TRUMP GÂY SỨC ÉP, VIỆT NAM CHỌN HOA KỲ, TỪ BỎ TRUNG QUỐC?

Góc Nhìn Lê Minh
705 người theo dõi
2.6K Lượt xem video·10 thg 4, 2025
Thưa quý vị, ngày 6 tháng 4 năm 2025, một tuyên bố bất ngờ được phát đi từ Hà Nội,
Việt Nam sẵn sàng đàm phán để giảm thuế nhập khẩu hàng hóa từ Hoa Kỳ xuống 0%
theo khẳng định của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn với Đại sứ Mỹ Mark Napple
trong một cuộc gặp cấp cao tại Hà Nội.
Không chỉ dừng lại ở đó, trước đó một ngày, ngày 5 tháng 4,
Việt Nam đã cập nhật với Tổ chức Thương mại Thế giới WTO về khuôn khổ pháp ly mới
và nỗ lực hợp tác trong việc áp dụng quy tắc xuất xứ,
đồng thời tái khẳng định cam kết minh bạch và thương mại công bằng.
Với giới quan sát, những động thái này không phải là tín hiệu kỹ thuật hay động thái ngoại giao thông thường,
chúng là bước ngoặt trong chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam,
phản ánh một sự chuyển mình quyết liệt và có thể là không có đường lùi.
Trong bối cảnh cuộc chiến thương mại do Tổng thống Mỹ Donald Trump khơi lại
với tâm điểm là việc áp thuế trừng phạt lên các quốc gia bị cho là trung chuyển hàng Trung Quốc để né thuế Mỹ.
Tại sao Việt Nam lại tự nguyện giảm thuế với Mỹ,
điều chưa từng xuất hiện trong bất kỳ FTA song phương hay đa phương nào trước đây?
Phải chăng đây là sự nhượng bộ trước áp lực,
hay là một chiến lược đánh đổi để giữ vai trò then chốt trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu?
Và nếu Việt Nam thực sự đang đứng trước bàn đàm phán,
đòn bầy của Hà Nội là gì trong khi quyền lực đàm phán đang nghiêng về Washington?
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng phân tích sâu câu chuyện này thưa quý vị.
Mỹ thực sự muốn gì từ Việt Nam?
Bề mặt của chính sách thuế quan là thương mại, nhưng thực chất, với Donald Trump và đội ngũ cố vấn kinh tế quốc gia Hoa Kỳ,
thuế quan là vũ khí để tái câu trúc trật tự toàn cầu, nơi Hoa Kỳ không chỉ muốn cắt giảm nhập siêu,
mà còn kiểm soát chuỗi cung ứng, tái lập ưu thế sản xuất công nghiệp và cô lập Trung Quốc khỏi hệ thống kinh tế phương Tây.
Và trong ván bài đó, Việt Nam xuất hiện như một mắt xích nhạy cảm,
khó kiểm soát nhưng lại cực kỳ quan trọng.
Từ năm 2018, ông Trump đã dùng thuế quan như là đòn trừng phạt không chỉ với Trung Quốc,
mà với cả các nước bị xem là hưởng lợi gián tiếp từ sự lẩn tránh của Trung Quốc.
Câu chuyện này không mới, nhưng giờ đây, với nhiệm kỳ thứ hai đang định hình,
Tổng thống Trump một lần nữa tăng tốc chiến dịch TriQuest, trạm trung chuyển, trong đó Việt Nam là cái tên nổi bật nhất.
Bản chất chiến lược này gồm ba tầng ý nghĩa.
Một là tăng thuế trực tiếp lên Trung Quốc, đẩy chi phí hàng hóa Trung Quốc tại Mỹ lên cao.
Hai là truy vết quy tắc xuất xứ, phát hiện hàng hóa Trung Quốc được gắn nhãn Made in Vietnam hoặc Made in Thailand để né thuế.
Và thứ ba là áp thuế thứ cấp lên các nước không kiểm soát nguồn gốc rõ ràng như một biện pháp cảnh cáo.
Việt Nam, nơi có lượng đầu tư FDI Trung Quốc tăng mạnh kể từ năm 2019,
có nhiều dây chuyền sản xuất có tỷ lệ nội địa hóa thấp và hệ thống kiểm soát xuất xứ còn khá lòng lẻo.
Hoa Kỳ xem đây là một mắt xích mờ trong chuỗi công an toàn cầu,
nơi có thể bị lạm dụng bởi các công ty Trung Quốc.
Rất nhiều nhà phân tích mắc sai lầm khi cho rằng Mỹ chỉ cần Việt Nam kiểm soát tốt xuất xứ là đủ.
Nhưng sự thật là, Washington muốn nhiều hơn thế. Họ muốn Việt Nam rút khỏi vùng sám giữa Trung Quốc và Mỹ.
Phía Mỹ yêu cầu minh bạch về đầu tư Trung Quốc tại Việt Nam. Ai sở hữu, sản phẩm đó đi đâu.
Họ cũng thúc Việt Nam ký các điều khoản về chống lần tranh thuế, với ràng buộc kiểm tra nguồn gốc gắt gao.
Và cuối cùng là thúc Việt Nam mờ rộng nhập khẩu từ Mỹ, đặc biệt là nông sản,
năng lượng và hàng tiêu dùng để giảm nhập siêu Mỹ đang chịu.
Việt Nam không chỉ là nơi sản xuất dây, áo, điện thoại, mà còn là nơi định hình bản đồ ảnh hưởng của Mỹ tại châu Á.
Trong mắt Trump, thúc ép Việt Nam mở cửa thị trường là cách buộc Việt Nam phải chọn phe mà không cần thông qua đàm phán an ninh.
Dù Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 7 của Hoa Kỳ, hai bên chưa có một hiệp định thương mại tự do song phương nào.
Việt Nam cũng không nằm trong các trục chiến lược kinh tế của Mỹ như USMCA, Canada, Mexico Mỹ
hay IPEF, khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương có điều kiện giảng bược sâu.
Hệ quả là Việt Nam được xem như là một điểm trung truyền có rủi ro không kiểm soát,
nhất là khi quá trình sản xuất dễ bị thao túng từ phía Trung Quốc.
Các tập đoàn Mỹ như Apple, Intel, Tesla đều có nhà máy ở Việt Nam,
nhưng vẫn phàn nàn về chi phí hạ tầng, pháp lý, logistics và thủ tục thuế trông chéo.
Để duy trì đầu tư và tránh mất thị trường Mỹ, Việt Nam cần thể hiện vai trò là một mắt xích đáng tin cậy,
chứ không phải là một vùng sám.
Thu thực, kể từ khi quay trở lại chiến dịch tranh cử cho đến nay thì ông Trump luôn nhấn mạnh
đến khẩu hiệu American Trade for American Workers, và Việt Nam dù không hề có ý đối đầu
vẫn bị đặt lên bàn cân như một biểu tượng thâm hụt thương mại cần xử lý.
Thâm hụt thương mại song phương Mỹ-Việt năm 2024 ước tính lên tới 105 tỷ đô la,
cao nhất trong nóm các nước không bị áp thuê nặng.
Các bang nông nghiệp và công nghiệp Mỹ gây sức ép lớn yêu cầu Việt Nam nhập thêm hàng Mỹ,
đặc biệt là độ tương, khí hóa lỏng, LNG và thiết bị y tế.
Tổng thống Trump biết rằng ép Việt Nam giảm thuê về 0% không chỉ là kinh tế mà còn là một điểm
cộng với cử tri rằng, tôi đã khiến họ nhượng bộ. Như vậy, có thể thấy Hoa Kỳ đang chơi ván cờ dài
và Việt Nam là mắt xích không thể phất lở. Từ thương mại đến chính trị, từ chỗ cung ứng đến cạnh tranh
ảnh hưởng với Trung Quốc, Hoa Kỳ đang xem Việt Nam là một điểm giao thoa có giá trị chiến lược cao.
Nhưng cũng vì thế, họ sẽ không dễ bùng bỏ. Nếu Việt Nam không chủ động đề xuất thỏa thuận,
Hoa Kỳ sẽ áp đặt luật chơi. Và động thái chủ động ngày 5-6 tháng 4 vừa qua của Việt Nam
là một nước đi trước để không bị rôn và thấy bị động.
Vì sao Việt Nam chủ động đề xuất giảm thuê? Ngày 6 tháng 4, khi Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao
Bùi Thanh Sơn tuyên bố Việt Nam sẵn sàng đàm phán để giảm thuê nhập khẩu từ Hoa Kỳ xuống 0%,
thì đó không đơn thuần là một cử trí thiện trí ngoại giao.
Đó là một nước cờ chủ động, quyết liệt và có thể nói là không còn đường rút lui.
Việt Nam từng chọn cách đi chậm, hòa hoãn, tránh dính đòn trong các cuộc đối đầu thương mại lớn,
giờ đây buộc phải chọn bên, chấp nhận mở toan cánh cờ nhập khẩu để giữ một vai trò
trong ván cờ kinh tế toàn cầu mới.
Như chúng ta đã biết, trong suốt hơn một thập kỷ, Việt Nam duy trì chính sách thương mại đa phương hóa,
tránh đối đầu, không chọn phe, đồng thời tận dụng các hiệp định tự do thương mại FTA
để tiếp cận thị trường mà không đánh đổi quá nhiều về mặt chính trị.
Chiến lược đó từng giúp Việt Nam trở thành người thắng thầm lặng trong cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung 2018-2020.
Nhưng đến năm 2025, cung diện đã thay đổi hoàn toàn, Hoa Kỳ không còn chấp nhận vùng sám.
Các nước như Mexico, Malaysia, Thái Lan, thậm chí cả Singapore đều bị rà soát chuỗi cung gứng gắt gào.
Trong cùng lúc gia tăng biện pháp chống lẩn tranh thuế, WTO mất dân ảnh hưởng, tính chất chuyển tiếp sản xuất bị nghi ngờ.
Hoa Kỳ đang muốn biết ai là chủ đầu tư thực sự, ai kiểm soát công nghệ và nguồn nguyên liệu đến từ đâu.
Tức là khoảng trống để Việt Nam lách giữa các cường quốc đã đóng lại.
Nếu không chọn đứng về phía một bên, Việt Nam sẽ bị cả hai bên ép và thiệt hại nặng nề.
Trong các báo cáo mới nhất của văn phòng đại diện thương mại Hoa Kỳ USTR,
Việt Nam thường xuyên bị nêu tên như là một điểm trung chuyển tiềm năng cho hàng hóa của nguồn gốc từ Trung Quốc.
Đặc biệt là trong lĩnh vực linh kiện địa tử, nhiều bo mạch và bán thành phẩm từ các khu vực
như Quảng Đông và Thâm Quyến đã được đưa sang Việt Nam để lắp dắp sơ bộ.
Trong ngày dệt may, phần lớn nguyên liệu đầu vào như vải và sợi polyester cũng có nguồn gốc và xuất xứ từ Trung Quốc.
Đối với đồ gỗ nội thất, thì ngày càng nhiều doanh nghiệp Trung Quốc xây dựng các nhà máy vệ tinh tại Việt Nam
để sản xuất sản phẩm mang hàng nhãn Made in Vietnam nhằm tận dụng các ưu đại thương mại và né tránh thuế quan của Hoa Kỳ.
Một khi Mỹ chính thức đưa Việt Nam vào danh sách chạm né thuế, hậu quả sẽ rất lớn.
Thuế trừng phạt lên đến 25-46% sẽ được áp cho toàn bộ các mặt hàng nghi ngờ.
Danh tiếng Việt Nam với nhà đầu tư toàn cầu cũng sẽ bị tổn hại nghiêm trọng.
Dòng FDI từ Mỹ vốn đang tăng nhanh sau làn sóng chuyển dịch, sẽ trứng lại hoặc ru lùi.
Hiện tại Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam,
chiếm khoảng 28% tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2024, tương đương hơn 100 tỷ USD mỗi năm.
Trong đó, nhiều ngành chủ lực phụ thuộc lớn vào thị trường Mỹ.
Cụ thể, ngành dệt may và da dày có tới 40-50% sản lượng xuất khẩu được tiêu thụ tại Mỹ.
Nhóm hàng điện tử và linh kiệm điện thoại cũng tăng trưởng mạnh sau năm 2021,
khi các tập đoàn lớn như Apple, Samsung, LG mở rộng dây chuyền sản xuất tại Việt Nam để phục vụ thị trường này.
Với mặt hàng nội thất và đồ gỗ, Việt Nam hiện là nhà xuất khẩu lớn thứ hai vào Mỹ chỉ sau Trung Quốc.
Một cuộc đánh thuế từ Mỹ sẽ không chỉ làm giảm kim ngạch xuất khẩu mà còn gây chấn động chuỗi cung ứng nội địa,
đe dọa việc làm của hàng triệu lao động, đặc biệt ở các tỉnh công nghiệp phía Bắc và miền Trung.
Vì vậy, Việt Nam phải đi trước một bước, chủ động mở đàm phán để giữ lại thị trường quan trọng nhất.
Việt Nam hiểu rõ nếu cứ chờ bị đánh thuế thì mọi đàm phán sẽ diễn ra trong thời yếu.
Do đó, lời đề nghị giảm thuế nhập khẩu hàng hóa Mỹ xuống 0% không đơn giản là sự nhút nhường
mà là tín hiệu thiện trí mạnh mẽ cho thấy Việt Nam sẵn sàng tuân thủ luật chơi toàn cầu, đặc biệt với Hoa Kỳ.
Và đây cũng là chiến lược phòng ngừa trước đòn trừng phạt bằng cách làm rõ rằng Việt Nam không phải là kênh né thuế
mà là đối tác thực sự. Khi đã giảm thuế cho hàng Mỹ, Việt Nam có quyền yêu cầu Mỹ không áp thuế trừng phạt,
thậm chí cân nhắc đàm phán FTA song phương trong tương lai.
Việt Nam không đi vào bàn đàm phán vì yếu mà vì chủ động nhìn thấy bức tranh lớn,
hoặc là tham gia từ sớm để giữ vai trò chủ động, hoặc là đứng ngoài và bị cuốn vào vòng xoáy trừng phạt.
Đề xuất giảm thuế là một lá bài tấn công mềm, mở cửa trước để đổi lấy cam kết không trừng phạt từ phía Hoa Kỳ.
Việt Nam có sự lựa chọn nào khác không?
Với Việt Nam, sau khi đề xuất mở cửa giảm thuế cho Mỹ xuống 0%, câu hỏi đặt ra là liệu đó có phải là một hành động
không còn sự lựa chọn nào khác,
hay Việt Nam vẫn có thể xoay trục sang những cánh cửa khác như là EU, Trung Quốc, ASEAN hoặc là toàn cầu hóa kiểu mới?
Giả sử chọn châu Âu, Hiệp định EVFTA, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU
được coi là một trong những thành tựu thương mại lớn của Việt Nam trong thập kỷ qua.
Tuy nhiên, kỳ vọng rằng EU có thể thay thế vai trò của Hoa Kỳ trong xuất khẩu và FDI là thiếu thực tế,
bởi vì khối này là thị trường phân mảnh, với nhiều tiêu chuẩn, giao cản, kỹ thuật.
Quy định ESG, môi trường xã hội quản trị khắt khe mà doanh nghiệp Việt chưa kịp thích nghi.
Đồng thời, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang EU cũng đang chứng lại,
trong khi thị phần của Trung Quốc tại đây ngày càng lớn.
Hơn nữa, EU không đầu tư mạnh mẽ vào công nghiệp chế tạo, điện tử và công nghệ cao tại Việt Nam,
ngược lại với Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Mặt khác, không có sức ép chính trị từ EU như Mỹ nên Việt Nam khó dùng đàm phán thương mại để mặc cả chính sách.
Cho nên, EU là đối tác quan trọng với biểu tượng,
nhưng mà không đủ để thay Mỹ về chiến lược và dòng tiền thực tế.
Thế còn chọn Trung Quốc thì sao?
Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam,
chiếm khoảng 28% tổng kim ngạch thương mại 2 triệu năm 2024, đạt 260 tỷ USD.
Nhưng khả năng chuyển hướng sang Trung Quốc để thay thế Mỹ là một nước cờ nhiều rủi ro.
Việt Nam nhập siêu lớn từ Trung Quốc dẫn đến mất cân đối kinh tế.
Trung Quốc lại đang khủng hoảng cấu trúc với bất động sản xuất đồ, niềm tin tiêu dùng thấp, thặng dư sản xuất.
Mỹ và EU đang theo dõi chặt các nước được xem là cửa sau của Trung Quốc.
Nếu Việt Nam trở nên quá gần với Bắc Kinh thì sẽ bị xét chặt hơn về thuế và công nghệ.
Về chiến lược dài hạn, giang buộc quá mức với Trung Quốc là mất khả năng mặc cả trong chính sách đối ngoại,
đẩy Việt Nam vào thế bị lệ thuộc.
Do vậy, cũng không thể chọn Trung Quốc như là một lối thoát thương mại,
mà phải coi Trung Quốc là một biến số cần kiểm soát.
Vậy còn ASEAN và khu vực thì sao?
Vâng, ASEAN là một khu vực bình ổn trong thương mại Việt Nam, với các FTA như là RCEP, AAN, GFTA.
Nhưng xuất khẩu sang ASEAN chiếm chưa tới 10% tổng kim ngạch, và chủ yếu là nguyên liệu thô,
nông sản, điện thoại lắp dắp, không tạo ra giá trị gia tăng cao.
Các nước ASEAN khác như Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Philippines
đang cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam trong việc thu hút FDI và chuỗi cung ứng mới.
Chưa có một thị trường nào trong ASEAN có thể thay thế vai trò nhập khẩu then chốt như Mỹ,
cả vì quy mô, khả năng chi trả lẫn công nghệ.
Cho nên thì ASEAN cũng chỉ là bàn đệm ổn định,
chứ không phải là bến đỗ thay thế trong trường hợp Việt Nam mất thị trường Mỹ.
Một số học giả và cố vấn kinh tế đề xuất rằng Việt Nam nên đa dạng hóa thị trường xuất khẩu
bằng cách tham gia các hiệp định thương mại kỹ thuật số ESG,
hoặc tham gia sâu hơn vào IPEF, CPTPP, hoặc các hiệp định mới ở Châu Phi, Nam Mỹ, v.v.
Tuy nhiên hiện tại, Việt Nam chưa đủ năng lực công nghệ, thương hiệu và vốn chính trị
để tận dụng các hiệp định này. CPTPP đã có, nhưng xuất khẩu sang Canada, Mexico vẫn rất hạn chế.
IPEF thì vẫn là khung chính sách chưa có cam kết thuế quan,
và Hoa Kỳ cũng không hứa mở cửa thị trường nhiều hơn.
Việc chuyển đổi số ESG tiêu chuẩn xanh đang còn rất sơ khai tại doanh nghiệp Việt Nam,
nhất là SME, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này nói lên một vấn đề, dù đầy tiềm năng,
toàn cầu hóa kiểu mới là một hành trình dài, Việt Nam chưa thể dùng nó để thay thế thị trường Hoa Kỳ
trong 5 năm tới. Trong bối cảnh đó, việc chủ động mở đàm phán giảm thuế nhập khẩu với Mỹ là một nước
cờ phòng ngự có chiều sâu, nhằm giữ lại thị trường lớn nhất và có giá trị cao nhất,
củng cố vị thế trong chuỗi khung hướng toàn cầu, và mở ra khả năng đàm phán FTA song phương
với Mỹ trong trung hạng. Đòn 7 của Việt Nam trong đàm phán với Hoa Kỳ
Vâng thưa quý vị, trong mọi cuộc đàm phán thương mại, đặc biệt là với những đối tác lớn như Hoa Kỳ,
bên yếu hơn về kinh tế thường bị đặt vào thế phải nhượng bộ, nhưng điều đó không có nghĩa là hoàn toàn mất thế.
Với Việt Nam, thực tế là tuy quy mô GDP và xuất khẩu nhỏ hơn nhiều lần so với Mỹ,
nhưng Hà Nội vẫn có ít nhất 5 đòn 7 chiến lược mạnh mẽ để giữ vững bàn đàm phán,
thậm chí mặc cả ngược lại một cách hiệu quả. Không phải ngẫu nhiên, mà cả ba đời Tổng thống Mỹ
gần đây, Barack Obama, Donald Trump hay là Joe Biden, đều nâng cấp quan hệ với Việt Nam.
Lý do không nằm ở thương mại thuần túy, mà ở vai trò địa chiến lược của Việt Nam trong khu vực.
Việt Nam nằm ngay trung tâm của chuỗi cung ứng Đông Nam Á, giữa hai điểm nóng là eo biển Malacca
và Biển Đông. Việt Nam là quốc gia có biên giới đất liền với Trung Quốc, nhưng lại có quan hệ
ngoại giao sâu với phương Tây, và cũng là quốc gia ASEAN duy nhất có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện
với cả Hoa Kỳ và Trung Quốc tính đến năm 2025. Với Hoa Kỳ, Việt Nam chính là bàn đạp kinh tế
lẫn chiến lược để kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc tại Đông Nam Á. Không một quốc gia nào trong khu vực,
kể cả Thái Lan hay Singapore, có đủ sự độc lập về chính sách như Việt Nam. Mỹ cần giữ Việt Nam
gần mình hơn là đẩy xa. Đó là lý do Hà Nội có thể mặc cả sâu hơn về điều kiện thương mại.
Một đòn bày nữa, đó là chuỗi cung ứng. Thực tế, Việt Nam đang trở thành trục sản xuất mới
của Silicon Valley Đông Á, và nếu Mỹ muốn tách hẳn Trung Quốc khỏi chuỗi cung ứng công nghệ,
không có Việt Nam thì không thể thành công. Nếu Việt Nam bị Mỹ áp thuế, các chuỗi cung ứng Mỹ
đang đặt tại Việt Nam cũng bị tổn hại. Đây là điểm Hà Nội có thể tận dụng để yêu cầu được đối xử
công bằng trong chí sách thương mại.
Đòn bày thứ ba là công nghệ nhân lực. Hoa Kỳ muốn di rời sản xuất bán dẫn AI, công nghệ cao ra khỏi Trung Quốc.
Việt Nam đáp ứng được dân số trẻ, nhân lực kỹ thuật cao. Mỗi năm Việt Nam có hơn 50.000 kỹ sư
công nghệ thông tin, hàng trăm ngàn kỹ sư điện, điện tử tốt nghiệp. Chi phí lao động thấp hơn Trung Quốc,
môi trường chính trị ổn định hơn Malaysia, Ấn Độ. Việt Nam đang hình thành hệ sinh thái công nghệ hỗ trợ,
đặc biệt tại Bắc Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, v.v.
Mỹ không thể rút chuỗi sản xuất công nghệ khỏi Việt Nam trong ngắn hạn mà không làm đứt gãy chuỗi khung ngững.
Đây là lợi thế chiến lược mềm cho Việt Nam trong thương lượng.
Khác với Mexico, gần Mỹ nhưng bị ảnh hưởng bởi tội phạm và bất ổn, hay Malaysia, gần Trung Quốc
cả về thương mại lẫn lập trường chính trị, Việt Nam mang đến một mô hình nước nhỏ, trung lập, hiệu quả và đáng tin cậy,
điều mà Washington luôn tìm kiếm ở khu vực châu Á.
Việt Nam hội tụ các tiêu chí, không phải đồng minh quân sự của Mỹ nhưng sẵn sàng hợp tác,
không chống Trung Quốc nhưng không để Trung Quốc kiểm soát, không tham vọng chính trị toàn cầu nhưng có vai trò kỹ thuật sản xuất trong chuỗi gia trị.
Và đây là điều mà Hoa Kỳ không thể mua được ở bất kỳ nơi nào khác. Đây chính là lợi thế lớn nhất trong đàm phán.
Hiện nay, Thế giới Chuyên gia dự báo có ba kịch bản đàm phán Việt-Mỹ.
Kịch bản đầu tiên đó là hai bên đạt được thỏa thuận song phương đặc biệt.
Việt Nam đồng ý giảm thuế nhập khẩu hàng hóa Mỹ về mức trung bình 0-5%, đối lại Hoa Kỳ miễn trừ trừng phạt thuế quan với các bản hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam,
đồng thời hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, đầu tư công nghệ cao.
Hai bên tiến đến thỏa thuận thương mại bán chinh thức, có thể mở đường cho một FTA thực sự trong tương lai.
Đây là kịch bản tối hưu, có thể đạt được nếu Việt Nam tiếp tục chủ động và Mỹ cần giữ vai trò chiến lược của Việt Nam trong chuỗi cung ứng bán dẫn.
Kịch bản thứ hai đó là Mỹ vẫn áp thuế một phần, đàm phán kéo dài.
Mỹ áp thuế trừng phạt lên một số mặt hàng có nguy cơ né thuế Trung Quốc như là gỗ, rệt may, điện tử lắp ráp sơ sài.
Việt Nam phản ứng bằng cách ra soát gắt FDI Trung Quốc nhưng đàm phán vẫn chưa đi đến kết quả cụ thể.
Một giai đoạn khó xử kéo dài từ 12-24 tháng, trong đó niềm tin nhà đầu tư có thể bị tổn thương nhẹ.
Đây là kịch bản trung bình, có thể xảy ra cao nếu Mỹ đẩy mạnh lập trường Trump nhưng Việt Nam chưa thể kiểm soát đầy đủ chuỗi cung ứng nội địa.
Và kịch bản thứ ba đó là đàm phán thất bại, Việt Nam bị áp thuế toàn diện.
Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách chạm trung chuyển của Trung Quốc, dẫn đến áp thuế toàn diện 25-46% lên nhiều mặt hàng chủ lực.
Xuất khẩu Việt Nam sang Mỹ giảm mạnh, FDI chững lại, tăng trưởng kinh tế tổn hại trong ngân hạng.
Việt Nam buộc phải phản ứng trong thế bi động, tìm tới EU, ASEAN, nhưng không thể bùa đắp.
Đây là kịch bản xấu nhất, nhưng có thể xảy ra nếu chính quyền Trump thực thi chính sách thương mại kiểu một chiều ép buộc.
Vâng thưa quý vị, nhìn chung thì Việt Nam đang chơi một ván cờ khôn ngoan nhưng cần hành động nhanh và quyết liệt hơn.
Việc chủ động đề xuất giảm thuế là đúng, nhưng để giữ được thế đàm phán,
thì Việt Nam cũng cần nâng cấp hệ thống truy xuất nguồn gốc cấp quốc gia,
chặn triệt để hàng Trung Quốc đội lốt Việt, hay là thiết lập khuôn khổ đàm phán thương mại bán song phương với Mỹ,
tách biệt khỏi các khối FDI truyền thống.
Việt Nam cũng cần gia soát lại toàn bộ FDI Trung Quốc trong những lĩnh vực dễ bị điều tra như dệt may, gỗ hay linh kiện điện tử,
đầu tư mạnh vào công nghệ hỗ trợ, logistics, đào tạo nhân lực kỹ thuật cao,
để củng cố vị thế trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu.
Liệu kết quả của đàm phán sẽ ra sao, chúng ta sẽ còn phải chờ xem.
Là Việt Nam có hành động đủ nhanh để giữ lợi thế đàm phán hay không?
Đến đây thì chương trình ảnh của chúng tôi cũng xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị chia sẻ quan điểm cá nhân ở phần dưới, chúng tôi luôn tôn trọng mọi sự khác biệt.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
