LÝ NHÂN TÔNG: Trị Vì Lâu Nhất, ĐÁNH TỐNG - PHẠT CHIÊM, Phát Triển ĐẠI VIỆT [Lịch sử Việt Nam P22]

Đình Sự
538 người theo dõi
LÝ NHÂN TÔNG được sự phò tá của Thái Úy Lý Thường Kiệt, Thái Sư Lý Đạo Thành, Lê Văn Thịnh đã phát triển ĐẠI VIỆT "Trăm Năm Thịnh Thế" | Dòng Chảy Sử Việt |
Tóm tắt lịch sử thời Lý của vua Lý Nhân Tông (1072 - 1128):
ĐÁNH TỐNG - PHẠT CHIÊM, Phát Triển ĐẠI VIỆT
Xây dựng trường Quốc Tử Giám: Đại học đầu tiên của Việt Nam
Định lại quan chế - Tổ chức thi Trạng Nguyên (Minh Kinh Bác Học)
Phát triển Nông Nghiệp#toiyeuinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun
Hoàng đế Lý Thánh Tông có 8 hoàng hậu, trong đó chính thất là Dương Hoàng hậu, nguyên phi là Ý Lan.
Vua có nhiều người con nhưng lại hiếm muộn con trai.
Tới năm 43 tuổi thì Nguyên phi Ý Lan hạ sinh được người con trai trường là Lý Cản Đức,
sinh ngày 25 tháng 1 năm Bính Ngọ, tức ngày 22 tháng 2 năm 1066.
Vua vội mừng nên ngay sau khi sinh ra, Cản Đức được lập làm thái tử để chuyển ngôi.
Năm 1072, Hoàng đế Lý Thánh Tông băng hạ.
Thái tử Lý Cản Đức lên ngôi, tức là Lý Nhân Tông.
Sau khi lên ngôi, vua tồn Dương Hoàng hậu làm Thượng Dương Hoàng Thái Hậu, tồn Thần Mẫu làm Hoàng Thái Phi.
Do vua còn nhỏ, lên ngôi lúc 7 tuổi nên Hoàng Thái Hậu làm nhiếp chính.
Các đại thần trong triều đình phò tá gồm có thái sư Lý Đạo Thành và thái úy Lý Thượng Kiệt.
Năm 1073, Hoàng Thái Phi vì không được tham gia trị quốc nên không phục.
Trước đó vào năm 1069, khi Hoàng đế Thánh Tông nam Phạt chiêm thành,
bà đã được làm nhiếp chính lần thứ nhất và quản lý đất nước rất tốt.
Do vậy, Hoàng Thái Phi đã kêu với vội nhỏ.
Nghe lời Thần Mẫu nên sau đó Hoàng đế Nhân Tông đã ra lệnh bắt giam Thượng Dương Hoàng Thái Hậu cùng 72 công nữ.
Đến khi an tán Thánh Tông Hoàng đế, Thượng Dương Hoàng Thái Hậu cùng các công nữ bị buộc phải chết theo hầu hạ tiên đế.
Do thái sư Lý Đạo Thành lúc trước ủng hộ Dương Hoàng hậu
nên đã bị gián chức xuống làm tà gián nghị đại phu cho vào châu Nghệ An làm quan.
Hoàng Thái Phi được tôn Linh Nhân Hoàng Thái Hậu và đứng nhiếp chính lần thứ hai.
Tuy nhiên sau đó, Hoàng Thái Hậu hối hận về việc ép Dương Hoàng Hậu
nên bà đã làm nhiều chùa phật để sám hối giữa quan.
Năm 1074, Hoàng Thái Hậu ỉ Lan đã dẹp bỏ hiềm khích,
sai người về châu Nghệ An mời Lý Đạo Thành về chiều giữ chức thái phó
cùng thái úy Lý Thượng Kiệt điều hành việc nước, phụ tá triều đình.
Trong khi đó, Đại Tống đang có ý định xâm lượng Đại Việt.
Biết trước tình hình đó, thái úy Lý Thượng Kiệt chỉ huy quân đội chống giặc.
Năm 1075, thái úy dùng phương án đánh đòn phủ đầu.
Ông cùng các cánh quân người dân tộc dưới sự chỉ huy của Tông Đản
đã thân tốc tiến đánh phá các thành trại biên giới, đánh phá Khâm Châu, Liêm Châu.
Tiếp đó, ông tiếp tục dẫn quân thẳng tiến bao vây thành Úng Châu.
Sáng đầu năm 1076, Lý Thượng Kiệt hạ thành Úng Châu.
Ông cho phá hủy các thành trại của Đại Tống, làm suy yếu toàn bộ lực lượng hậu cần của địch.
Cùng với đó, ông cho xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt để ngăn cản quân Tống tiến về Thăng Long.
Năm 1077, quân Tống xâm lược Đại Việt.
Tại sông Đông Canh, thi thủy quân Tống bị tướng Lý Kế Nguyên của ta đánh tan.
Tại phòng tuyến sông Như Nguyệt, lục quân Tống bị thái úy Lý Thượng Kiệt đánh bại.
Bị bại trận tại sông Như Nguyệt, hai bên giảng hòa và quân Tống rút chạy.
Sau đó, hoàng đế Lý Nhân Tông mở cuộc giao hảo giữa hai nước Việt Tống.
Kể từ đó, Đại Tống bỏ hành ý định xâm lược Đại Việt.
Xăm xong với cuộc chiến chống quân Tống của thái úy Lý Thượng Kiệt,
thì tại hoàng thành Thăng Long, dưới sự trị vì của hoàng đế Nhân Tông
cùng với sự phò tá của Lý Thạo Thành đã tiếp tục phát triển Đại Việt bách niên thịnh thế.
Mùa xuân tháng 2 năm 1075, vua cho mở khoa thi Minh Kinh Bác Học để chọn người tài xây dựng đất nước.
Đây là khoa thi đầu tiên của nền khoa cử Việt Nam.
Và người đỗ đầu khoa bảng năm đó là Lê Văn Thịnh.
Ông cũng chính là vị trạng nguyên đầu tiên trong lịch sử nước ta.
Sau đó, ông được thăng chức làm thị lang bộ binh.
Kể từ đây, nhò giáo bắt đầu phát triển mạnh mẽ, song hành cùng với Phật giáo.
Năm 1076, hoàng đế Nhân Tông cho lập quốc tử Giám.
Đây chính là trường đại học đầu tiên của nước ta.
Các quan văn giỏi được tuyển chọn vào trường giảng dạy.
Sau khi đại thắng quân tống tại sông Như Nguyệt, non sông sạch bóng quân thủ.
Lúc này, vua mới 12 tuổi, Lý Thường Kiệt lại tiếp tục gánh trách nhiệm lớn của triều đình.
Ông cùng với thái phó Lý Đạo Thành, thị lang bộ binh Lê Văn Thịnh
đã giúp hoàng đế Nhân Tông trong công cuộc xây dựng đất nước, chăm lo đời sống nhân dân.
Vua cho khởi công đắp những con đê lớn đầu tiên của Đại Việt.
Như đê Sông Như Nguyệt năm 1077, đê Thăng Long năm 1103, đê Cơ giá Sông Hồng năm 1108.
Kể từ đó đến các thời sau, đê điều luôn được trú trọng, tu sửa xây đắp thêm.
Ông là vị vua rất thương dân.
Khi gặp hạn hán mất mùa, vua cho phát trần, kho lương, giảm tô dịch.
Trong lĩnh vực chính trị, Lý Nhân Tông là vị vua đầu tiên bàn hành lệ dân chủ
với chiếu cầu lời nói thẳng vào tháng 4 năm 1076
nhằm huy động trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân, đóng góp vào công cuộc trị quốc bình thiên hạ.
Và kể từ đấy, các triều đại đã kế thừa một kế sách trị quốc an dân.
Trưởng thành hơn, Hoàng đế Nhân Tông tiếp tục xây dựng phát triển Đại Việt Cường Thịnh.
Tháng 10 năm 1081, thái phó Lý Đạo Thành mất.
Sáng năm 1082, thái úy Lý Thường Kiệt cũng già yếu ngoài 60 tuổi nên xin thôi chức thái úy.
Ông được cử về Phủ Thanh Hóa để làm quan.
Năm 1084, Hoàng đế Nhân Tông sai Lê Văn Thịnh.
Lúc này, đang giữ chức Thị Lan Bộ Bình sang biên giới Đại Tống để ban việc cương giới với Đại Tống.
Ông đã thành công trong việc ban về cương giới với quan nhà Tống,
khiến nước này phải trả lại 6 huyệt, 3 động thuộc châu Quảng Nguyên mà họ đã chiếm cho Đại Việt.
Kể từ đó, biên giới Tống – Việt đã bình yên.
Sau đó, ông được thăng chức thái sư vào năm 1085.
Lúc này, thái sư Lê Văn Thịnh là người đứng đầu bá quan trong triều đình.
Ông đã quân sự cho vua định lại công việc triều đình, quan chế, nhân sự và điều hành đất nước.
Mùa thu năm 1086, Hoàng đế Nhân Tông cho mở khoa thi chọn người có tài văn học vào Viện Hàn Lâm.
Mặc hiện tích, đỗ đầu khoa ấy được Hoàng đế trao chức Hàn Lâm học sĩ.
Vua trú trọng phát triển đồng nghiệp, bảo vệ châu bò, phương tiện sản xuất chính của cư dân Đại Việt.
Vua cho phát định luật bảo vệ châu bò.
Ông đã 2 lần xuống chiếu, ra lệnh cấm giết trộm châu.
Năm 1089, Hoàng đế định lại quan chế, chia văn võ làm 9 phầm từ Trung ương đến các địa phương.
Với quân sự tài giỏi như Lê Văn Thịnh đã giúp vua ban hành các chính sách phát triển mới,
giúp Đại Việt trăm năm thịnh thế.
Tuy nhiên, vào năm 1095, xảy ra vụ án Hồ Dâm Đàm, ngày nay là Hồ Tây, Hà Nội.
Thái sư Lê Văn Thịnh bị bắt và kép vào tội mưu phản, giết vua.
Ông bị mang đi đẩy ải, sau đó được ân giá.
Nhưng ông đã già yếu và gầy ốm, trở về quê, ông mất tại đây.
Sau này, ông đã được giải oan.
Đóng góp của ông cho đất nước là rất lớn.
Ông là một nhà ngoại giao xuất trúng, một nhà doanh nhân văn hóa kiệt xuất,
và là thái sư có tài kinh băng, tế thế.
Một nhà cải cách chính trị, kinh tế đại tài, đưa đất nước phát triển cường thịnh.
Hoàng đế Nhân Tông cũng rất giỏi dùng binh.
Khi thấy co binh biến, vua đã mời Lý Thường Kiệt trở lại Kinh Thành,
phục chức Thái úy, kiềm chức nội thị phán thủ đô, áp Nha hành điện nội ngoại Đô Tri Sự.
Tháng 10 năm 1103, khi có nổi loạn tại Diễn Châu.
Lúc này, Lý Thường Kiệt đã 84 tuổi, nhưng vẫn xin đi đánh dẹp.
Tháng 7 năm 1119, vua quyết định thân trình đánh nổi loạn tại Động Ma Sa,
ngày nay là huyện Đà Bắc Hòa Bình.
Tại biên giới phía Nam, năm 1091,
thì vua Chiêm Thành, lúc này là chế Mana, đã đình chỉ việc cống ngạp hàng năm cho Đại Việt,
lại cho sứ thần sang Đại Tống cống ngạp, ý định kết hợp Bắc Nam tiến đánh Đại Việt.
Nhưng Đại Tống lúc này, một mặt đã hòa bình với Đại Việt,
mặt khác lại đang phải dẹp loạn trong nước nên không đồng ý.
Năm 1094, biết được tin tức tại phía Nam,
hoàng đế Nhân Tông xài mạc hiển tích sang Chiêm Thành đưa chiếu thư
và thúc giục chế Mana tiếp tục thần phục và cống ngạp hàng năm.
Chế Mana sợ Đại Việt tiến đánh nên tiếp tục cống ngạp.
Nhưng đến năm 1103, khi biết tin Đại Việt có nổi loạn tại Diễn Châu,
chế Mana đã cử quân đánh phá biên giới Đại Việt,
muốn đòi lại Ba Châu, Điện Lý, Ma Linh, Bố Chính
mà chế cũ trước đây đã dâng cho Đại Việt vào năm 1069.
Nhận được tin, vùa xài Lý Thường Kiệt dẫn quân đánh Chiêm Thành.
Lý Thường Kiệt 84 tuổi nhưng vẫn dũng mãnh ao ạt tiến quân.
Thái quý Lý Thường Kiệt đã đánh tan các đạo quân của Chiêm Thành.
Chế Mana thấy Lý Thường Kiệt quá mạnh nên thua chạy,
xin tiếp tục thần phục và cống ngạp hàng năm.
Sau khi đánh tan quân Chiêm Thành, ông tiếp tục phỏ tá vua.
Đến năm 1105 thì thái quý mất, thọ 86 tuổi.
Với sự đóng góp của thái quý Lý Thường Việt cho đất nước
và một lòng trung thành phỏ tá ba đời vua Lý,
là Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông.
Ông được truy tặng tức hiệu Việt Quốc Công Thái Quý.
Lịch sử ghi nhận là anh hùng kiệt xuất,
một con người hiến dân cả tâm hồn, sức lực cho sự nghiệp độc lập của tổ quốc
ở buổi đầu thời tự chủ.
Tài năng quân sự kiệt xuất của ông làm kẻ thù khiếp phục.
Với nguồn dân, ông đối đải khoan hòa, nhân tử,
nên được chăm họ yêu mến, kính trọng.
Ông để lại cho đời sau bài ca bất diệt,
Nam Quốc Sơn Hà.
Ông cũng chính là một trong bốn vị tướng tài giỏi nhất lịch sử Việt Nam.
Hoàng đế Lý Nhân Tông đã có tuổi mà không có con trai để nối dõi.
Dù trong cung, nhà vua có đến hàng nghìn cung tẩn mỹ nữ và hoàng hậu Hoàng Phi.
Hoàng Thái Hậu nhiều lần xây chùa triền để tạo ân đức,
cầu siêu lỗi lầm và cũng cầu tự cho Nhân Tông có con trai.
Nhưng mọi sự vẫn không như mong đợi.
Đến tháng 10 năm 1117,
Thái Hậu tử trần rồi mà Nhân Tông vẫn không có hy vọng về huyết mạch duy trì.
Ben Viết Chiếu, ban gia trong hoàng tộc, nói rằng
Chẩm cai trị muôn dân mà lâu không có con nối,
ngồi báu của thiên hạ biết truyền cho ai.
Vậy nên, chẩm nuôi con trai của các công thần,
Sùng Hiền, Thành Khánh, Thành Quảng, Thành Chiêu, Thành Hưng,
chọn người nào giỏi thì lập làm thái tử.
Bấy giờ, con Sùng Hiền Hậu là Lý Dương Hoán,
mới lên 2 tuổi mà thông minh lành lợi.
Nhân Tông rất yêu mến và bèn lập làm hoàng thái tử.
Như vậy, thái tử Lý Dương Hoán là cháu trong nội tộc,
gọi hoàng đế Lý Nhân Tông là bác.
Ngày Đinh Mão, tức ngày 15 tháng 1 năm 1128,
hoàng đế Lý Nhân Tông, Băng Hà, thọ 63 tuổi.
Ông là vị vua trị vị lâu nhất trong lịch sử Việt Nam,
gần 56 năm trị vị nước Đại Việt,
từ năm 1072 đến năm 1128.
Ngay sau khi Băng Hà, thái tử lên thay là Lý Thần Tông.
Hoàng đế Lý Nhân Tông để lại nhiều dấu ấn trong công cuộc phát triển đất nước.
Dưới thời ông, quân dân Đại Việt đã đánh đuổi được Giặc Tống, Vải Chiêm, định rõ các bậc chế quan.
Ông là vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam cho tổ chức khoa cử để tuyển chọn nhân tài.
Giống như những vị vua trước của nhà Lý, Lý Nhân Tông đặc biệt quan tâm đến phát triển nông nghiệp.
Ông cho đáp đê chống nột, ra luật bảo vệ sức kéo.
Vua cho đúc trường Quy Điền ở chùa Diên Hậu, tức chùa Một Cột ngày nay, một trong An Nam tứ đại khí.
Là một minh quân, Lý Nhân Tông cũng là một tấm gương khổ luyện, phấn đấu đạt đến độ học thức cao minh, hiểu sâu đạo lý.
Ông là một vị vua giỏi, vị anh quân của triều Lý, đã xây dựng đất nước Đại Việt trăm năm thịnh thế.
