Tam tòng Tứ đức, Tam cương Ngũ thường , đã bị diễn giải sai như thế nào?

MẠN ĐÀM CỐ SỰ
1.4K người theo dõi
Tam tòng Tứ đức,
Tam cương Ngũ thường ,
đã bị diễn giải sai như thế nào?
#chuyencodaogia
#chuyencophatgia
#ngamaudio
#laotu
#khongtu
#vanhoa #vanhoatruyenthong #suyngam #giaoduc #baihoccuocsong #loidayconhan #nhansinhcamngo #trietlycuocsong #longtotthattuyet #trietlynhansinh #trungquoc #china #honghongwomen #gjw
Tam Tổng Tứ Đức, Tam Cương Ngũ Thường đã bị diễn giải sai như thế nào?
Tam Tổng Tứ Đức, Tam Cương Ngũ Thường bị coi là chế độ lễ nghi xã hội xưa,
nô dịch phụ nữ, bảo vệ nam quyền và được dùng làm lý do để cổ vũ đấu tranh.
Thực tế những khái niệm này có ý nghĩa khác với cách hiểu thông thường hiện nay
và cũng do người hiện đại không hiểu rõ nên mới dễ bị nghe theo sai
rồi truyền bá cái sai mà vẫn coi như là chân lý.
Đã một thời gian dài, chúng ta từ khi đi học cho đến lớn lên đọc sách báo
đều thấy một quan niệm mặc định bất biến rằng trong xã hội phong kiến
đàn ông áp bức phụ nữ, phụ nữ bị kỳ thị, bị nô dịch, bị hủy hoại
rằng giai cấp thống trị phong kiến vì để củng cố địa vị của mình
mà đã tiến hành một loạt giáo điều áp bức phụ nữ, cấm đoán phụ nữ
để duy trì quyền lực thống trị và nam quyền.
Thực tế, khi đi sâu vào những câu chữ và diễn giải này
chúng ta sẽ không khó nhận thấy rất nhiều điều bị bóp méo,
bị diễn giải sai lệch, đoạn trưng thủ nghĩa.
Vậy họ lý giải tam tòng như thế nào?
Tam tòng là người phụ nữ, tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu,
phu tử tòng tử, nghĩa là ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng,
chồng chết theo con trai, cũng được viết là
vị giá tòng phụ, ký giá tòng phu,
phu tử tòng tử nghĩa là chưa lấy chồng thì theo cha,
lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con trai.
Câu nói này được con người trong văn hóa biến dị ngày nay giải thích là
người phụ nữ trong xã hội phong kiến bị áp bức
là biểu hiện địa vị nô tì của người phụ nữ
trong xã hội trọng nam khinh nữ.
Đây là minh chứng địa vị chủ nô của đàn ông,
người nữ từ bé cho đến tận khi già cả
vẫn phải phục tùng nam giới, thậm chí phục tùng cả con mình.
Cách giải thích sai lệch này lại được dạy dỗ cho các thế hệ trẻ,
rồi thế hệ trẻ lớn lên lại dạy cho các thế hệ sau sai lệch như thế
trở thành cách hiểu méo mó phổ biến trong xã hội.
Do người hiện đại không học, không tìm hiểu văn hóa truyền thống
nên dễ dàng nghe theo, người tìm hiểu văn hóa truyền thống
sẽ dễ dàng tìm ra các bằng chứng phủ định
như chuyện mạnh tử mổ côi cha từ nhỏ,
một lần mạnh tử trốn học, mẹ mạnh tử chặt không cười dạy con,
mạnh tử sợ hãi nghe theo lời mẹ, chăm chỉ học tập
và trở thành bậc á thánh của nho ra.
Hay như chuyện gần gũi với người Việt
là chuyện vua tự đức đi săn do mưa lũ về muộn,
dù đang mưa, vua vẫn đội mưa,
mang roi đến dâng lên hoàng thái hậu tử dụ
và quỳ xuống xin chịu đòn.
Đến như bậc thánh nhân, vua chúa còn coi trọng đạo hiếu,
dằm dấp nghe theo lời mẹ như thế,
thì làm gì có chuyện người phụ nữ sau khi chồng chết
thì nghe theo sự sai bảo của con trai.
Vậy tan tòng là gì?
Thời xưa tang lễ chia ra làm 5 loại tang phục
gọi là ngũ phục, gồm tràn thôi, tề thôi,
đại công, tiểu công và ti ma.
5 loại tang phục này ứng với để tang người hàng kỵ,
cũ, ông, cha và bạn thân.
Vượt ra ngoài phạm vi quan hệ năm đời này
thì không phải mặc tang phục,
trong đó tràn thôi là nặng nhất và ti ma là nhẹ nhất.
Tại ra tòng phụ là người nữ chưa lấy chồng
khi tang lễ sẽ mặc tang phục theo người cha.
Xuất giá tòng phụ là người nữ sau khi lấy chồng
khi tang lễ sẽ mặc tang phục theo người chồng.
Phu tử tòng tử là người nữ khi chồng chết
sẽ mặc tang phục theo con trai.
Ví dụ, khi người ông qua đời,
người chồng mặc tang phục là tề thôi,
thì người vợ cũng mặc tề thôi giống như chồng.
Nếu người chồng đã chết trước đó,
người con trai trưởng chịu tang cụ mặc đại công,
thì người mẹ theo con trai cũng mặc đại công.
Ví dụ nữa, chồng chịu tang kỵ,
tang kỵ là để tang người ông cách năm đời,
thì mặc tang phục ti ma,
người vợ cũng mặc ti ma giống như chồng.
Nếu chồng đã chết,
thì con trai trưởng là đời thứ sáu,
không phải mặc tang phục,
và người mẹ cũng theo con trai,
không phải mặc tang phục.
Thế nên tàm tổng,
hoàn toàn không có một chút hàm nghĩa trọng nam khinh nữ,
nam cai quản nữ,
như cách giải thích sai lệch của những người có ý đồ xấu,
lấy làm cái cớ để phá hoại đạo đức văn hóa truyền thống,
kích động,
dẫn dắt mọi người làm việc sai trái.
Vậy còn tứ đức là gì?
Tứ đức là quy phạm hành vi cho người nữ.
Chù lễ có viết
Nữ quan kiểu tần cai quản phép tắc giáo dục nữ
dạy chín bậc phụ nữ trong cung đình
về phụ đức,
phụ ngôn,
phụ dung và phụ công.
Nguyên văn,
kiểu tần trưởng phục học chi pháp
dĩ giáo kiểu ngữ phụ đức,
phụ ngôn,
phụ dung,
phụ công.
Hiện nay chúng ta quen gọi tứ đức là
công dung ngôn hạnh,
thực tế phải là
đức ngôn dung hạnh.
Hảm nghĩa của tứ đức như sau
Phụ đức là chi phụ nữ lấy chính thân làm gốc
tức đức hạnh đoan chính.
Phụ ngôn
là chi phụ nữ ăn nói đúng mực,
thích hợp,
có tu dưỡng.
Phụ dung
là chi phụ nữ đoan trang,
chín trắn,
giữ lễ,
tránh nông nổi tùy tiện.
Phụ công
là chi phụ nữ giúp chồng dạy con,
kính già,
yêu trẻ,
cần kiệm cai quản gia đình.
Trong tác phẩm kinh điển giáo dục phụ nữ
của Ban triêu đời nhà Hán
có giải thích về tứ đức rằng
đức không cần tài năng tuyệt định,
ngôn không cần nói năng sắc xảo,
dung không cần nhan sắc mỹ lệ,
công không cần khéo léo hơn người.
Những quy phạm hành vi đạo đức
trong văn hóa truyền thống
có yêu cầu khác biệt
giữa người nam và người nữ.
Người nam yêu cầu coi trọng nhân,
nghĩa, lễ, chí, tín,
tuân theo hiếu để chung,
tín, lễ, nghĩa,
liêm, sỉ,
còn người nữ thì cần tuân theo tứ đức.
Cũng không rõ từ khi nào
người ta lại đổi tứ đức từ
đức ngôn dung công thành công dung ngôn hạnh
và diễn giải xã hội xưa.
Cần người phụ nữ biết làm việc là trước hết,
sau đó là có sắc đẹp,
sau nữa mới là biết ăn nói,
và cuối cùng mới là đức hạnh.
Coi phụ nữ là nô lệ,
phục vụ xã hội nam quyền,
kiểu bóp méo ý nghĩa,
đảo lộn trắng đen,
chính nói thành tà,
tốt nói thành xấu này là có mục đích
kích động cái mầm ác trong con người,
từ đó nuôi dưỡng cái ác và sử dụng
làm công cụ đấu tranh của họ.
Vậy còn Tam Cương là gì?
Tam Cương là chỉ vua,
là riềng mối của bể tôi,
cha là riềng mối của con,
chồng là riềng mối của vợ.
Nguyên văn, quân vi thần Cương,
phụ vi tử Cương, phụ vi thê Cương.
Hiện nay bị diễn giải
là minh chứng cho xã hội phong kiến nam quyền,
người nắm địa vị chủ nô,
người nữ ở địa vị nô lệ.
Đây là cách diễn giải đoạn chương thủ nghĩa.
Nếu xem toàn bộ đoạn văn đó,
sẽ thấy ý nghĩa hoàn toàn khác.
Nguyên văn đoạn văn này
trong Xuân Thu phồn lộ rằng
quân vi thần Cương, quân bất chính,
thần đầu tha quốc, quốc vi dân Cương,
quốc bất chính, dân khởi công chi,
phụ vi tử Cương,
phụ bất tử, tử bôn tha hương,
tử vi phụ vọng,
tử bất chính, đại nghĩa diệt thân,
phụ vi thề Cương, phụ bất chính,
thề khạ cải giác,
thề vi phù trợ, thề bất hiền,
phù tắc hiệu chi.
Tạm dịch, vua là riềng mối của bể tôi,
vua bất chính,
bể tôi đầu quân cho nước khác.
Nước là riềng mối của dân,
nước bất chính, dân nổi dậy tấn công.
Cha là riềng mối của con,
cha không nhân tử, con bỏ đi tha hương.
Con là hy vọng của cha,
con bất chính, đại nghĩa diệt thân.
Chồng là riềng mối của vợ,
chồng bất chính, vợ có thể lấy chồng khác.
Vợ trợ giúp chồng,
vợ không hiền, chồng tự bỏ vợ.
Riềng mối ở đây có nghĩa là quy phải,
hình mẫu.
Về cấu tạo sinh lý,
người Nam là mạnh mẽ,
nên tự nhiên sẽ là chủ đạo,
phải gánh vác trách nhiệm,
làm những việc nặng nhọc hơn.
Thế nên, người mang trách nhiệm chủ đạo,
làm riềng mối thì đồng thời có quyền lợi
và có trách nhiệm,
nghĩa vụ cũng lớn hơn.
Từ đoạn văn này, chúng ta thấy,
quyền lợi và trách nhiệm của vua tôi,
cha con, vợ chồng là tương xứng,
hoàn toàn không có ý nghĩa
ai phải tuyệt đối phục tùng ai,
mà chỉ phục tùng trong phạm vi
quy phạm đạo đức.
Câu này hoàn toàn cùng mang ý nghĩa
như câu nói của khổng tử,
vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha,
con ra con.
Tam cường này hoàn toàn là mối quan hệ tương hổ,
với quy phạm đạo đức từ hai phía.
Một bên mất đi tiêu chuẩn,
thì mối quan hệ này kết thúc.
Chuyện khổng tử đang làm quan
đại tư khấu nước lỗ, đạt được thịnh trị,
ngoài đường không nhặt của rơi,
tối ngủ không đóng cửa nhà,
khiến nước tề sợ hãi.
Nước tề bèn chọn mỹ nữ tặng vua lỗ,
vua lỗ ham mê nữ sắc,
bỏ bê chiều chính.
Khổng tử liền từ quan,
bỏ nước lỗ ra đi,
đã thể hiện rất rõ,
vua là riềng mối của bể tôi,
vua bất chính,
bể tôi đầu quân cho nước khác.
Vậy ngũ thường là gì?
Ngũ thường nghĩa là năm tiêu chuẩn đạo đức
mà con người luôn luôn
thường hằng cần có,
đó là nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín.
Đồng trọng thư nói
nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín là đạo ngũ thường,
là thứ mà vương đạo thường
xuyên trị sửa.
Bạch hổ thông nghĩa viết ngũ thường là gì?
Là nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín.
Cũng có cách hiểu khác,
ngũ thường là cha nhân nghĩa,
mẹ hiền tử, anh hữu ái,
em cung kính, con hiếu thuận.
Sách thượng thư viết
ngày nay, vua thường khinh nhờn
ngũ thường, khổng dĩnh đạt chú giải.
Ngũ thường tức là ngũ điển,
đó là cha nhân nghĩa, mẹ hiền tử,
anh hữu ái, em cung kính,
con hiếu thuận là
năm đức hạnh mà con người thường phải có.
Cũng có cách hiểu nữa,
ngũ thường là ngũ hành.
Lễ ký viết nói về thực hiện
ngũ thường, đó là làm cho dương
không bị phân tán, âm không bị tập trung.
Trịnh huyền đời hán chú giải
ngũ thường là ngũ hành.
Trang tử viết trong thiên vận thiên
rằng trời có lục cực ngũ thường.
Thành huyền anh chú giải rằng
ngũ thường là ngũ hành,
kim mộc thủy hỏa thổ.
Vì ngũ thường, tức ngũ đức
tương ứng với ngũ hành, nhân,
mộc, nghĩa, kim,
lễ, hỏa, trí,
thủy, tín, thổ.
Nên cách hiểu trên là
đứng từ hai góc độ khác nhau mà thôi.
Đứng từ góc độ quan niệm đạo đức
truyền thống thì ngũ thường chính là
ngũ đức nhân, nghĩa,
lễ, trí, tín,
phẩy năm đức tính. Ngũ đức
mà con người luôn luôn thường hằng
cần phải có.
