LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN của PHẬT GIÁO VIỆT NAM - Spiderum - THẾ GIỚI

Animal Love Be SALA
115 followers
52 Video Views·Mar 30, 2025
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN của PHẬT GIÁO VIỆT NAM - Spiderum - THẾ GIỚI
Vội đến, vội đi, vội nhạt nhòa, vội vàng xương hợp, vội chia xa, vội ăn, vội nói, rồi vội thở, vội hưởng thụ mau, để vội già, vội sinh, vội tử, vội một đời.
Bạn nghĩ những câu thơ trên nói về điều gì?
Sự vội vã, tất bật, áp lực phải sống.
Bạn có biết, trước cả khi thế hệ chúng ta nói với nhau về phô mô, về các vấn đề tâm lý trong xã hội hiện đại, đã có một trường phái tôn giáo đi sâu vào chủ đề này, tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi, làm sao thoát khỏi đau khổ.
Bạn có đoán được đó là tôn giáo gì không?
Để mình gợi ý nha, đây là một trong những tôn giáo lâu đời nhất, ra đời cách đây khoảng 2600 năm.
Tính đồ của tôn giáo này không tin vào Thượng Đế hay Thần Linh.
Họ tập trung vào việc đạt được giác ngộ, sự tỉnh thức, nhìn thấy rõ mọi bản chất của sự sống, đích thực như nó là.
Đây cũng chính là tôn giáo đã ảnh hưởng rất nhiều đến lối sống và cách suy nghĩ của người Việt, và đó chính là Phật giáo.
Phật giáo ra đời trong bối cảnh xã hội đang tồn tại nhiều vấn đề dưới sự ảnh hưởng của bà Lamôn giáo.
Đạo bà Lamôn phân chia xã hội Ấn Độ làm 5 giai cấp.
Ai sinh ra trong giai cấp nào thì phải ở mãi trong giai cấp đó suốt đời.
Giai cấp trên hết là các tăng lửu bà Lamôn, sinh ra từ miệng của đấng Phạm Thiên Brahma,
được quyền giữ địa vị tối cao trong xã hội, độc quyền cúng tế Thượng Đế và các Thần Linh.
Giai cấp thứ nhi là các sát đế ly, sinh ra từ vai của đấng Phạm Thiên.
Giai cấp này gồm các vua chúa, quý trọc, trưởng giả, công hầu, khanh tướng.
Họ nắm quyền cai trị và thưởng phạt dân chúng.
Giai cấp thứ ba là phè xá, sinh ra từ hông của đấng Phạm Thiên.
Giai cấp này gồm các nhà thương mại, các trại chủ giàu có.
Họ nắm kinh tế, chuyên môn mua bán làm ăn cùng các tầng lớp dân chúng trong xã hội.
Giai cấp thứ tư là thủ đà la, sinh ra từ chân của đấng Phạm Thiên.
Giai cấp này gồm các nông dân và công nhân nghèo khổ.
Giai cấp thứ năm là chiên đà la.
Đây là giai cấp thấp kém nhất trong xã hội Ấn Độ,
gồm các người làm các nghề hèn hạ như ở đợ, làm mướn, chèo ghe, giết xuất vật, v.v.
Giai cấp tăng lửa Bà Lạ Môn dựa vào thế lực tôn giáo để củng cố địa vị và quyền lợi
bằng cách nương theo thần thoại, chế ra luật pháp Manu, kỳ thị giai cấp,
không cho gã cứa giữa hai giai cấp khác nhau.
Điều này tạo ra những sự bất công, kỳ thị và phân biệt trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ.
Vì vậy, nhiều nghiên cứu cho rằng Phật giáo ra đời như một cuộc cách mạng
chống lại thần quyền của Bà Lạ Môn giáo.
Đạo đức Phật giáo mang nội dung tinh thần bình đẳng, phi thần quyền, tiến bộ.
Điều này sẽ được đề cập kỹ hơn ở phần sau của bài viết.
Vậy Phật giáo ra đời như thế nào?
Chuyện kể là Tất Đạt Đa Cổ Đàm, tức Đức Phật, thuộc dòng Sát Đế Ly,
đẳng cấp của Vua Chúa, thuộc đẳng cấp cao trong nước than giai cấp của Ấn Độ.
Từ nhỏ, Ngài đã sống trong nhung lụa bạc vàng.
Cuộc đời thôi khỏi nghĩ, cha mẹ yêu quý, kẻ hầu người hạ, vợ con đề hòe.
Vậy mà đến năm 29 tuổi, Ngài quyết tâm bỏ đi hết để tìm chân lý đời mình.
Người ta nói trong một chuyến đi dạo, Đức Phật gặp tứ cảnh,
đó là sinh, lão, bệnh, tử.
Và bật lên trong đầu một nỗi bi ai về số phận.
Ai rồi cũng già, rồi chết cả thôi.
Lạc thú phù phiếm như mây trời, và rồi cũng tàn lũi cả.
Một ngày, Đức Phật ra khỏi cung và gửi lại mớ tóc cho sa nặng.
Đổi bộ quần áo của mình với một người ăn mày.
Và từ đó, đoạn tuyệt toàn bộ với phồng hoa lúc trước,
để dấn thân vào cuộc sống trải nghiệm.
Một sự diệt kỹ đến phi thường.
Có lúc, Ngài tưởng đã đến với cái chết, mà vẫn chưa một lần đạt đến giác ngộ.
Ban đầu, Ngài đi tìm học hỏi với những đạo sĩ danh tiếng nhất Ấn Độ thời bé giờ.
Nhưng rồi Đức Phật nhận thấy chân lý và lối tu hành của họ cũng không có gì là siêu thoát.
Từ đó, Ngài đi vào ẩn trong dãy núi tuyết sơn,
tự mình tu luyện để tìm ra cái đạo giải thoát như mong muốn.
Nhưng sau 6 năm trời tu khổ hạnh, Ngài vẫn chưa thu thập được kết quả gì khả quan.
Bây giờ, Ngài mới đi đến núi tượng đầu,
đến dưới gốc cây Tất Bắc La, tức Pipala.
Sau này người đời gọi là cây Bồ Đề,
nghĩa là cây giác ngộ, để kỷ niệm sự giác ngộ của Đức Phật dưới gốc cây ấy.
Ngài ngồi thiên định ở đó và thề rằng
Nếu ta ngồi đây mà không chứng được đạo quả,
thì dù thịt nát xương tan, ta quyết không bao giờ đứng dậy.
Đến nửa đêm thứ 49,
trong tâm đích Phật tự nhiên đại ngộ, sạch hết phiền não, đạt đến sự giác ngộ.
Ngài lấy hiệu là Phật Thích Ca Mô Ni.
Trong khoảng 45 năm trời, có thuyết lại cho rằng là 49 năm,
Phật Thích Ca Mô Ni đã đi khắp nơi truyền bá, giảng dạy các giáo lý Phật Pháp.
Triết lý Phật giáo, bình đẳng trong khổ đau và con đường giải thoát.
Thế giới, vũ trụ, theo quan niệm Phật giáo là luôn vận động, biến đổi.
Các biến đổi diễn ra nhanh như giấc mắt,
và thế giới thì không có trước, không có sau, vô thủy, vô chung.
Đó cũng chính là lẽ vô thường,
tức không có gì tồn tại cố định, mà có đó, mất đó.
Con người cũng thuộc dòng chảy không ngừng đó,
nên không gì là bản thân ta cả, tức vô ngã.
Những biến đổi này, nói theo ngôn ngữ hiện đại,
là do tự thân vận động, không xuất phát từ bên ngoài,
mà từ lẽ nhân duyên, theo luật nhân quả, nghiệp báo.
Tùy thuộc vào nghiệp báo,
mà biến đổi của các sinh linh diễn ra trong cõi phàm và siêu phàm,
hoán chuyển từ cõi này sang cõi kia, đó là lương hồi.
Phật giáo cho rằng, đời người là khổ,
đó là cái bệ khổ triền miên từ lúc sinh ra, trưởng thành, cho đến chết.
Sinh, lão, bệnh, tử, khổ, có nghĩa là sinh ra làm người,
cất tiếng khóc chào đời là bắt đầu sự khổ,
rồi già theo thời gian cũng là khổ,
bệnh tật theo đó nảy sinh, không ai tránh khỏi, cũng là khổ.
Đến lúc kết thúc một kiếp người không ai mong muốn, cũng là khổ.
Phật giáo cũng cho rằng, mọi người bình đẳng với nhau về nỗi khổ.
Khổ đau không dành riêng cho giai cấp nào và không chừa một ai.
Phật giáo khẳng định mọi người đều có thể được giải thoát và bình đẳng như nhau
trên con đường giải thoát, đặc biệt là con đường giải thoát đó
không phải là do đấng siêu nhiên nào cứu giúp,
mà mỗi con người phải tự lựa chọn, tự đi, tự đến,
bằng việc vượt qua chính bản thân kiếp người với cả niềm tin và hành vi đạo đức.
Tư tưởng đạo đức của Phật giáo thể hiện tập trung nhất trong Tứ Diệu Đế,
tức bốn chân lý như thực và tám phương pháp tu dưỡng đúng đắn,
tức bắt chánh đạo để mỗi người tự giác giải thoát, đạt tới Niết Bàn.
Tứ Đế hay còn gọi là Tứ Thánh Đế hay Tứ Chân Đế, gọi tắt là Tứ Đế.
Đế nghĩa là chân thực nên Tứ Đế được gọi là bốn chân lý như thực.
Chân lý thứ nhất, tất cả chúng sinh, con người đều phải phụ thuộc và chịu đựng
tất cả những thứ như buồn phiền, thất vọng, khó chịu, đau bệnh, già, chết, bất an, lo lắng.
Nói tóm lại, tất cả đều bị khổ, tức là luôn luôn phụ thuộc vào những sự khổ và bất tọi nguyện, không ai thoát được.
Chân lý thứ hai, những nguyên nhân của tất cả các dạng khổ trong tất cả chúng sinh và con người
chính là dục vọng, tức sự ham muốn, thèm muốn.
Mà dục vọng chính là cái ảo tưởng sai làm của con người về một linh hồn, về một cái ta của mình.
Vì có cái ta nên người ta tham lam, muốn được cho hiện tại, muốn có cho tương lai.
Và kết cục là cả đống những cái muốn và dục vọng đó dẫn đến khổ.
Khổ vì bất tọi nguyện, khổ vì những điều không tốt.
Nói tóm lại, theo Phật giáo, nếu không có dục vọng thì không có khổ như vậy.
Chân lý thứ ba, sự chấm dứt hay tiêu diệt hết khổ là trạng thái thoát khổ và hạnh phúc.
Muốn tiêu diệt hết khổ thì phải nhổ sạch nguồn gốc và nguyên nhân của khổ.
Nguồn gốc và nguyên nhân của khổ chính là dục vọng và tham muốn.
Dục vọng thì biểu hiện bằng những bản chất tham sân si của tâm chúng ta.
Vậy phải thực hành việc tiêu diệt hết những bản chất tham sân si đó để tiêu diệt dục vọng.
Chân lý thứ tư, việc tiêu diệt hết khổ và nguồn gốc tạo ra khổ là có thể làm được thông qua một con đường thực hành.
Có một con đường để thành tựu việc này đó là con đường táp phần,
tức bác chánh đạo do chính Đức Phật tìm ra và chỉ dạy lại cho chúng ta.
Đức Phật khuyên dạy mọi người bước theo con đường đạo của Phật giáo
để tránh được những cực đoan về khói lạc giác quan và cực đoan về hành xác khổ hạnh để tìm ra chân lý và sự giải thoát.
Con đường bác chánh đạo bao gồm 8 phần thuộc 3 mãng sau đây.
Theo đạo Phật, đó là sự hiểu biết về 4 chân lý tứ diệu đế mà Đức Phật đã tìm ra.
Nói cách khác, đó là sự hiểu biết mọi sự vật đích thực như chúng là.
Sự hiểu biết đúng đắn, tức chánh kiến như vậy cũng là sự hiểu biết rõ ràng về quy luật nghiệp, tức karma,
hoạt động như thế nào đối với mọi hành vi của thân và tâm như hành động, lời nói, ý nghĩ, thân, miệng, ý.
Khi hiểu biết về nghiệp và nghiệp quả thì một người sẽ tránh làm những hành vi xấu ác và chọn làm những hành vi tốt thiện
và nhờ vậy tạo được những nghiệp tốt lành cho hiện tại và tương lai.
Khi một người có hiểu biết đúng đắn theo đạo Phật như vậy thì người đó cũng hiểu biết rõ ràng về những bản chất của sự sống.
3 bản chất của sự sống là vô thường, khổ và vô ngã.
Vô thường là không thường hành, luôn biến đổi, luôn sinh diệt, luôn có mất, không ổn định, không chắc chắn, không có một tự tính cố định nào.
Vô ngã là không có một tự tính, không có phải là một thực thể cố định, không phải là một cái gì đó thường hành, sống mãi, bất diệt, bất biến.
Ngay cả cái ta mà chúng ta nhận là một con người hay một linh hồn cũng không có thực.
Đó chỉ là giả danh bởi vì đó được cấu thành bằng những yếu tố vật chất và tinh thần khác nhau
và những yếu tố này vốn luôn thay đổi theo từng giây phút, trong từng khoảnh khắc.
Khi một người có những hiệu biết đúng đắn, tránh kiến như trên thì người ấy có khả năng phát triển thói quen và khả năng suy nghĩ đúng đắn, tránh tư duy.
Ví dụ, khi người ta đã hiểu rõ về lẽ thực và những bản chất của sự sống, về bản chất vô ngã, vô thường hoặc đã hiểu rõ nguyên lý khoa học của nhân quả
thì người ấy luôn có suy nghĩ tránh né, tránh bỏ, không làm những điều bất thiện, bất công, xấu xa và luôn luôn chọn làm những việc lương thiện, công đức, tốt lành.
Người hiểu biết đúng đắn và suy nghĩ đúng đắn có thể bước đi trên một con đường đạo đúng đắn.
3. Lời nói, ngôn từ đúng đắn, tránh ngữ.
Điều đó có nghĩa là kiên cử không nói dối, không nói lời vu khống bịa đặc, không nói lời khó nghe, không chửi bới, lăn mạ, dẹm pha, không nói lời chia rẽ, gây thụ hận, không nói tầm phào, tán dốc, nói kiểu ăn không rồi.
Giới hạnh tránh ngữ khuyên dạy chúng ta nên nói lời chân thật, nói sự thật, nói lời nhẹ nhàng, dễ nghe, nói lời thân mến, thân tình, nói lời tạo sự hòa đồng, đoàn kết, cảm thông nhau,
nói cho vui lòng người, cho tọa lòng ta, và nói những lời có nghĩa, có ý nghĩa, nói khi cần phải nói, và nói những lời lương thiện.
4. Hành động đúng đắn, tức tránh nghiệp.
Tránh nghiệp là sự thể hiện sự tôn trọng đối với sự sống, đối với tài sản và những mối quan hệ của người và của mình trong đời sống.
Tôn trọng sự sống có nghĩa là không xác sinh, không giết hại, không gây ra giết hại người và sinh vật khác.
Tôn trọng tài sản là không ăn cắp, không lấy thứ không được cho, không lừa gạt, chiếm đoạt, cướp bóc của cãi của người khác.
Tôn trọng những mối quan hệ của mình và người khác là không quan hệ nam nữ bất chính, không ngoại tình, không làm phương hại đến tình cảm của người khác.
Không gây chi rẻ, không làm mất hạnh phúc của người khác.
5. Ngày nghiệp, việc làm đúng đắn, tức tránh mạng.
Đây là cách một người làm công việc để sống, cách để mưu sinh trong đời.
Ý nghĩa của nó cũng giống với các giới hạnh như tránh ngữ và tránh nghiệp.
Làm việc gì cũng phải tôn trọng sự sống, sự bình an và lợi lạc của người và sinh vật khác.
Không làm gì phương hại đến người và sinh vật khác.
Nói chung đó là chọn làm những việc lương thiện và hợp pháp.
6. Thiền tập, Pavana.
6. Nỗ lực đúng đắn, tránh tinh tấn.
Tránh tinh tấn là thái độ phấn đấu và phát huy hết những năng lực thân tâm để kiên trì thực hành việc tu tập tâm.
Đó là lòng nhiệt thành về đạo, là tính kiên trung, kiên nhẫn để tu theo con đường đạo, không thoái chí.
Và đặc biệt không đi sai lầm, không đi lệch đường, không phí công sức theo những cách thực hành sai trái.
Đó là nỗ lực tránh những điều xấu sai chưa làm.
Nỗ lực trừ bỏ những điều xấu sai đã lỡ làm.
Nỗ lực làm những điều thiện tốt chưa làm.
Nỗ lực phát huy và tu dưỡng những điều thiện tốt đã làm.
7. Chú tâm, Quán niệm đúng đắn, tức tránh niệm.
Sự tránh niệm được tu tập bằng cách chú tâm, chú ý, ý thức,
luôn biết rõ ràng về những gì xảy đến và biến mất,
về những điều là đúng hay sai, về những bản chất đích thực của sự sống.
8. Tập trung tâm một cách đúng đắn, tức tránh định.
Đây là việc định tâm một cách đúng đắn, sự thiền định một cách đúng đắn.
Thiền định là tu tập, làm tập trung, cố định, hợp nhất, hội tụ vào một đối tượng duy nhất nào đó.
Ví dụ như hơi thở, để làm cho tâm không bị sao lãng, không lăng sang chạy nhảy,
làm cho tâm tỉnh lặng, đạt định, đạt đến một mức độ tránh định thầm sâu.
9. Niết bàng
Niết bàng, theo tiếng Sanskrit là Nirvana, theo tiếng Pali là Nibbana.
Học giả đoàn Trung Còn giải thích,
Niết bàng là cảnh trí của nhà tu hành nhức sạch các phiền não và tự biết rằng mình chẳng còn luyến ái.
Và theo lối trí tự thì Niết, Nir có nghĩa là ra khỏi,
bàng hay bà na, bà na có nghĩa là rừng, tức là ra khỏi cảnh rừng mê tối, rừng phiền não.
Mặc dù các cách hiểu này không đồng nhất, song đều có chung một nghĩa căn bản.
Niết bàng là sự đoạn trừ, dục vọng, dứt nghiệp báo luân hồi, thanh tịnh tuyệt đối.
Đó là sự ngưng động, vĩnh cụ của không, thời gian, trong cõi tâm linh sâu thẳm của con người.
Như vậy, Niết bàng trong Phật giáo không phải là một cõi cực lạc có vị trí không, thời gian như thiên đường của Thiên Chúa Giáo,
mà là một trạng thái tâm linh hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt, không vọng động,
diệt ái dục, xóa bỏ vô minh, nhận thức sai lầm về bản ngã và thế giới xung quanh, chấm dứt mọi khổ đau, phiền não.
Vì vậy, cái đích của sự giải thoát trong Phật giáo không phải là lên thiên đường, trở về với Chúa,
mà là sự tận diệt cái cá thể đầy những ham muốn dục vọng, thoát khỏi vô minh, giác ngộ được lẽ vô thường và vô ngã để đạt tới Niết bàng.
Trong quá trình hình thành và phát triển từ Ấn Độ, Phật giáo đã được truyền sang các nước lân cận, ra khu vực Á Đông và phát triển trên toàn thế giới.
Sự phát triển này được chia theo hai hướng. Về phương Bắc, gọi là Phật giáo Bắc Tông, mang tư tưởng Đại Thừa.
Về phương Nam, gọi là Phật giáo Nam Tông, mang tư tưởng Tiểu Thừa.
Phật giáo Tiểu Thừa
Phái Tiểu Thừa Khayana nghĩa là con đường cứu vớt nhỏ hoặc cổ xe nhỏ, chủ trương chỉ những người xuất gia tu hành mới được cứu vớt.
Phái này cho rằng những người theo Tiểu Thừa phải tự giác ngộ, từ giải thoát cho bản thân mình, không thể giải thoát cho người khác.
Phái Tiểu Thừa quan niệm rằng Sinh Tử Luân Hồi và Niết bàng là hai phạm trụ khác nhau.
Chỉ khi nào có người thoát khỏi vòng Sinh Tử Luân Hồi thì mới lên được Niết bàng.
Niết bàng là cỏi hư vô, là nơi đã giác ngộ, ở đó không còn khổ não. Phật Tổ là người đầu tiên đạt tới Niết bàng.
Phật Giáo Tiểu Thừa bảo vệ sự tuân thủ nghiêm ngặt của Giáo Quy, bám sát các giáo điều của Đạo Phật Nguyên Thủy.
Phái Tiểu Thừa được truyền bá ra nhiều nơi, từ Sri Lanka đến Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam.
Quá trình phát triển của Phái Tiểu Thừa cũng chia thành nhiều chi phái, tiêu biểu như Thành Thực Tông, Luật Tông, Câu Xá Tông.
Phật Giáo Đại Thừa
Phái Đại Thừa, Mahayana, nghĩa là Con Đường Cứu Vớt Lớn, Cổ Xe Lớn, được gọi là Tôn Giáo Cải Cách.
Giáo lý Đại Thừa có nhiều cái mới so với Phật Giáo Nguyên Thủy.
Phái này cho rằng không chỉ những người xuất gia tu hành mà cả những Phật tử cũng được cứu vớt.
Vì vậy, chủ trương của người theo Đạo Phật Đại Thừa không chỉ giải thoát, giác ngộ cho bản thân, mà còn có thể giúp nhiều người cùng giải thoát, giác ngộ.
Đại Thừa chủ trương mỗi người có thể đến Niết Bàn chỉ bằng sự cố gắng của mình, đồng thời chủ trương giải thoát đồng đảo cho nhiều người.
Phật Giáo Đại Thừa quan niệm rằng sinh tử lương hồi và Niết Bàn không phải là hai phạm trù khác biệt.
Ngay trong quá trình tồn tại, tức quá trình sinh tử cũng có thể đạt đến Niết Bàn.
Theo Phái Đại Thừa, Niết Bàn là nơi cực lạc, là thế giới của các vị Phật, giống như thiên đường của các Tôn Giáo khác.
Phái Đại Thừa không chỉ thừa nhận Thích Ca là Phật, mà còn thừa nhận nhiều Phật khác như Phật A-di-đà, Phật Di-lạc, Phật Đại Dược Sư.
Ai cũng có thể trở thành Phật, và thực tế đã có nhiều người thành Phật như Văn Thù Bồ-Tát, Quang Âm Bồ-Tát, Phổ Hiền Bồ-Tát, v.v.
Với quan điểm đó, những chùa theo Phái Đại Thừa thờ nhiều tượng Phật, Bồ-Tát cũng là đối tượng được thờ cúng.
Bồ-Tát là những người đã đạt được sự hoàn thiện bằng tu luyện, đáng được lên Niết Bàn, xong tự nguyện ở lại Trần Giang để cứu độ chúng sinh.
Trong các vị đó, Quang Âm Bồ-Tát được kính trọng nhất.
Với quan điểm cách tân của mình, Phật Giáo Đại Thừa được truyền bá đến nhiều nơi trên thế giới, trước hết là các nước châu Á.
Từ Ấn Độ truyền sang Tây Tạng, rồi vào Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam.
Trong quá trình đó, Phá Đại Thừa cũng chia thành nhiều chi phái, tiêu biểu có Pháp Tương Tông, Tam Luận Tông, Hoa Nguyên Tông, Mật Tông, Tịnh Độ Tông và Thiền Tông.
Hành trình du nhập của Phật Giáo vào Việt Nam
Sự du nhập của Phật Giáo vào nước ta ở những bước căn bản đầu tiên thật ra không phải xuất phát từ Trung Hoa,
mà chính là được truyền sang trực tiếp từ Ấn Độ từ khoảng thế kỷ I và II sau Công Nguyên.
Dựa trên những chứng liệu lịch sử đáng tin cậy, một số nhà nghiên cứu chuyên sâu có uy tín về Phật Giáo đã khẳng định điều này.
Từ khi Phật Giáo du nhập vào cho đến thế kỷ thứ 10
Đối với người Việt Nam lúc bấy giờ, ông trời là một đấn ở trên cao, thấu hiểu mọi việc, biết rõ người tốt kẻ xấu,
từ đó mà phù giúp người hiền, trừng phạt kẻ ác.
Quan điểm này khiến người dân dễ tiếp nhận thuyết nhân quả, nghiệp báo của nhà Phật.
Ngoài ông trời thì họ cũng quan điểm có những vị thần thánh khác như thần sống, thần mưa, v.v. như là những thủ hạ của ông trời.
Họ cũng coi ma só là linh hồn của những người chết còn tồn tại quẩn quanh trong nhà để phù trợ cho gia đình.
Điều này làm cho họ cảm thấy dễ gần gũi khi tiếp xúc với thuyết luân hồi, sự tiếp diễn của những kiếp sống.
Sự hòa hợp giữa tính ngưỡng bản địa có sẵn với những sinh hoạt văn hóa, giáo lý cơ bản của Phật Giáo
đã hình thành nên một loại tính ngưỡng Phật Giáo bình dân trong thế kỷ đầu tiên của công lịch.
Người Việt xưa quan điểm Phật như là một vị Bụt xuất phát từ từ Buddha,
có phép thần thông, nghe và biết mọi chuyện như ông trời.
Nhưng Bụt không ở trên cao mà thân cận với mọi người.
Bụt hiện ra dưới nhiều hình thức để cứu người, giúp đời.
Bụt thương người nhưng không trừng phạt kẻ ác như ông trời vẫn làm.
Vào thế kỷ thứ hai, sự thâm nhập của Phật Giáo đã ở vào một giai đoạn mới.
Đã hình thành tăng đoàn, công việc hành đạo, từ đó mà cũng đi vào tổ chức.
Các tăng sử bắt đầu dịch kinh, sáng tác, chùa chiền cũng đã được say cất.
Ở thế kỷ này, sự hành đạo cũng gặp một ít trở ngại từ phía những người ủng hộ khổng, lão,
vốn có tư tưởng triết lý trái ngược với Phật Giáo.
Tuy nhiên thì điều đó không thể ngăn cản được ảnh hưởng của Phật Giáo vì nó đã thâm nhập vào dân gian.
Quan điểm về Phật thì vẫn nối tiếp tính ngưỡng bình dân và Phật trong thế kỷ trước,
nhưng đã mang màu sắc háng hơn khiến những khái niệm của khổng, lão được đưa vào.
Trong lý hoặc luận, Phật đã được trình bày như nguyên tổ của Đạo và Đức,
nhưng vẫn mang màu sắc biến hóa thân thông.
Đến thế kỷ thứ 3, có lẽ đã có một thực tế là Phật Giáo từ phương Bắc đã bắt đầu có ảnh hưởng trở lại lên Phật Giáo Việt Nam.
Sử sách cũng ghi nhận rằng trong thế kỷ này, các kinh sách về thiền đã được đem từ Lạc Dương xuống
và bị ảnh hưởng từ tư tưởng Phật Giáo Đại Thừa Trung Hoa.
Tuy nhiên ở đây, khi nói về sự du nhập của Phật Giáo vào Việt Nam,
ta có thể xem việc này đã cơ bản hoàn tất trước thế kỷ thứ 10,
khi mà một mặt có sự du nhập trực tiếp từ Ấn Độ cộng với sự ảnh hưởng của Phật Giáo Đại Thừa từ phương Bắc sau đó.
Mặt khác là sự sản sinh, hình thành nền thiền học Việt Nam với những thiền phái đầu tiên nhưng lại rất lớn mạnh.
Từ đây đã tạo một tiền đầy vững vàng cho sự phát triển của Phật Giáo Việt Nam về sau,
mà đỉnh điểm là giai đoạn từ thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ thứ 16.
Phật Giáo thời Đinh Lê Lý Trần
Thế kỷ thứ 10 tới thế kỷ thứ 15
Ảnh hưởng của Phật Giáo dưới thời Đinh Tiền Lê
Cuối thời Bắc thuộc, Phật Giáo đã lan rộng khắp mọi miền cả An Nam Đô Hộ Phủ, tích Việt Nam.
Đã xuất hiện một lớp cao tăng người Việt,
trong đó có những người đã học ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nam Dương,
hiểu biết, tinh thông giữa Hán, Phạn,
đóng góp cho sự xây dựng và bảo vệ đất nước, được nhân dân tôn trọng.
Là những trí thức thời đại.
Vì vậy, khi đất nước độc lập, tầng lớp thiền sư,
những người trí thức thời đại được vua chọn làm điểm tựa về tinh thần,
văn hóa, tư tưởng cùng vua xây dựng và quản lý đất nước.
Bên cạnh đó, vào thế kỷ thứ 10, nhà nước độc lập mới được xây dựng,
đang dần dần tự củng cố,
vừa phải chuẩn bị đương đầu với những cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài,
vừa phải đối phó với những yếu tố phân tán các cứ ở bên trong.
Nhà nước độc lập non trẻ lại đang cần một điểm tựa về ý thức,
một công cụ tinh thần để xây dựng và quản lý đất nước.
Trong khi đó, các đường mối của nhà giáo lại chưa được phát triển đầy đủ.
Trong tình hình đó, Phật giáo đã chiếm được ưu thế trong xã hội.
Đinh Tiên Hoàng, sau khi lệnh ngôi, năm 1971,
đã quy định các cấp bậc tăng đạo đồng thời với các bậc quan lại văn võ.
Việc quy định các chức quan tăng đạo đồng thời với việc xây dựng bộ mái nhà nước,
chứng tỏ vua Đinh rất chú trọng đến vị trí của tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo.
Nhà Lê tiếp theo cũng theo đường lối đó của nhà Đinh.
Dưới triều Đinh, Tiền Lê,
nhiều nhà sư đã trở thành cố vấn cho các ông vua về đường lối đối nội và đối ngoại.
Thời điểm này cũng xuất hiện nhiều nhà sư tham gia công cuộc dựng nước và giữ nước.
Ảnh hưởng của Phật giáo dưới thời nhà Lý
Vào thời đại nhà Lý, Phật giáo vẫn tiếp giữ một vai trò rất lớn về mặt chính trị.
Ngay điểm khởi đầu, tức là việc lập nên triều đại này, Phật giáo đã đóng vai trò quyết định.
Tuy đã giúp nhà Tiền Lê,
nhưng trước tình trạng tệ lậu của quốc gia dưới sự cai trị của Lê Long Đĩnh,
sư Vạn Hạnh đã không ngần ngại ủng hộ Lý Công Ứng lên ngôi,
chấm dứt chế độ giả mang của Lê Ngoại Triều
bằng một cuộc vận động quân chúng qua sắm truyền về vận mệnh dân tộc gắn với chữ Lý.
Với việc Lý Công Ứng xuất thân là một môn sinh của nhà chùa và vai trò của sư Vạn Hạnh,
sẽ không ngoa khi nói rằng bước đầu dựng lên nhà Lý công đầu thuộc về Phật giáo.
Sư Vạn Hạnh cũng là người được tin rằng đã thuyết phục Lý Công Ứng
về đô từ Hoa Lư về Thăng Long với ý nguyện bảo vệ lâu dài nền độc lập dân tộc.
Các tăng sư Phật giáo cũng trực tiếp tham dự chính sự qua việc trực tiếp thiết lập các kế hoạch,
thảo văn thư, tiếp xứ thần, bàn luận cả những vấn đề về quân sự.
Tuy can dựng vào chính sự, nhưng tăng sư Phật giáo không hề chủ trương tham gia chính quyền,
nên sau đó khi triều đình đã vững mạnh hơn, có thể tự mình gánh phát tất cả,
thì họ lại tự nhiên lưu về với chức năng vốn có của mình là hướng dẫn tinh thần và đạo đức,
lưu về với việc tu đạo của mình khi nhiệm vụ đối với quốc gia với quản đại quần chúng đã hoàn thành.
Về phương diện học thuật, Phật giáo Việt Nam giai đoạn này mà chủ thể là các tăng sĩ,
thiền sư đã có công đào tạo một lớp trí thức có trình độ uyên thâm cả Phật,
Nho, Lão nhưng lại không cố chấp và biết dung hợp những dị biệt giữa ba hệ thức trước lý này.
Nhiều thiền sư am tường cả tam giáo, ví dụ như Khuôn Việt, Phạm Hạnh, Đạo Hạnh, Viên Giác, Mẫn Giác…
và sẵn sàng truyền thụ cho các môn đệ những tinh túy của các quan niệm chính trị xã hội của nho giáo.
Khi nghị bàn chính sự, họ cũng sẵn sàng sử dụng lý luận nho học.
Kiến thức nho học được sử dụng theo tinh thần Phật giáo đã đóng góp khá nhiều cho học thuật và chính trị đời lý.
Dưới sự tác động, hướng dẫn tinh thần của các thiền sư,
Phật giáo dưới thời lý đã tạo dựng một bản sắc văn hóa chính trị đầy tính nhân bản.
Nhà lý đã được xem là một triều đại thuần từ nhất trong lịch sử phong ký Việt Nam.
Các vị vua của triều đại này có cuộc sống đạo đức và tâm linh,
đã không có cảnh tranh đoạn, bạo loạn, cực hình,
mà thay vào đó bằng một đường lối chính trị khoan dung, độ lượng, từ bi với thần dân và với cả kẻ thù.
Vua Lý Thái Tông tha tội cho nùng trí cao, vua Lý Thánh Tông không giết chế cũ, vua Chim Thành.
Phật giáo giai đoạn này cũng có những đóng góp to lớn đối với sinh hoạt văn học.
Văn học Phật giáo đã trở thành dòng văn học chủ đạo của thời này.
Những công trình ký trúc và điều khác Phật giáo cũng đóng góp những giá trị mỹ thuật cho triều đại nhà lý.
Những công trình này giờ đây không còn lưu lại bao nhiêu,
nhưng sử sách ghi lại là vào các triều vua Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông
đã xây, lập rất nhiều chùa, điện, tháp, tiến hành đúc, vẽ nhiều tượng tranh Phật.
Những công việc này không phải chỉ nhằm cho hoàn tộc, mà ở khắp nơi trong dân chúng.
Một công trình nhà lý mà nay vẫn là một trong những biểu tượng của dân tộc Việt
chính là Chùa Một Cột được xây từ năm 1949, khi đó được gọi là Chùa Duyên Hụ.
Trong buổi đầu nhà lý, các thiền sư còn can dự trực tiếp vào công việc chính sự.
Triều đình cần đến sức học, tài ngoại giao, khả năng giáo dục, sự liên kết nhân tâm của họ.
Nhưng đến nhà Trần, tình hình đã khác đi.
Các vua Trần là những người có tri thức, lại uyên bác vật học.
Nhưng dù vị trí trực tiếp trong công việc chính sự của các tăng sĩ không còn nữa,
Phật giáo lại vẫn phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết,
ảnh hưởng trực tiếp lên chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đời Trần,
trở thành một tinh thần dân tộc thời bấy giờ.
Với sự việc vua Trần Thánh Tông chuyên tâm học Phật, vua Trần Nhân Tông xuất gia,
xây dựng thiền phái Trúc Lâm, anh vợ của vua Trần Thánh Tông thì trở thành tuệ trung thượng sĩ.
Vua Trần Anh Tông cũng có chủ đích tu đạo sau khi nhường ngôi, nhưng chưa kịp thì băng hà.
Phật giáo thực sự trở thành một thế lực tinh thần ủng hộ cho chính trị.
Và ngược lại, triều đình là một quyền lực củng cố cho Phật giáo.
Có thể nói, giai đoạn Nhân Tông là giai đoạn Phật giáo hưng thịnh cực độ ở nước ta.
Về phương diện văn hóa, Phật giáo giai đoạn này cũng là yếu tố chủ lực quyết định.
Cuộc đời tu học của Trần Thánh Tông đã tạo ra một không khí học Phật thật sự trong giới trẻ,
trí thức ở Thành Long và trong cả nước.
Tấm gương thành đạt trong Phật học của Thánh Tông và tuệ trung khi còn trẻ cũng là một động lực cho việc này.
Phật giáo đời Trần mang một tinh thần khoan dung và tự do.
Chính điều này gây nên những nét văn hóa xã hội, văn hóa dân tộc vào thời kỳ này.
Phật giáo không chỉ trích nho, lão mà để cho các giáo lý này tự do phát triển.
Trong không khí học tập tự do và cởi mở, triều đình đã ngộ hiền sĩ một cách kính cẩn,
đã phát triển sự học lên rất nhiều và cũng nhiều người tài giỏi xuất hiện.
Chính từ tinh thần dung hợp và khai phóng này của Phật giáo
mà nền học vấn thời Trần không bị rạn buộc bởi khoa cử,
thực hiện chính sách tự do tôn giáo, không phân biệt sĩ phu được đào tạo từ truyền thống giáo lý nào.
Điều đó đã xây dựng nên một nền văn học rạn rỡ và đầy ý thức tự tin.
Thi ca thời Trần vì thế mà mang ảnh hưởng sâu đậm của thiện học.
Thi sĩ nhìn sự việc bằng con mắt của người biết tỉnh tâm thiện quán.
Sinh hoạt Phật giáo cũng là một nét đáng kể trong đặc điểm văn hóa thời kỳ này.
Việc vô nhân tông, người đã đánh bại quân nguyên,
đem thịnh trị an bình về cho xã tắc, xuất gia,
khiến cả nước hướng về ngọn núi yên tử.
Việc tu luyện Phật Pháp thực sự sôi nổi trong nước.
Chùa, tháp mọc lên khắp nơi,
khiến nho gia lê bá quát đã than rằng dân chúng chỉ lo lập chùa mà không lo lập trường học, văn miếu.
Sách truyền kỳ mạng lục của Nguyễn Dữ thì nói
số người cắt tóc làm tăng ni cũng bằng nửa số dân thường.
Tất nhiên thực tế thì khó mà đến mức như vậy,
nhưng điều đó cho thấy tạm mức quá sức rộng lớn của sinh hoạt Phật giáo lúc đó.
Đến nỗi ý thức được nguy cơ tăng xỉ quá đông mà không thủ trì nghiêm túc giới luật
sẽ dẫn đến suy vong của chính giáo hội.
Phá Trúc Lâm đã in tứ thần luật và tổ chức học tập cho giới tăng xỉ về giới luật,
định ra những quy chế rõ ràng trong việc tổ chức, sinh hoạt, quản lý giáo hội.
Vào thời này, nhà chùa cũng đã thực sự trở thành một lực lượng kinh tế.
Điều này cũng dễ hiểu trước sự ủng hộ của triều đình và thế lực chính trị,
xã hội, tinh thần của Phật giáo.
Chùa triền khắp nơi đã chiếm hữu nhiều ruộng đất.
Sử sách còn ghi lại là ruộng đất được dân tặng rất nhiều cho các chùa Báo Ân,
Quỳnh Lâm, Sùng Nghiêm, Vĩnh Nghiêm, Thanh Mai, Cồn Sơn là những chùa lớn thời đó.
Riêng chùa Quỳnh Lâm đã có hơn 1.000 mẫu đất và có tới 1.000 người làm ruộng.
Lợi tức thu được từ đây có lẽ đã được sử dụng vào Phật sự và tăng sự của toàn giáo hội.
Phật giáo thời Lê đến nhà Nguyễn từ thế kỷ thứ 15 tới thế kỷ thứ 20.
Sau thời kỳ cực thịnh của Phật giáo từ đời Lý cho đến cuối đời Trần,
đến đời Trần thiếu đế thì bị Hồ Quý Ly ép phải nhường ngôi để lập nên Triều đại nhà Hồ.
Nhưng sau đó nhà Minh đem quân đánh nhà Hồ và đặt ách thống trị Đại Việt.
Nhà Minh thực hiện chính sách đô hộ tàn ác và trao tịch thu kinh sách Phật giáo
đốt phá chùa triền ở đầu thế kỷ thứ 15.
13 năm sau Bình Định Vương Lê Lợi với sự tha mưu của Nguyễn Trãi
đứng lên phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh giành lại độc lập và lập nên nhà Hậu Lê.
Từ đó lịch sử Việt Nam có thể chia làm 3 giai đoạn.
Giai đoạn nhà Lê trị vì từ năm 1427 tới năm 1527.
Lê Lợi chiến thắng giặc ngoại xâm và lên ngôi vua
đã đánh dấu bước chuyển quan trọng trong đời sống xã hội Việt Nam.
Trên lĩnh vực tôn giáo, Phật giáo đã nhường bước cho nho giáo.
Điều này chủ yếu do đời sống chính trị xã hội Việt Nam quy định.
Đó là phải xây dựng củng cố nhà nước phong kiến, kỹ cương xã hội
mà nho giáo có khả năng đáp ứng được.
Tuy nhiên, nho giáo chỉ phổ biến chủ yếu ở tầng lớp trên của xã hội
còn ở đài bộ phận dân cư tác động của Phật giáo lại khá lớn.
Thời kỳ này Phật giáo dung nạp 3 yếu tố
tịnh, thiền, mật kết hợp cả tự độ, tự giác và giác tha.
Bên cạnh đó nhà Lê hạn chế tổ chức thi cử,
Nhìn chung vai trò Phật giáo thời này đã bị giảm xúc so với trước.
Phật giáo không trực tiếp tham gia vào việc triều chính như trước
mà chủ yếu ảnh hưởng trong đời sống dân chúng.
Vào thời kỳ Trịnh Nguyễn Phân Tranh,
2 đàn trong, đàn ngoại với 2 hoàn cảnh xã hội khác nhau.
Đàn ngoại xã hội suy nên Phật giáo cũng không phát triển
trong khi đàn trong thì xã hội ngày một hưng thịnh.
Cuộc sống nhân sinh trong thời kỳ đất nước suy vi
cũng đã làm nhiều người quay về với đạo Phật.
Đối với quân chúng, sự phản tĩnh này chỉ như một nguồn an ủi tâm linh
làm nơi nương tựa tinh thần để vơi đi những khổ đau
đang chế ngự trong lòng người dân Việt.
Đối với vua quang, họ quy hướng vào đạo Phật và ủng hộ đạo Phật
nhưng đây chỉ là nơi để tạo dựng công đức cho dòng họ
Tuy nhiên, sự phản tĩnh của quân chúng và tầng lớp cai trị
đã tạo thành một môi trường thuận tiện cho sự phục hưng của Phật giáo.
Sự phục hưng này được đẩy mạnh nhờ 2 động lực.
Thứ nhất là có nhiều cao tăng từ Trung Hoa qua Đại Việt hành đạo
đem qua một nguồn sinh lực cho đạo Phật Việt Nam,
đặc biệt lúc này là Phật giáo đàn trong.
Thứ hai là tầng lớp trí thức, đứng trước bao cảnh dâu bể
của nhiều triệu đại kế tiếp nhau đã bắt đầu xoay sang nghiên cứu Phật học
rồi nhiều người đã xuất gia để trở thành một nguồn nhân lực mới
cho cuộc phục hưng Phật giáo.
Từ năm 1788 đến năm 1802, nhà Nguyễn Tài Sơn thống nhất đất nước
kéo dài 14 năm sau cái chết của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ.
Nằm trong tiến trình của cuộc đại cách mạng canh tân đất nước,
Phật giáo được cải cách bằng cách dẹp bỏ những chùa nhỏ
ở các làng giớm để tập trung vật liệu xây ở mỗi phủ,
huyện một ngôi chùa thật to lớn đẹp đẻ, khang trang
và cho mời những tăng sĩ có học thức và đạo đức đến trụ trì và hành đạo,
còn những người không xứng đáng phải hoàng tục.
Việc cải cách này xuất phát từ tình trạng lãm phát chùa triền
và thói hóa của tăng sĩ trong thời trịnh Nguyễn Phân Trăng.
Tuy cải cách này không mấy phù hợp với Phật giáo,
vì Đạo Phật là một tôn giáo lan rộng khắp phố vườn,
làng mạc, bàn bạc trong nhân gian không thể quy tụ như công sở.
Nhưng dù sao thì đây cũng chỉ nằm trong nỗ lực nhằm thanh lọc và phát triển Phật giáo
trong cả một chương trình phát triển đại quy mô.
Nhưng vì vô quan trung mất sớm,
nên sự cải cách Phật giáo không có được một kết quả nào rõ rệt.
Tiếp đến là giai đoạn nhà Nguyễn-Gia Long kéo dài từ năm 1802 đến năm 1945.
Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn,
triều đình Nguyễn-Gia Long đã thực hiện hành động trả thù tàn bạo và khốc liệt của Nguyễn Ánh
đối với các lĩnh tụ của phong trào Tây Sơn như quật mộ Nguyễn Nhạt và Nguyễn Huệ,
con của vua quan trung và công chúa Ngọc Hân,
cùng các danh tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân
và các tướng lãnh khác cùng vợ co,
kẻ thì bị xẻo thịt, chém đầu, vòi dày xé xác.
Do chính sách của Nguyễn Ánh,
sự ảnh hưởng của tôn giáo có hại cho chính trị,
nên Phật giáo không được ưu đải.
Giai đoạn này, triều Nguyễn đọc tôn nhò học,
do đó mặc dù các chùa trong nước rất nhiều,
nhưng hoạt động riêng rẻ, không có một tổ chức,
hệ thống liên lạc nhặt nhẽ với nhau,
sự giao lưu phát triển về Phật học cũng suy giảm.
Đến thời Pháp thuộc, từ năm 1858-1945,
Việt Nam bị chia làm ba miền
và chính quyền bảo hộ tìm mọi cách phát triển công giáo,
thì Phật giáo Việt Nam càng bị chàng ép,
một số ngôi chùa lớn cũng bị phá hủy.
Phật giáo Việt Nam đã trải qua thời kỳ cực thịnh nhất
dưới hai triều đại lý Trần,
sang đến thời Hậu Lê, rồi Nguyễn Triều,
thì Phật giáo phải nhường bước cho nhà giáo,
lúc ấy đang chiếm vai trò độc tôn.
Triều đại nhà Nguyễn truyền đến đời Vua Tử Đức
thì mất chủ quyền, nước ta rơi vào vòng đổ hộ của Pháp.
Phật giáo Việt Nam vốn đã suy vi,
này là điêu tàng hơn.
Cho đến khoảng những năm 1920-1930,
trong không khí tưng bừng của phong trào
chấn hưng Phật giáo trên thế giới,
đặc biệt ở Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ và Miếng Điện,
một số tăng sĩ và cư sĩ đã phát động
phong trào chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam,
từ đó đưa đến sự thành lập
các tổng hội Phật giáo Việt Nam
tại miền Bắc vào năm 1934.
Ở miền Trung, Hội An Nam Phật học
cũng ra mắt vào năm 1934.
Ở Bình Định, có Hội Phật học Bình Định.
Ở Đà Nẵng, có Hội Phật học Đà Thanh.
Ra tạp chí Tam Bảo.
Nhờ phong trào chấn hưng Phật giáo này,
mà đội ngũ tăng ni được đào tạo
qua nhiều trường lớp và phát triển nhiều
ở các tỉnh. Chùa chiên được xây dựng khắp nơi,
nhất là hệ thống chùa Phật học ở các thành thị.
Nhiều ngôi chùa ở làng xã được trụng tu
Đến tháng 11 năm 1981,
sau 6 năm đất nước thay đổi thể chế,
một hội nghị với 165 đại biểu
của chính tổ chức giáo hội hệ phái cả nước
đã hợp tại Chùa Quán Sứ Hà Nội
đưa đến việc thành lập
Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Đến nay, đạo đức Phật giáo đã thật sự
bám rễ vào đời sống tinh thần của dân tộc,
ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm lý,
phong tục, tập quán, lối sống
của con người Việt Nam.
Đối với nhiều người Việt,
khi nhắc đến Phật giáo,
không chỉ là nhắc đến hệ tư tưởng giáo lý cao siêu,
mà còn là nhắc đến một nhân cách sống lý tưởng,
một điều gì đó bình dị, gần gũi
với tâm tư tình cảm của họ như
làm lành tránh giữ, từ bi hỉ xả,
vô ngã vị tha, không hận thù, oán trách.
Đời sống tinh thần,
phong tục tập quán của người Việt Nam
cũng bị ảnh hưởng bởi tư tưởng đức Phật,
chẳng hạn như hiền như Bụt,
từ bi như Bồ Tát, ác giả ác báo,
thiện giả thiện báo,
hay ca dao có câu, ai ơi ăn ở hiền lành,
kiếp này không hưởng để dành kiếp sau.
Giáo sư Trần Văn Dào có viết,
tính ngưỡng Phật giáo phổ biến
trong đại đa số nhân dân,
người không biết gì về trích lý cao xa của Phật,
mà chỉ biết cầu phúc,
chỉ biết chuyện quả báo lương hồi.
Từ lâu rồi, trích lý Phật giáo
trở thành một thứ đạo đức bác học,
từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn,
là hạt nhân, chúng sinh có thể hiểu được,
làm được, không cao xa rắc rối
như trích lý Phật giáo Nguyên Thủy,
tự thân tích đức ở kiếp này
để an vui, hưởng phúc ở kiếp sau.
Có thể nói, các giá trị đạo đức của Phật giáo
là một bộ phận không thể thiếu
và rất phù hợp với đạo đức truyền thống
của người Việt Nam.
Chúng được biểu hiện ở một số điểm.
Một là tính nhân văn, nhân bản,
lấy con người làm trung tâm.
Đạo Phật luôn đầy cao vị trí và vai trò của con người.
Điều này khác biệt với tôn giáo khác
khi họ thừa nhận vai trò tối cao
của Thần Linh trong việc quyết định số phận
của con người.
Đức Phật nói, ta là Phật đã thành,
chúng sanh là Phật sẽ thành.
Chính vì xem con người là trung tâm
nên toàn bộ giáo lý Phật giáo đều hướng tới
các giá trị đạo đức nhân sinh của con người.
Hai là tôn trọng lợi ích
và nhân phẩm của người khác.
Tinh thần này được thể hiện
qua ngũ giới, không xác sinh,
không trộm cắp, không tà giăm,
không nói dối, không uống rượu của Đức Phật
nhằm thiết lập trực tự,
an vui, hòa bình cho gia đình,
xã hội và quốc gia.
Ngũ giới của nhà Phật rất phù hợp
với chính sách của đảng và nhà nước ta
trong tình hình mới, giúp cho xã hội ổn định,
giảm bớt các tên nạn xã hội,
các giá trị đạo đức truyền thống được phát khuyên.
Ba là hướng đến một nền hòa bình
cho quốc gia và thế giới.
Đạo đức Phật giáo với tư tưởng từ bi,
hỷ xã, vô ngã vị tha,
luôn đề cao và tôn trọng sự sống của mọi người mọi loài.
Vì vậy, Đạo Phật luôn hướng đến
sự an lành và hòa bình
cho mọi quốc gia và thế giới,
phản đối các cuộc chiến tranh xâm lực,
phản đối việc sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt,
kêu gọi phóng xanh, bảo vệ môi trường sống.
Điều này có điểm tương đồng và phù hợp
với truyền thống yêu chủng hòa bình của dân tộc.
Như vậy, cho đến ngày nay,
đạo đức Phật giáo vẫn đã
và đang ảnh hưởng mật thiết
đến đạo đức con người Việt Nam.
Con đường trở thành Phật tử
Như thế nào là một Phật tử?
Một người theo đạo Phật,
Phật tử là người sống và thực hành
theo những lời dạy, giáo lý của Đức Phật.
Nói theo kiểu dân gian,
Phật tử là người đã, đang,
hay bắt đầu tu tập cho tâm tính thiện lành hơn
để trở thành người tốt hơn
đối với bản thân mình và mọi người xung quanh.
Họ cố gắng giảm bớt những tâm tính xấu
trong tâm như tham lam, sân hận.
Họ cũng đang tập sống theo những giới hành
đạo đức theo như lời khuyên dạy của Đức Phật.
Làm thế nào để trở thành một Phật tử?
Có hai cách để trở thành một Phật tử.
Cách chính thức và cách không chính thức.
Cách chính thức là
Việc cam kết bản thân cố gắng sống
theo những lời khuyên dạy của Phật
là hành động mong muốn trở thành một Phật tử.
Hành động đó thường được gọi là
Quy y theo Đạo Phật,
tức là tin tưởng nương tựa vào Đức Phật,
giáo pháp và tăng đoàn tu sĩ.
Đó là tam bảo, ba viên ngọc bảo của Phật giáo.
Tất cả được bắt đầu bằng
ba hành động tự giác của mình là
lễ lại Đức Phật, chấp nhận quy y,
tam bảo chấp nhận sống theo
năm giới hành trong Đạo Phật.
Không cần thiết phải có những nghi lễ chính quy
cho việc trở thành một Phật tử
bởi vì Đạo Phật nhấn mạnh sự thực hành giáo pháp
chứ không đề cao những nghi lễ
hay tục lệ.
Còn cách không chính thức là bạn có thể ở nhà,
ở bất cứ nơi đâu, trước một hình
hay một tượng Phật, hoặc không có gì.
Bạn chỉ cần quy hay ngồi xuống,
đọc những câu trên một cách thành tâm
như một lời hứa với chính bản thân mình
thì bạn cũng đã trở thành một Phật tử.
Cũng vì tính linh động
trong việc thực hành Phật giáo
nên tồn tại cả Phật tử tại gia
và các tu sĩ Phật giáo.
Với các Phật tử tại gia,
họ cũng làm việc, có gia đình
và trải qua những thăng trầm của cuộc đời.
Một số Phật tử khác thì có tâm nguyện cao hơn.
Họ rời xa gia đình, cha mẹ,
thậm chí vợ con để giúp gia trở thành
một tu sĩ, cống hiến toàn bộ cuộc đời
để tu tập theo giáo lý của Đức Phật
với mong muốn giác ngộ
và giải thoát sớm hơn.
Họ thường gia nhập vào những tăng đoàn,
nam hay ni đoàn, nữ.
Phần lớn số lượng Phật tử trên thế giới
là Phật tử tại gia.
Tổng kích lại, thông qua câu chuyện
về hành trình phát triển, tầm ảnh hưởng của Phật giáo
ở Việt Nam, người viết hy vọng có thể đem đến
một góc nhìn toàn cảnh hơn về ý nghĩa
thật sự của Đạo Phật.
Bởi điều đáng buồn là dù Phật giáo hướng đến
sự giải thoát khỏi những tham sân si,
thì việc thực hành Phật giáo của nhiều người
hiện tại lại là một mưu cầu
cho chính sự tham sân si ấy.
Sự phát triển của Phật giáo ở xã hội hiện đại
vì vậy nên được nhìn nhận như thế nào?
Câu hỏi này
mình mong sẽ được cùng các bạn bàn luận.
Hy vọng là các bạn thích video lần này.
Đừng quên like, share và subscribe ủng hộ chúng mình.
Và nếu như các bạn thích những nội dung như trên,
hãy đăng nhập vào spyroon.com để tìm đọc thêm.
Xin chào và hẹn gặp lại.
Mình là Nguyễn Lê Minh Thi.
