hoàn toàn sản phẩm này tại các cửa hàng bán lẻ.
Từ năm 2020 ở Trung Quốc, túi ni lông không phân hủy đã bị cấm tại các thành phố lớn.
Công dân được khuyến khích sử dụng túi vải tái sử dụng.
Tại châu Phi, một số quốc gia như Kenya, Rwanda và Tanzania
cũng đã thực hiện lệnh cấm toàn diện
với hình phạt nặng cho hành vi sản xuất và sử dụng.
Nơi nước của chúng ta, Việt Nam,
từ lâu đã nhận thức được sự nguy hiểm của nhựa và túi ni lông.
Vì vậy, từ năm 2012, thuế bảo vệ môi trường đối với các hậu chất này
đã được áp dụng với mục tiêu giảm thiêu sử dụng.
8 năm sau, chúng ta có chiến lược quốc gia về quản lý rác thải nhựa
với mục tiêu cấm hoàn toàn việc sản xuất và sử dụng túi ni lông khó phân hủy.
Các siêu thị lớn cũng đã thay thế túi ni lông bằng túi giấy, túi vải
hoặc túi phân hủy sinh học.
Ông hút giấy, ông hút tre và các sản phẩm thân thiện với môi trường xuất hiện
và có mặt tại nhiều quán cà phê, nhà hàng.
Chính phủ và các tổ chức phi chính phủ đã triển khai nhiều chiến dịch
thù gom rác thải nhựa ở các thành phố lớn và phen biệt.
Các trường học cũng được khuyến khích đưa giáo dục về bảo vệ môi trường
vào chương trình giảng dạy.
Có thể thấy rằng, Việt Nam cùng các nước trên khắp thế giới
đã và đang nỗ lực từng bước để giảm thiêu tác động
của túi ni lông và rác thải nhựa.
Hồng qua các chính sách, chiến dịch và công nghệ thân thiện với môi trường.
Và hợp chất này là minh chứng rõ ràng nhất cho việc
không chỉ có súng đạn mà ngay cả một sản phẩm đời sống bình thường
cũng có thể phá hủy cả trái đất.
Trong khi túi ni lông và nhựa âm thầm gây ô nhiễm từng ngóc ngách của hành tinh
thì trong quá khứ chúng ta đã từng có một phát minh khác
để lại di chứng suốt nhiều thế hệ.
Nó từng được ca ngợi như một giải pháp cách mạng cho ngành công nghiệp
Nhưng trên thực tế, con người đã phải đánh đổi giữa tiến bộ
và cái giá phải trả của sức khỏe.
Đó chính là sang pha chỉ.
Phát minh này ra đời từ khi nào?
Vì sao lại nói nó đã từng có nguy cơ hủy diệt nhân loại?
Hãy cùng quay ngược dòng thời gian trở về nước Mỹ
vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.
Khi ấy ô tô đã trở nên phổ biến như Henry Ford
biến phương tiện giao thông này trở thành một sản phẩm đại chúng.
Tuy nhiên các nhà sản xuất lại đau đầu vì động cơ xe thường gặp vấn đề vô cùng nghiêm trọng.
Đó là hiện tượng gõ máy.
Nó xảy ra khi nhiên liệu cháy không ổn định
gây ra tiếng ồn và làm giảm hiệu suất động cơ
thậm chí có thể làm hỏng động cơ nghiêm trọng.
Vì vậy các hãng liên tục tìm kiếm các kỹ sư, nhà khoa học
để nhờ giúp đỡ tìm ra phương án giải quyết.
Người đàn ông này cũng là một trong số đó.
Thomas Mickley, lúc đó làm việc cho hãng chế tạo xe hơi General Motors.
Ông đã cùng với kỹ sư trưởng của mình ra sức nghiên cứu hiện tượng gõ máy
để cải tiến động cơ.
Nhưng kết quả vẫn chỉ là con số 0.
Đến tháng 3 năm 1922, trong một lần thử nghiệm
Thomas đã đặt ra câu hỏi
khi thêm một hợp chất chứa chỉ là tetraethyl lead
thì vấn đề có được giải quyết hay không?
Qua thực, nó đã phát hủy tác dụng.
Chỉ trong TEL làm tăng chỉ số ốc tan của xăng
giúp nhiên liệu cháy đều hơn và giảm gõ máy.
Xăng pha chỉ cải thiện hiệu suất động cơ
cho phép sản xuất động cơ mạnh mẽ và hiệu quả hơn.
Phát hiện của Thomas đã trở thành câu trả lời
cho vấn đề nhức nhối bực nhất vào đầu thế kỷ 20.
Chỉ sau đó một thời gian ngắn,
ông cùng đồng nghiệp lần đầu tiên thử nghiệm thành công
xăng pha chỉ trong động cơ ô tô.
Sản phẩm này cũng nhanh chóng được tung ra thị trường
bày bán hàng loạt với tên gọi là ethyl.
Nó được áp dụng để gem cho ra đời
loại động cơ xe hơi nổi tiếng Model T4
và trở thành sự lựa chọn cho ngành công nghiệp ô tô toàn cộng.
So với các giải pháp thay thế khác như ethanol hoặc benzene,
TEL rẻ hơn và dễ sản xuất hơn,
giúp giảm chi phí sản xuất nhiên liệu.
Xăng pha chỉ trở thành tiêu chuẩn nhiên liệu chính
cho ngành công nghiệp ô tô,
đóng góp vào sự phát triển bùng nổ của ngành này
từ những năm 1920 đến 1970.
Thậm chí trong thế triển thứ 2,
loại xăng chỉ có chỉ số ốc tan cao
còn được sử dụng cho máy bay chiến đấu,
giúp cải thiện hiệu xuất và độ biên động cơ,
ngay cả khi đối mặt với điều kiện khắc nghiệt.
Cả thế giới cao ngợi,
nó là chất phụ gia thần kỳ cho động cơ.
Các công nghệ và động cơ trong thế kỷ 20
đều được thiết kế dựa trên đặc tính của xăng pha chỉ.
Nhiều quốc gia còn tập trung nguồn lực
để phát triển và áp dụng nhiên liệu này,
mà không trú trọng tới các phương pháp thay thế
khiến việc truyền đổi trở nên khó khăn.
Có thể thấy rằng,
xăng pha chỉ không chỉ là một giải pháp kỹ thuật,
mà còn là một biểu tượng của sự phát triển nhanh chóng trong thế kỷ 20.
Bản thân cha đẻ của nó là Thomas
đã được Hiệp hội Hóa học Mỹ trao tặng huân trương
nhờ phát minh của mình.
Thế nhưng,
đằng sau sự thành công của xăng pha chỉ
lại là sự xuất hiện của thần chết.
Chỉ vài tháng sau ngày nhận huân trương,
Thomas đột nhiên cảm thấy không khỏe.
Ông thường xuyên bị tào bón,
có những cơn ngứa dan ở bàn tay và bàn chân.
Nhiều lúc,
Thomas không thể thở được,
phổi như bị đặc quánh lạ.
Trong công việc,
ông luôn rơi vào tình trạng nhầm lẫn,
thậm chí không nhớ những gì đã xảy ra.
Vì thế,
ông đã tới bệnh viện để thăm khám.
Sau hàng loạt xét nghiệm,
bác sĩ nhận thấy rằng
khớp gối của Thomas còn có những vỉa xương xếp thành lớp.
Cùng với những trường chứng trước đó,
bác sĩ nghi ngờ
ngày kỹ sư đã bị nhiếp độc trị.
Điều này hoàn toàn có khả năng xảy ra
vì Thomas đã phát minh
và làm việc với xăng pha trì trong một thời gian dài.
Thế là ông buộc phải nghỉ việc tạm thời,
chuyển đến Florida để điều trị sức khỏe,
tránh xa môi trường có độc tổ cao.
Tuy nhiên,
trong khoảng thời gian ấy,
hai công nhân của phòng thí nghiệm Dayton,
nơi từng làm việc của Thomas,
bỗng dưng đột tử.
Theo kết quả khám nghiệm pháp y,
nguyên nhân cái chết là nhồi máu cơ tiêm cấp.
Ngoài ra,
một số công nhân khác cũng bắt đầu
có các triệu chứng giống như Thomas,
nhưng lại bị kết luận là do lao động
với cường độ cao trong một thời gian dài.
Một năm sau,
tại GM lại ghi nhận thêm 8 công nhân tử vong
với các biểu hiện như điên loạn,
ảo giác, chán ăn và buồn nôn.
35 người khác có hiện tượng run dày, ngư ngái.
Thế nhưng những cái chết
và tình trạng sức khỏe bất thường của các nhân viên
lại bị GM bỏ qua
và râu giếm hoàn toàn trước báo chí.
Các chiến dịch quảng báo và truyền thông
cho xăng pha trì vẫn được tiếp tục.
Ngay cả bản thân Thomas
cũng đóng một vai trò quan trọng
trong việc sản xuất và buôn bán TEL
dù đã trải qua cơn ngộ độc trì nghiêm trọng.
Trong một buổi họp báo,
ông hít hơi TEL trực tiếp
từ chai thí nghiệm trong vài phút
để chứng minh rằng nó không gây độc hại.
Mà dù các tác động độc hại đã được biết rõ,
mọi người không hề biết
tới loại xăng được bán chạy nhất thế giới khi ấy
lại vô cùng độc hại
cho tới khi báo chí địa phương
bằng một cách nào đó đã có được thông tin
về các các tử vong tại GM.
Họ rất tít với tiêu đề
nhà máy chết người
và nhà máy điên loạn.
Sự kiện này gây ra làn sóng dư luận dữ dội
lối kéo rất nhiều tờ báo
và đài truyền hình lớn quan tâm.
Nhiều nhà báo đã trực tiếp tìm đến
gia đình của các công nhân tử vong
để thu thập thông tin về điều kiện làm việc
và triệu chứng trước khi qua đời.
Ngoài ra, các bệnh viện địa phương
nơi tiếp nhận các công ty bị nhiễm độc trì
cũng đã cung cấp dữ liệu
về các triệu chứng phổ biến như
ảo giác, suy nhiệt thần kinh
và tử vong do suy đa tạ.
Một trong những bài báo quan trọng nhất
được đăng trên The New York Times
vào cuối năm 1924
mô tả chi tiết về điều kiện làm việc,
sự thiếu trách nhiệm của công ty
và mức độ nguy hiểm của TEL.
Trước sông gió,
General Motors đã tổ chức buổi họp báo
tuyên bố rằng
các ca tử vong là sự cốt cá biển
không liên quan đến TEL nếu được sử dụng đúng cách.
Thomas đã nhận phải
rất nhiều chỉ trích vì những phát minh của ông
đặc biệt là
Tetraethynchi.
Một số nhà sư học thâm trí đã gọi ông
là người đưa ra những phát minh chết chóc.
Các trành cãi vẫn tiếp tục diễn ra
vì công ty sang pha trì
vẫn không chịu trách nhiệm của mình.
Điều này đã buộc chính phủ Mỹ
mở ra cuộc điều tra lớn về TEL.
Để chứng minh rằng phát minh
của Thomas gây nguy hiểm cho con người
nhà khoa học Alex Hamilton
Sau hàng loại các nghiên cứu
bà đã có thể kết luận rằng
sự phổ biến của sang pha trì
gây ra những hậu quả nghiêm trọng
không chỉ đối với sức khỏe con người
mà còn với môi trường toàn cầu.
Trì khi được đốt cháy trong động cơ
sẽ phát tán vào không khí dưới dạng các hạt nhỏ
và được con người hít vào
và khấp thụ quả nước và thực phẩm.
Việc sử dụng nó trong thời gian dài
có khả năng làm tăng nồng độ trì trong máu
của hàng triệu người trên thế giới
đặc biệt là trẻ em.
Chưa dừng lại ở đó
trì ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thành kinh
gây ra các vấn đề về hành vi
giảm trí số y quy và các vấn đề
sức khỏe khác như là thiếu máu
suy thận và các bệnh về tim mạnh.
Các cuộc khảo sát đã cho thấy rằng
việc lạm dụng loại nhiên liệu này
sẽ làm giảm y quy trung bình
của trẻ em trên toàn cầu từ 5 đến 10 điểm.
Ngoài ra trì còn có tác động tích lũy
nghĩa là ngay cả khi tiếp xúc
ở mức thấp
nó vẫn gây ra tổn thương lâu dài.
Không chỉ con người
môi trường cũng chịu tác động nặng nề.
Trì tích tụ trong đất và nước
là ô nhiễm các hệ sinh thái và chuỗi thức ăn.
Đặc biệt
hợp chất này rất khó phân hủy
dẫn đến tình trạng ô nhiễm kéo dài hàng thập kỷ
ngay cả sau khi sang pha trì bị cấm
ở nhiều quốc gia.
Sau khi các bằng chứng về sự độc hại của sang pha trì
được thu thập, một phiên điều trần đã được tổ chức.
Người dành cãi nhất
chính là việc phía công ty cho rằng
các vụ tử vong và bệnh tật
xảy ra ở nhà máy là do quy trình
làm việc sai sót của công nhân
chứ không phải do độc tính của TEL.
Trong khi ấy các nhà khoa học
độc lập phản bác nhấn mạnh rằng
không có mức độ phơi nhiễm trì nào
là an toàn.
Cuối cùng nhận thức rõ ràng đó là do chất độc hại
nhưng chính phủ Mỹ đã quyết định
đình trì ngắn hạn nhà máy sản xuất sang pha trì
để nghiên cứu thêm.
Điều này khiến các người dân cũng như các chuyên gia
bày tỏ rõ sự thất vọng.
TEL vẫn được sản xuất và sử dụng rộng rãi
gây ra ô nhiễm trì trong không khí
đất và nước
trên toàn cầu trong nhiều thập kỷ tiếp theo.
Cho tới những năm 1970
phong trào bảo vệ môi trường
bắt đầu gây áp lực lên các chính phủ
để giải quyết ô nhiễm công nghiệp
bao gồm ô nhiễm trì từ xăng.
Đồng thời sự ra đời của bộ truyền đổi xúc tác
đã làm thay đổi cục diện khi ấy.
Đây là thiết bị được phát triển
nhằm giảm khí thải độc hại từ xe hơi
khi kết hợp với xăng pha trì
lại không cho ra hiệu quả tốt nhất.
Vì thế, ngành công nghiệp
ô tô quyết định tìm kiếm một giải pháp
thay thế cho TEL.
Các công ty dầu mỏ bắt đầu nghiên cứu cách
cải thiện chỉ số ốc tàn trong xăng
mà không sử dụng trì.
Họ thay thế TEL bằng các phụ da
không chứa trì như Ethanol
hoặc MTPE.
Nhiều đó cho ra đời một loại nhiên liệu mới là
xăng không trì vào năm 1970.
Nó khắc phục tất cả
những điểm của TEL
và an toàn hơn
phù hợp với các quy định nghiêm ngặt
về khí thải xe hơi và thế giới bản hành khi ấy.
Và đây cũng là dấu chấm hết
cho phát minh từng được cho là vĩ đại
của Thomas.
Mỹ cấm hoàn toàn xăng pha trì vào năm 1996
EU cấm vào năm 2000
kết hợp với sự hỗ trợ
từ chương trình môi trường Liên Hợp Quốc
vào năm 2002. Hầu hết các quốc gia
đã loại bỏ đến nhiên liệu độc hại này
vào đầu thế kỷ 21.
Đến năm 2021, Algeria
quốc gia cuối cùng chính thức
ngừng sử dụng xăng pha trì.
Sự sa đời của xăng không trì là một bước ngoặt
quan trọng trong lịch sử bảo vệ môi trường và
sức khỏe cộng đồng. Quá trình này không chỉ là
thanh tiệu của khoa học và công nghệ
mà còn là kết quả của áp lực
từ các phong trào xã hội và chính sách công hợp lý.
Loại bỏ xăng pha trì
và chuyển sang xăng không trì
đã có phần đáng kể vào việc cải thiện
chất lượng sống trên toàn cầu.
Phải nói rằng, Thomas đã có cho
riêng mình một phần mình đáng quyển nhất.
Có lẽ vì thế mà ông đã cố gắng
nghiên cứu để cho ra đời những sáng kiến
khác chất lượng hơn.
Vào năm 1924, tức 2 năm
sau khi Thomas tìm ra xăng pha trì,
ngành công nghiệp ô tô đã có
những bước tiến đáng kể.
Tuy nhiên khi ấy, các máy điều hòa không khí
và tủ lạnh tại nước Mỹ và nhiều nơi trên
thế giới vẫn đang gặp nhiều vấn đề.
Các chất làm lạnh
được sử dụng bao gồm ammonia,
methane chloride và sulfur dioxide
chúng đều là những
hóa chất rất độc hạn, gây ăn mòn
và có mùi vô cùng khó chịu
cũng như dễ gây ra cháy nổ.
Chỉ tính riêng vào năm 1924,
trên toàn nước Mỹ đã xảy ra 18 vụ
nổ tủ lạnh. 3 vụ cháy điều hòa
không khí làm 9 người chết
và 15 người bị thương.
Thậm chí tại Hội trợ Thế giới Chicago,
một chiếc tủ lạnh công nghiệp được trưng bày
đã vô tình bị bắt lửa rồi phát nổ,
giết chết 17 linh cứu họ.
Ngoài ra còn có
thêm nhiều vụ do gì khi
Bên cạnh những bất cả bấy,
nhu cầu sử dụng tủ lạnh và hệ thống
điều hóa không khí vẫn không ngừng tăng
lên theo thời gian. Điều này
đã đòi hỏi các kỹ sư, chuyên gia
phải tìm ra một chất làm lạnh khác
an toàn hơn, không độc hạn,
không ăn mòn và đặc biệt
là không dễ cháy nổ.
Phó Thế điểm ấy, General Motors,
công ty mà Thomas làm việc
cũng cung cấp một lượng lớn tủ lạnh
và điều hóa cho thị trường nước Mỹ.
Trước sự giảm xuất sức mua
để cải thiện danh thu,
ông lại một lần nữa bắt tay để tìm giải pháp
thay thế. Thomas và đồng nghiệp
của ông, Albert Hinn, đã tập trung
vào các hợp chất hữu cơ có chứa nguyên từ
Fluor, Chlor và Carbon
vì chúng được biết đến về tính chất
ổn định hóa học và ít độc hạn.
Sau một loạt các thử nghiệm,
họ phát hiện ra rằng, một hợp chất
có tên là HCFC22
có đầy đủ các đặc tính mong muốn.
Nó không độc,
không cháy nổ, không ăn mòn
và có khả năng làm lạnh hiệu quả.
Phát hiện này là bước đầu tiên để cho ra
đầy giải pháp mới cho ngành công nghiệp làm lạnh.
Dù đã tìm được chất phù hợp,
nhưng Thomas vẫn cần kiểm tra
lại nó để đảm bảo an toàn
cũng như có hiệu quả cao.
Ông quyết định tổ chức một buổi biểu diễn công khai
để chứng minh được sự đảm bảo
của HCFC22.
Trước mặt công chúng và báo chí,
Thomas đã thổi khí HCFC22
qua một ngọn lửa
và không có bất cứ hiện tượng cháy nổ nào xảy ra.
Điều này đã ngay lập tức thuyết phục
được tất cả mọi người có mặt
của buổi biểu diễn.
Tình yêu Việt của HCFC22 cũng được các chuyên gia ghi nhận.
Thậm chí để thuyết phục hơn,
nhà khoa học Thomas còn hít
một hơi khí này rồi thổi ra
nhằm chứng minh rằng
nó cũng không gây độc hại cho cơ thể con người.
Buổi biểu diễn thành công vang rội
vừa trở thành một phần trong chiến dịch quảng bá
vừa tạo dựng niềm tin cho khách hàng
và các nhà đầu tư.
Ngay sau đó, hợp chất khí làm lạnh mới
được ra đời có tên thương mại là Freon
hay còn gọi là CFC.
General Motors
cùng với công ty hóa chất DuPont
thành lập công ty Kinetic Chemicals
để sản xuất Freon
ở quy mô công nghiệp.
Chỉ trong vài năm, loài chất này đã thay thế
hoàn toàn các chất làm lạnh cũ trong tủ lạnh,
hệ thống đi hóa không khí
và các ứng dụng làm lạnh công nghiệp khác.
Tận dụng sự phổ biến của Freon,
công ty GM cũng cho ra mắt tủ lạnh
Frigidaire thế hệ mới.
Các chiến dịch quảng bá công khai cũng được doanh nghiệp này áp dụng.
Họ cho 8 người công nhân
ngồi vào từng chiếc tủ lạnh
bật lửa hút thuốc lá trong khi ổng dẫn khí Freon
bị trọng thục. Sau 15 phút,
tất cả cùng bước ra với tình trạng
sức khỏe bình thường, không ai bị ngộ độc
và đặc biệt nhất là không có hiện tượng
cháy nào xảy ra.
Nhờ vậy, doanh số của hãng GM tăng vun vun
và tủ lạnh Frigidaire
cũng có mặt ở nhiều nơi trên thế giới.
Ngoài vai trò làm lạnh,
Freon còn được sử dụng rộng rãi
trong các ngành công nghiệp khác.
Trong sản xuất, nó là một chất đầy quan trọng
trong các sản phẩm như bình xịt và bọt nhựa.
Nó cũng được áp dụng để bảo quản
thuốc, máu và các phần liệu
sinh học nhạy cảm với nhiệt độ cao
trong y tế.
Phát minh của Thomas cũng trở thành trợ thù đắc lực
trong ngành vận tải và lưu trữ thực phẩm.
Nhờ các hệ thống làm lạnh sử dụng Freon,
thực phẩm có thể được bảo quản
trong thời gian dài và vận chuyển
Điều này đã giúp mở rộng khả năng giao thương
và cải thiện đáng kể
chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu.
Phải khẳng định rằng, Freon
là một phát minh mang tính cách mạng
giúp nâng cao chất lượng cuộc sống
và thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp.
Và chắc chắn rồi,
khi ấy, không mô đai nghĩ rằng
nó sẽ chịu trúng số phận
với người Anh của mình là sang phá chỉ.
Ngày 28 tháng 6 năm 1974,
một bản báo cáo dài 3 trang
đã làm trấn động cả thế giới.
Tác giả của chúng là
hai tiến sĩ Mario Molina và Roland
đã chỉ ra
CFC không phải là lựa chọn hoàn hảo
của nhân loại trong dài hạng.
Ở điều kiện bình thường trên mặt đất,
các nguyên tử CFC rất ổn định.
Nhưng khi chúng bay lên,
đi vào tầng bình lưu của khí quyển,
chất cường độ bức sợ cao của thiên cực tím
sẽ bị phân hủy.
Khi đó, phản ứng hóa học sẽ xảy ra,
khiến Clos sinh ra,
rồi nó biến đổi ozone thành phân tử oxy.
Điều này đồng nghĩa với việc
tầng lớp ozone, lớp ảo giáp
của trái đất đã bị đục thủng
một cách âm thầm và lạng lẽ.
Vẫn trong báo cáo ấy, Molina và Roland
đã đưa ra một kịch bản tồi tệ
cho nhân loại.
Nếu tầng ozone mất đi 5%,
thì dương nước Mỹ, mỗi năm sẽ xuất hiện
thêm khoảng 40.000 trường hợp mắc ung thư giả.
Và trong trường hợp chất làm lạnh Freon
vẫn tiếp tục được sử dụng
trên phạm vi toàn cầu,
thì điều chắc chắn là tầng ozone
chỉ còn khoảng 50% vào năm 2050.
Chính con người chúng ta
sẽ chịu tác động mạnh nhất
khi điều này xảy ra.
Cường độ tiên cực tím chiếu xuống trái đất sẽ mạnh hơn,
khiến sức khỏe con người giảm sút,
tạo điều kiện cho một số bệnh ung thư
phát triển mạnh hơn bình thường.
Các loài động thực vật cũng sẽ đối mặt
với nguy cơ tuyết chủng, khí chất lượng môi trường,
không khí giảm sút.
Hàng loạt thiên tai như cháy rừng, núi băng tan chảy
ngày càng gia tăng với mức động
nghiêm trọng hơn.
Ngoài việc gây suý giảm tầng ozone,
Freon còn là một khí nhạc kính mạnh
có khả năng giữ nhiệt trong khí quyển
cao gấp hàng nghìn lần
so với CO2.
Mặc dù CFC chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ
trong tổng lượng khí nhạc kính,
nhưng chúng có tác động đáng kể
đến hiện tượng nóng lên toàn cầu.
Nghiên cứu của Rowland và Molina
đã gây ra tiếng vang lớn trong khoa học,
đồng thời vấp phải sự phản đối
từ ngành công nghiệp hóa chất vào thời điểm đó.
Lúc này các hợp chất CFC
như Freon được sử dụng rộng rãi
trong các ngành công nghiệp làm lạnh,
điều hòa không khí, bình xịt aerosol
và nhiều ứng dụng khác.
Đây là một thị trường trị giá hàng tỷ đô
với các công ty lớn như GM
dẫn đầu sản xuất CFC.
Bản báo cáo của hai nhà khoa học
như một lời thách thức lễ kinh tế của doanh nghiệp này.
Đồng thời vào những năm 1970,
ý thức của công chúng
về các vấn đề môi trường như tầng ozone
và bước xạ UV còn khá ạn chế.
Nhiều người không hiểu rõ tầng ozone là gì
hoặc tại sao việc bảo vệ nó là quan trọng.
Do đó các canh báo
của Rowland và Molina
dễ bị xem là quá phóng đại
hoặc chỉ là giả thuyết khoa học.
Tuy nhiên tình thế đã thay đổi hoàn toàn.
Vào năm 1985,
các nhà khoa học Anh đã phát hiện ra một lỗ thủng
tầng ozone tại Nam Cực.
Nó đã trở thành bằng chứng thép cho nghiên cứu
của Molina và Rowland,
trở thấy một phần tác hại của khí Freon.
Sự kiện này đã tạo ra áp lực lớn
của các chính phủ và ngành công nghiệp
phải hành động.
Năm 1987, 24 quốc gia
ở các châu lục khác nhau đã có mặt tại Canada
và kế kết Nghị định thương Montreal
cam kết không sử dụng CFC
trong mọi lĩnh vực đời sống.
Sau đó, con số đã tăng lên 152 nước,
biến Montreal
trở thành một trong những thỏa thuận môi trường quốc tế
thành công nhất.
Ngành công nghiệp hóa chất đã đầu tư vào việc nghiên cứu
và sản xuất các hợp chất thay thế ít gây hại hơn,
chẳng hạn HFC
và HFO.
Các hệ thống làm lạnh
và đi hòa không khí đã chuyển sang sử dụng
các công nghệ không sử dụng CFC,
đồng thời cải thiện hiệu quả năng lượng.
Những biện pháp kể trên
thực sự đã mang lại hiệu quả rõ rẻ.
Theo chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc,
lỗ thùng tầng ozone ở Nam Cực
đã dần thu nhỏ lại từ những năm 2000.
Báo cáo năm 2019
của Tổ chức Khí tượng Thế giới
cho thấy tầng ozone đang phục hồi với tốc độ 1-3%
mỗi thập kỷ.
Và dự kiến tầng ozone toàn cầu
sẽ khôi phục hoàn toàn
vào khoảng giữa thế kỷ 21.
Lại một lần nữa, phát minh của Thomas
từng chừng là vĩ đại,
nhưng lại là sản phẩm gây chết người trong âm thầm.
Các bài báo đã nhận định rằng
ông là một trong những nhà khoa học tồi tệ nhất
gây ra vấn đề môi trường
khiến nhân loại phải đối mặt
ít nhất trong 100 năm.
Ngoài ra, Thomas cũng bị đổ lỗi rằng
đã góp phần vào chứng ngộ độc trí
của ba thế trẻ em
và các vấn đề về sự nóng liên toàn cầu.
Dù vậy,
nó cũng là một bài học đắt giá
cho các nhà nghiên cứu sau này.
Cần hiểu hết về phát minh của mình
trước khi công bố trước cộng đồng.
Khi chúng ta ngược dòng thời gian
để nhìn lại những phát minh đã từng được ca ngợi
như biểu tượng của tiến bộ,
ta không thể không nhận ra
mặt trái đời kề đắng của chúng.
Tối niên lông, khí phreon và săng pha trí
từng là minh chứng cho trí tuệ
và sự sáng tạo của con người,
nay lại trở thành gánh nặng khổng lồ
đối với hành tinh này.
Nhưng từ trong những sai lầm đó,
chúng ta cũng tìm thấy hy vọng và bài học lớn là
nhận thức về tác hại
của những phát minh đó đã đánh thức trách nhiệm
của cộng đồng toàn cầu.
Những bước tiến trong khoa học, công nghệ
và chính sách đã và đang đi thực hiện
để sửa chữa sai lầm quá khứ
và bảo vệ hành tinh này
khỏi những tổn thương lớn hơn.
Kết thúc câu chuyện về những phát minh
pháo hủy trái đất không phải là sự bì quan,
mà là lời nhắc nhở rằng
sức mạnh của con người
không chỉ nằm ở khả năng sáng tạo
mà còn ở năng lực sửa sai và tái tạo.
Tương lai của hành tinh này
nằm trong tay chúng ta.
Và hành động hôm nay sẽ quyết định
thế giới mai sau có thể phục hồi
trong lành và bền vững như thế nào.
Đó không chỉ là trách nhiệm
mà còn là di sản
quý giá nhất mà chúng ta để lại
cho thế hệ tương lai.
