Chào Mừng Các Bạn Đến Với Kênh Thiên Hà TV Video Ngày Hôm Nay Của Chúng Ta: Hành trình xuyên hệ mặt trời qua góc nhìn của tàu vũ trụ Voyager | Thiên Hà TV ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Video hay dành cho bạn: • Đây là Cuộc Sống ở Burkina Faso: Vùng Đất ... Video hay dành cho bạn: • Kỳ Quan Thuyền Đi Trên Núi Của Trung Quốc ... Video hay dành cho bạn: • Đây Là Cuộc Sống Ở Tây Tạng: Khu Tự Trị Bi... ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Thiên Hà TV là nơi chia sẻ những kiến thức thú vị và bổ ích về khoa học, khám phá vũ trụ, khám phá thế giới và những điều bí ẩn đầy cuốn hút. Nếu bạn yêu thích nội dung của kênh, đừng ngần ngại like, bình luận, chia sẻ video và đăng ký Thiên Hà TV để không bỏ lỡ những hành trình khám phá kỳ thú tiếp theo nhé! Tham gia hội viên của Thiên Hà TV để ủng hộ chương trình: / @thienhatv999 ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ Chúng tôi không sở hữu đầy đủ tài liệu được biên soạn trong video này. Nó thuộc về những cá nhân hoặc tổ chức xứng đáng được tôn trọng. Chúng tôi sử dụng theo: Tuyên bố từ chối trách nhiệm bản quyền, phần 107 của Đạo luật bản quyền năm 1976. "Sử dụng hợp pháp" được cho phép cho các mục đích như phê bình, bình luận, đưa tin, giảng dạy. học bổng và nghiên cứu. Bản quyền âm nhạc thuộc: Audio Library - YouTube, storyblocks và elements envato Bản quyền hình ảnh họa thuộc: storyblocks và elements envato ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------ #thienhatv #bian #khampha
Gần nửa thế kỷ trước, con người đã bí mật gửi thông điệp đặc biệt vào vũ trụ bao là với hy vọng, một ngày nào đó sẽ có người nhận được.
Chúng đã vượt qua mọi giới hạn của sự hiệu biết, lướt qua những nơi mà ánh sáng mặt trời cũng trở thên yếu ớt.
Nhưng điều gì ẩn chứa bên trong những sứ mệnh đó?
Ai đã dám mơ về một cuộc gặp gỡ giữa các vị sao?
Hãy cùng vén màn bí mật về hành trình phi thường của hai con tàu.
Voyager, nơi khoa học và hy vọng giao thoa, mở ra một câu chuyện kỳ diệu về sự tồn tại và khát vọng vươn tới những chân trời mới của nhân loại.
Cơ hội hiếm hoi.
Năm 1977, NASA đã phóng hai tàu thăm dò vũ trụ Voyager 1 và Voyager 2.
Đây là hai vật thể nhân tạo của nền văn minh loài người đầu tiên bay đến không gian giữa các vị sao và hiện thời đang hoạt động sai trái đất nhất, cách trái đất hơn 24 tỷ km.
Thành tựu vĩ đại này gắn liền với công sức của nhiều nhà khoa học.
Biết đâu một ngày nào đó, có một nền văn minh ngoài nhân loại tiếp cận được hai phi thuyền này của loài người.
Thật khó để xác định chương trình thám hiểm không gian Voyager của NASA có nguồn gốc từ đâu.
Vì đây là dự án đầy tham vọng, phối hợp nỗ lực của nhiều nhà khoa học kéo dài nhiều thập niên.
Xong, vào năm 1965, tại phòng thí nghiệm sức đầy phản lực, gọi tắt là JPL của NASA, chỉ có một người quan tâm đến cơ hội kháng phá bốn hành tinh vòng ngoài của hệ mặt trời.
Đó chính là tiến sĩ Gary Flandro.
Hệ mặt trời được chia làm hai vòng, gồm vòng trong và vòng ngoài, tính theo khoảng cách gần mặt trời nhất.
Bốn hành tinh vòng trong, dạng rắn, gồm sao thủy, sao kim, trái đất và sao hỏa.
Bốn hành tinh vòng ngoài, dạng khí khổng lồ, gồm sao mộc, sao thổ, sao thiên vương và sao hải vương.
Từ lúc còn nhỏ, Gary Flandro đã say mê các cuộc thám hiểm hệ mặt trời.
Năm đến sáu tuổi, ông được tặng cuốn sách, những điều kỳ diệu của bầu trời, mô tả các hành tinh trên bầu trời xếp thẳng hàng như những viên đá cây trong vượt.
Ông nhớ lại, tôi đã từng suy nghĩ thật tuyệt vời biết bao nếu đi hết hệ mặt trời và đi qua từng hành tinh vòng ngoài đó.
Sau khi lấy bằng cử nhân khoa học về kỹ thuật cơ khí tại Đại học Utah năm 1957,
ông tiếp tục lấy bằng thạc sĩ khoa học và bằng tiến sĩ về hàng không tại Học viện Công nghệ California.
Mùa hè năm 1964, trong thời gian là nghiên cứu sinh tiến sĩ, ông làm việc bán thời gian cho UFL ở Nam California, trung tâm thám hiểm liên hành tinh hàng cầu thế giới.
Lúc bấy giờ, tại JPL, các nhà khoa học chỉ lo tập trung thiết kế và tổ chức các chương trình lên mặt trăng, sao hỏa, sao kim và sao thủy.
Đặc biệt là sao hỏa, sau khi tàu thăm giò Marine 4 gửi về 21 bức ảnh đầu tiên chụp sao hỏa.
Không ai quan tâm đến các hành tinh vòng ngoài hệ mặt trời như Flandreau từng bộc bạch.
Không có bất kỳ cuộc thảo luận nào về các sứ mệnh thám hiểm bốn hành tinh vòng ngoài.
Khi được sang nhiệm vụ phát thảo các sứ mệnh có thể thực hiện ngoài sao hỏa trong tương lai, ông đã suy nghĩ như bất kỳ nghiên cứu sinh nào.
Mấy anh chàng này muốn mình bận rộn với công việc lạt vặt để họ tìm chuyện quan trọng đây. Cho dù tự ái, nhưng ông vẫn làm việc cẩn bẩn.
Với ý định lập biểu đồ vị trí tương lai của bốn hành tinh vòng ngoài theo dòng thời gian để biết chúng sẽ ở đâu vào thời điểm nhất định.
Flandreau đã bất ngờ phát hiện hai điều. Một là bốn hành tinh vòng ngoài sẽ thẳng hàng trong 13 năm nữa, tức khoảng năm 1977.
Hay là hiện tượng thẳng hàng chỉ xảy ra trong 176 năm sau đó.
Ông suy lệnh thời điểm trúng thẳng hàng là cơ hội để tàu vũ trụ bay đến thám hiểm cùng lúc muốn hành tinh vòng ngoài bằng cách sử dụng nguyên lý hỗ trợ trọng lực.
Có thể hiểu nguyên lý hỗ trợ trọng lực như sau. Tàu vũ trụ bay quanh hành tinh A và sử dụng lực hấp dẫn của hành tinh này như chiếc ná cao su để tăng tốc và thay đổi quỹ đạo nhằm bay đến tích tiếp theo là hành tinh B.
Nếu tàu vũ trụ bay đến gần sao mộc từ phía sau, lực hấp dẫn của sao mộc sẽ kéo con tàu bay theo quỹ đạo của nó. Hiện tượng này sẽ làm tăng tốc và thay đổi quỹ đạo của con tàu.
Ngược lại nếu tàu vũ trụ đến gần sao mộc từ phía trước cùng hướng với sao mộc, điều ngược lại sẽ xảy ra, tức khi tàu rời sao mộc, lực hấp dẫn của sao mộc sẽ hút con tàu làm cho tàu bay chậm lại.
Ý tưởng vận dụng nguyên lý hỗ trợ trọng lực của Gary Flandreau là điều có vẻ không tưởng bởi chưa từng có con tàu thăm dò nào hoạt động trong vũ trụ theo các nhiều vật.
Ông kể lại trên tạp chí National Geographic, người ta bảo tôi rằng điều này là không thể bởi vậy đừng lãng phí thời gian nữa.
Sau khi Flandreau trình bày ý tưởng, giám sát viên đã giao cho ông nhiệm vụ xác định xem có thể vận dụng nguyên lý hỗ trợ trọng lực trong các chuyến thám hiểm bốn hành tinh vòng hoài trong tương lai hay không.
Ông cùng các đồng nghiệp bắt tay vào tính toán. Cuối cùng họ khẳng định nếu vận dụng nguyên lý hỗ trợ trọng lực,
thời gian tàu thăm dò bay thẳng từ trái đất đến sao hải vương và thám hiểm bốn hành tinh vòng hoài của hệ mặt trời chỉ trong một lần có thể sẽ được rút ngắn còn 20 năm.
Đây là cơ hội quá tốt, không thể bỏ qua.
Ngay lập tức NASA bắt tay khởi động chương trình Voyager nhằm thám hiểm các hành tinh vòng hoài của hệ mặt trời.
NASA mô tả đây là một trong những chuyến thám hiểm vĩ đại nhất từng được loài người thực hiện.
Xong chương trình này đã suýt bị xếp xó.
Với lý do thiếu ngân sách, cơ hội Mỹ chỉ chấp thuận phương án đưa hai tầng vũ trụ đến sao mộc và sao thổ, chứ không thể đi xa hơn nữa.
Các nhà khoa học tại JPL cho rằng quốc hội không thực sự hiểu vấn đề nên lặng lẽ thiết kế và chế tạo hai tàu vũ trụ có khả năng đi xa đến tận sao hải vương.
Để đạt được mục tiêu này, bất kỳ chi tiết nào ảnh hưởng đến tuổi thọ của tàu đều bị loại bỏ.
Các cảm biến mặt trời trong hệ thống dẫn đường được ra cố để hoạt động ở nơi ánh sáng mặt trời rất yếu.
Nhiều kỹ thuật tiết kiệm nhiên liệu đã được phát triển.
Tiến sĩ William Pickering, giám đốc JPL vào thời điểm đó nhớ lại, chúng tôi làm và không nói nhiều về nó.
Mưu mẹo của JPL đã thành công.
Một khi dự án tàu Voyager đã chứng minh được lợi ích về khoa học và vai trò xứ ra thám hiệm thiên hà xa xôi, quốc hội đã đồng ý chi tiện.
Sau đó, NASA đã thực hiện bước đi táo bạo là phát triển hai tàu vũ trụ giống hệt nhau và đặt tên là Voyager 1 và Voyager 2.
Năm 1977, hai tàu Voyager đã lần lượt rời bệ phóng bay vào vũ trụ theo đúng kế hoạch.
Chúng là nền bóng cho các sứ mệnh tiếp theo sử dụng nguyên lý hỗ trợ trọng lực như dự án Galilei thăm dò sao Mộc, dự án Cassini thăm dò sao Thổ và dự án New Horizons thăm dò sao Diên Phường.
Người thiết kế chuyến du hành vũ trụ vĩ đại
Sáu năm sau khi tiến sĩ Gary Flandreau ở phòng thí nghiệm sức đầy phản lực của NASA đưa ra ý tưởng thám hiểm bốn hành tinh vòng hoài của hệ mặt trời vào năm 1965, kết quả nghiên cứu hết sức chậm trờn.
Năm 1972, tiến sĩ Edward Carroll Stone, 36 tuổi, được mời về JPL. Ông nổi tiếng với vai trò nhà khoa học dự án cho chương trình thám hiểm vũ trụ Voyager suốt nửa thế kỷ sau đó.
Ông tiếp tục lấy bằng thạc sĩ khoa học và tiến sĩ vật lý tại Đại học Chicago. May mắn, ông được giáo sư John Sampson làm cố vấn luận án bởi ông Sampson chính là người đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tia vũ trụ.
Sturmeier hiểu ý nên cuối cùng đồng ý ông sẽ dành trung bình 30% thời gian cho vai trò nhà khoa học dự án. Đây là lần đầu tiên JPL thử nghiệm phương thức làm việc này vì trước này các nhà khoa học dự án đều phải làm việc toàn thời gian.
Theo thỏa thuận, ông phải cùng làm với một nhà quản lý khoa học làm việc toàn thời gian và nhóm đại diện cho các nhóm nghiên cứu. Nói là làm việc 30% thời gian nhưng lúc cao điểm, ông vẫn dành chọn 100% thời gian cho chương trình Pfizer.
Tiến sĩ động lực vũ trụ Satie Sinod thuộc nhóm dẫn đường cho hai tàu tham dò, Voyager 1 và Voyager 2, tham dò sao mộc. Chàng kỹ sư trẻ này không bao giờ quên kỷ niệm tiến sĩ Edward Stone cho phép mình đặt tên cho một vệ tinh mới phát hiện.
Vào lúc bay gần sao mộc, tàu Voyager đã chụp được hình ảnh về một vật thể nhỏ quay quanh sao mộc với vận tốc kinh hoàng. Nếu xét về kích thước, vận tốc và độ cao thì đây chỉ có thể là một vệ tinh của sao mộc.
Một ngày năm 1980, chờ lúc Edward Stone đi thăm các văn phòng. Sinod đến gần trình một bức thư ngắn dự định gửi cho Liên minh Thiên văn quốc tế, cơ quan phê chuẩn danh xương các vật thể không gian mới phát hiện.
Edward Stone hỏi lại, anh có biết chu kỳ quỹ đạo của nó không? Sinod trả lời khoảng 18 tiếng rồi đưa cho Edward Stone một trang giấy tính toán. Ông hỏi hàn rồi đọc lại các phép tính và cười nói, tốt, có vẻ như bạn vừa phát hiện một vệ tinh mới.
Sau đó, được IAO đồng ý, Sinod đã chọn tên nữ thần Terpy trong thần thoại Hy Lạp đặt tên cho vệ tinh mới.
Tiến sĩ Tom Grimigis là một trong các nhà nghiên cứu tại JPL đã kể lại, Edward Stone luôn hiểu biết sâu sắc và công bằng trong mọi quyết định. Ông ấy xác định khoa học là mục tiêu cao nhất và không bao giờ đi trịch mục tiêu đó.
Năm 1991, Edward Stone giữ trước giám đốc JPL trong 10 năm. Ông luôn tiềm tĩnh trong quan hệ đối xử với các đồng nghiệp và cố gắng đặt đồng thuận trong mọi cuộc tranh luận.
Suốt 50 năm làm việc tại JPL, ông đã điều phối 11 nhóm do NASA lựa chọn để nghiên cứu các hành tinh, vệ tinh, vành đai và tư trưởng của chúng.
Ông đã chứng kiến nhiều khám phá không sân quan trọng của hai tàu Voyager 1 và Voyager 2 cùng các chương trình khác. Năm 2022, ông nghỉ hưu vì lý do sức khỏe. Ông qua đời năm 2024.
Edward Stone là người tiên phong dám làm những điều vĩ đại trong không sân. Ông đã đưa nhân loại vào chuyến du hành qua hệ mặt trời và xa hơn nữa, đưa NASA đến những nơi mà chưa có tàu vũ trụ nào từng đến trước đó.
Di sản của ông tác động to lớn và sâu sắc đối với NASA, cộng đồng khoa học và thế giới.
Những lần phi thuyền già mất liên lạc
Ngày 14 tháng 11 năm 2023, tàu tham dọc vũ trụ Voyager 1 đang bay cách trái đất 24 tỷ km đột nhiên truyền về toàn dữ liệu vô nghĩa. Đúng ra dữ liệu phải bằng mã nhị phân nhưng lần này mã nhị phân không đọc được.
Tuy gửi dữ liệu trục chặt nhưng tàu vẫn nhận được lệnh từ trái đất và máy móc hoạt động bình thường.
Lúc gặp sự cố, con tàu già cỗi này đã gần 50 tuổi. Để truy tìm nguyên nhân, đầu tiên các kỹ sư NASA đã thử ra lệnh bật và tắt từ xa các thiết bị trên tàu. Cách này không thành công.
Đến tháng 12 năm 2023, nhóm phụ trách đã gửi lệnh cho tàu khởi động lại hệ thống FTS nhưng tiếp tục thất bại.
Có lúc họ đã lo sợ. Con tàu vũ trụ thân yêu của chúng ta đã chết. Nó sẽ không bao giờ gửi dữ liệu khoa học hữu ích nữa.
Vào tháng 3 năm 2024, NASA đã xác định nguyên nhân chính gây ra sự cố liên lạc là một con chip có chức năng lưu trữ bộ nhớ đã bị hỏng. Con chip này nằm trong hệ thống FTS của một trong ba máy tính trên tàu.
Sự cố của tàu Voyager 1 đã ảnh hưởng khoảng 3% bộ nhớ thuộc hệ thống FTS. Do con chip bị lỗi không thể sửa chữa, điều cần làm là chuyển mã phần mềm trong con chip đó sang phần khúc khác của bộ nhớ.
Ngày 18 tháng 4 năm 2024, các kỹ sư NASA đã gửi lệnh lên tàu Voyager 1 để mã hóa lại một phần bộ nhớ trong hệ thống FTS và di chuyển phần mã mới này đến một phần khúc khác trong bộ nhớ máy tính.
Phải mất gần 2 ngày để truyền lệnh lên tàu và chờ tín hiệu phản hồi. Hàng chục nhà có học và kỹ sư nóng lòng ngồi chờ trong phòng hội nghị của GPL hoặc kết nối trực tuyến.
Không khí im lặng như tờ. Mọi thứ thật yên tĩnh. Mọi người đều rất nghiêm túc. Họ nhìn vào màn hình máy tính của mình.
Cuối cùng vào ngày 21 tháng 4, tàu Voyager 1 bắt đầu gửi lại dữ liệu hữu ích như trước.
Đã có nước mắt, nụ cười và nhiều tiếng vỗ tay. Mọi người đều rất sung sướng và phấn khích vì nối lại liên lạc với tàu Voyager 1.
Nhóm phụ trách Voyager nhận định có khả năng còn chiếp lỗi đã bị mòn theo thời gian hoặc bị một hạt năng lượng cao từ tia vũ trụ va vào.
Họ giải thích tàu Voyager đã đắm mình trong các tia vũ trụ sau khi đi vào không gian giữa các vị sao. May mắn thay, con tàu đã được chế tạo để chống chọi với các tia vũ trụ.
Sự kiện sửa chữa từ xa tàu Voyager 1 được xem như phép lạ bởi các kỹ sư NASA đã chuẩn đoán và sửa chữa tàu ở khoảng cách 24 tỷ km và sửa chữa trong phạm vi hạ chế của công nghệ đã dùng từ thập niên 1960 và 1970.
Lúc đó, kỹ thuật còn hạ chế nên CPL không lưu trữ chương trình mô phỏng phần cứng và phần mềm của tàu.
Hầu hết tài liệu thiết kế ban đầu đều ở dạng giấy và chưa được số hóa.
Các máy tính trên tàu thuộc thế hệ máy tính thập niên 1970 hoạt động yếu hơn cả đồng hồ kỹ thuật số hiện nay.
Các camera theo hệ analog thô sơ hơn cả máy quay phim truyền hình bây giờ.
Hệ thống FDS trên tàu vẫn sử dụng ngôn ngữ lập trình cũ mềm SMPLi và hệ điều hành 16 bit.
Tàu Voyager 1 đã lão hóa bởi vậy khắc phục sự cố giống như áp dụng liệu pháp chăm sóc giảm nhẹ đối với người lớn tuổi mắc bệnh nặng.
Tàu Voyager 2 cũng từng mất liên lạc vào ngày 21 tháng 7 năm 2023, hôm đó trong lúc chuẩn bị truyền lệnh thường lệ lên tàu.
Nhóm của tiến sĩ Suman Dutt phát hiện có lỗi trong lệnh bèn sửa lỗi đó nhưng sau đó lại vô ý gửi nhầm phiên bản lỗi làm anten tàu lệch hướng trái đất.
Từ đó nhóm nghiên cứu không nhận được dữ liệu nữa.
Tiến sĩ Suran kể lại trên tạp chí Voyager, thật kinh khủng.
Lúc đó là khoảnh khắc hoảng loạn vì chúng tôi đã lệch mục tiêu 2 độ, mức độ này thực sự đáng kể.
Nhóm nghiên cứu bèn đưa ra giải pháp, gửi lệnh cho tàu yêu cầu điều chỉnh anten quay đúng hướng trái đất.
Nếu tín hiệu đúng mạnh, tàu vẫn có thể nhận được lệnh mặc dù anten bị lệch.
Sáng ngày 2 tháng 8 năm 2023, họ gửi tín hiệu với công suất mạnh nhất có thể bằng cách sử dụng trạm Cabera thuộc mạng không gian của NASA.
DSN, gồm hệ thống anten khổng lồ bố trí tại California, Mỹ, Madrid, Tây Ban Nha và Canberra, Australia.
Sau khi chờ 37 tiếng cuối cùng, nhóm đã khôi phục liên lạc.
Với kích thước và trọng lượng như chiếc xe hơi nhỏ, hiện nay 2 tàu Voyager 1 và 2 đang bay trong không gian giữa các vị sao.
Voyager 1 cách trái đất khoảng 24 tỷ km, còn Voyager 2 cách khoảng 21 tỷ km.
Bất chấp khoảng cách đáng tin ngạc này, 2 con tàu cụ kỹ vẫn tiếp tục truyền dữ liệu hữu ích từ không gian giữa các vị sao, nơi chưa có bất kỳ vật thể nào do con người chế tạo từng du hành.
Nhóm phụ trách Voyager dự kiến sẽ tiếp tục đuông đầu với nhiều trục trật khác sẽ xảy ra, với hy vọng mọi sự bình an cho đến ngày kỷ niệm 50 năm phóng tàu Voyager vào năm 2027.
Ai chế tác đĩa vàng gửi cho người ngoài hành tinh?
Nếu có người ngoài hành tinh ngày nào đó, họ ngạc nhiên khi bắt gặp con tàu thăm dò vũ trụ Voyager cụ kỹ, lạnh ngắt bay lang thăng trong vũ trụ.
Nguồn năng lượng hạt nhân con tàu đã cạn kiệt từ lâu.
Trước cần an ten màu trắng không còn truyền dữ liệu về trái đất nữa.
Khi khám phá con tàu, họ sẽ biết đến cuộc sống của con người trên trái đất nhờ nghe chiếc đĩa vàng gắn bên hông tàu.
Năm 1972, tức năm năm trước khi phóng hai tàu thăm dò vũ trụ Voyager 1 và Voyager 2 thám hiểm bốn hành tinh vòng ngoài của hệ mặt trời,
NASA đã thành lập một ủy ban vụ trách tập hợp thông tin nhằm truyền tài thông nghiệp cho các nền văn minh ngoài trái đất giả định.
Và mời tiến sĩ Kassagan đứng đầu ủy ban.
Lúc bấy giờ tiến sĩ Kassagan là giáo sư thiên văn học tại Đại học Cornell và là nhà khoa học thỉnh sàng tại JPL của NASA.
Tiến sĩ Kassagan đã thành lập nhóm phụ trách thực hiện một dự án như chuyện huyền thoại mang tên tĩa vàng Voyager.
Nhóm phụ trách gồm tiến sĩ Kassagan với vai trò giám đốc điều hành,
tiến sĩ thiên văn học vô tuyến Frank Drake là giám đốc kỹ thuật,
nhà văn nhà báo nữ Andrean là giám đốc sáng tạo cùng với nhà sản xuất Timothy Forrest,
nhà thiết kế John Lambrough và nhà tổ chức lời chào Linda Sherman.
Nhà văn Andrean đã kể lại rằng cơ hội người ngoài hành tinh tìm thấy tàu Voyager trong không sán vô tận đã rất thấp.
Một số người còn cho rằng vô cùng thấp, nhưng chúng tôi vẫn thực hiện nghiêm túc công việc.
Từ lần đầu tiên Kassagan đề cập về dự án với team Frank và tôi,
chúng tôi đã nhận thấy câu chuyện thật giống như huyền thoại.
Dự án tỉa vàng Voyager dự kiến sẽ ghi một tuyển tập âm nhạc hay nhất trái đất,
một bộ siêu tập ảnh về trái đất và cư dân trái đất,
một tuyển tập âm thanh trái đất vừa tự nhiên vừa công nghệ.
Âm nhạc hình ảnh, âm thanh được dự kiến ban đầu ghi vào băng 8-track.
Đây là công nghệ phổ biến trong thập đến 1970 trước băng cassette.
Do băng 8-track dễ bị bức xạ không gian và từ trường phá hỏng,
tiến sĩ Frank Tech men gợi ý nên sử dụng đĩa than.
Ước tính bản ghi trên đĩa than bằng trồng phủ vàng sẽ đáp ứng các yêu cầu về nhiệt và từ trên tàu Voyager.
Nếu được bảo vệ phù hợp, đĩa than này còn có thể tồn tại hàng trăm triệu năm trong không gian giữa các vị sao.
Tiến sĩ Kassagan kể lại trong cuốn sách Lời thi thầm của trái đất,
chiếc đĩa giữa các vị sao trên tàu Voyager của ông xuất bản vào tháng 10 năm 1979 rằng,
cuối cùng chúng tôi quyết định thiết kế đĩa than với tốc độ quay 16,2 trên 3 vòng phút.
Tốc độ này chỉ bằng phất nửa tốc độ của đĩa thông thường, 33 đến 1 phần 3 vòng trên phút.
Ông giải thích, độ trung thực sẽ giảm chút đỉnh nhưng chúng tôi tin rằng đây không phải là thiêu sót cục kỳ nghiêm trọng.
Ông và các cộng sự đã chọn lọc tuyển tập âm nhạc 90 phút gồm các ca khúc từ nhiều nền văn hóa và thời đại khác nhau.
Một trong 18 bức ảnh được biểu thị dưới dạng tiếng hiệu analog,
các lời chào bằng 55 thứ tiếng và ngôn ngữ cá vòi,
nhiều loại âm thanh tự nhiên như sóng biển, gió sấm xét, tiếng bùn sủi bọt, chim kêu, chó sủa
và âm thanh công nghệ như tiếng gầm rú của tiên lửa phóng Saturn V khi cất cánh.
Thông điệp từ Tổng thống Mỹ Jimmy Carter và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Code Whitehead.
Tốc độ quay của đĩa than đã chậm hơn nhưng cũng chỉ đủ chỗ ghi khoảng 90 phút âm nhạc và hơn 100 bức ảnh.
Do đó lựa chọn nội dung bản ghi vào đĩa vàng Voyager là điều hết sức khó khăn.
Bà Andrea nhớ lại, tôi nhớ đã ngồi quanh trước bàn trong phép và đưa ra quyết định quan trọng về việc nên đưa cái gì và bỏ ra cái gì.
Chúng tôi phải trân trọng trách nhiệm to lớn trong công việc tạo ra một con tàu Noires văn hóa có tuổi thọ lên đến hàng trăm triệu năm.
Quá trình quyết định vấp phải nhiều thách thức và lớn liên quan đến vấn đề trí tuệ.
Ví dụ làm thế nào thể hiện đa dạng về địa lý, lịch sử và văn hóa của điện âm nhạc thế giới trong 90 phút.
Một số thách thức khác liên quan đến vấn đề pháp lý.
Ca khúc Here Comes The Sun do ban nhạc Giabito thể hiện cuối cùng đã không được chọn vì Giabito không giữ bản quyền tác giả.
Ngoài ra còn có nhiều thách thức khác về hành chính.
Quá trình xin phép một số đại biểu Đại hội Đồng Liên Hợp Quốc về câu nói xin chào hết sức gian nàn.
Cuối cùng tiến sĩ Carl Sagan đã nhớ đến khoa ngoại ngữ Đại học Cornell.
Khoa đã tập hợp một mộ câu chào ngắn tiêu biểu bắt đầu bằng ngôn ngữ cổ Akash của đế chế Akashian trước công huyền và kết thúc bằng câu chào của một em bé người Mỹ 5 tuổi.
Đĩa vàng Voyager được bọc trong vào bảo vệ bằng nhôm kèm theo một thiết bị nhỏ có trước cây kim dùng để đọc các giãnh tĩa để tĩa phát âm thành.
Trên vỏ bao có ghi hướng dẫn bằng ngôn ngữ biểu tượng giải thích thách thức nghe địa thàn.
Nguồn gốc tàu vũ trụ Voyager, cách tìm thấy trái đất trong vũ trụ và xác định thời gian trái đất ngoài vũ trụ.
Ngoài ra còn có dòng chữ gửi các nhà sáng tạo âm nhạc mọi thế giới, mọi thời đại được khắp bàn tay.
Điều đặc biệt trong chiếc đĩa vàng là sóng não của một cô gái trẻ đáng yêu.
Cô gái ấy chính là giám đốc sáng tạo Andrian.
Bà Triane nhớ lại, tôi nảy ra ý tưởng nên ghi lại điện não đồ của ai đó.
Chúng ta biết rằng điện não đồ ghi lại những thay đổi trong suy nghĩ.
Tôi tự hỏi liệu có công nghệ tiên tiến nào có thể giải mã được suy nghĩ của con người trong hàng triệu năm nữa hay không?
Tiến sĩ Kassaghan và các cộng sự rất thích ý tưởng này và đề nghị bà cung cấp sóng não.
Bà kể lại, tôi đã liên lạc với tiến sĩ Suryat Kaurin ở Trung tâm Y tế Đại học New York và nhờ team Ferris giúp đỡ.
Chúng tôi đã sắp xếp một buổi ghi điện não đồ kéo dài một tiếng.
Buổi ghi điện não đồ được lên lịch vào ngày 3 tháng 6 năm 1977.
Bà Triane đã chuẩn bị kịch bản để hướng dẫn suy nghĩ của mình.
Nhưng hai hôm trước buổi ghi đã xảy ra một chuyện rất bất ngờ.
Bà nhớ lại, ngày 1 tháng 6 năm 1977, Kassaghan và tôi đã gọi điện thoại với nội dung rất quan trọng.
Chúng tôi quyết định kết hôn.
Như vậy trong cơn sốt điên rồ chế tác đi ấp vàng, Voyager, hai người đã yêu nhau mặc dù không có thời gian hẹn họ.
Chính âm vang khoảnh khắc tuyệt vời ấy đã vang vọng trong tâm trí bà trong buổi ghi điện não đồ.
Theo tạp chí National Geographic, hai tàu vũ trụ Voyager 1 và Voyager 2 đang tiến gần đến giai đoạn cuối của quãng cửa nghiên cứu khoa học.
Các tín hiệu vô tuyến yếu dần và dự kiến sẽ im lặng khi pin plutonium dừng hoạt động khoảng năm 2030.
Cho đến lúc đó các kỹ sư NASA tiếp tục tắt các tiết bị khoa học không cần thiết trên tàu để tiết kiệm năng lượng và kéo dài sứ mệnh.
Sau đó hai con tàu mang theo chiếc đĩa vàng sẽ bay trong không sân vô định chờ ngày có ai đó bắt được chúng.
Ngày đó, gần hai xa, hoàn toàn không biết được.
Sau Voyager, loài người sẽ bay xa đến đâu trong vũ trụ?
Hiện nay NASA, Cơ quan Vũ trụ Châu Âu, ESA, Trung Quốc, các tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất UAE,
Ấn Độ, Nhật, kể cả công ty tư nhân SharpX của Elon Musk đều tham vọng đưa con người quay trở lại mặt trăng hoặc xa hơn nữa là sao hỏa.
Trong đó, đặc biệt tỷ phú giàu nhất thế giới Elon Musk từng hứa hẹn sẽ đưa con người đến hỏa tinh vào năm 2035 và thuộc địa hóa hành tinh này vào năm 2050.
Những tham vọng chinh phục vũ trụ thật lãng mạn nhưng thực tế sẽ như thế nào?
Nên nhớ, so với độ rộng của vũ trụ ngoài trí tưởng tượng con người, dù ngày đau đó phi hành xa có tổ bộ được xuống sao hỏa,
thì đoạn đường bay khoảng 225 triệu km từ trái đất đến đây cũng quá gần như nhân loại vẫn đang dậm chân ở chính bậc cửa của nhà mình.
Liệu tương lai nhân loại sẽ tiến xa được đến đâu để chinh phục vũ trụ bao la cũng ước mơ gặp gỡ được niềm văn minh khác?
Ở thời điểm này và trong tương lai rất xa nữa, Voyager 1 và Voyager 2 vẫn là hai phi thuyền không người lái do nền văn minh nhân loại ở trái đất chế tạo đã bay xa nhất trong vũ trụ.
24 tỷ km, tương tương 600.000 vòng tròn trái đất, hiện không có bất cứ một vật thể nhân tạo nào đã tiến xa được trong vũ trụ như vậy.
Thời gian hoạt động kéo dài đến nay đã gần 50 năm và vẫn đang tiếp tục bay, của hai phi thuyền đã vượt xa thiết kế ban đầu, chỉ dự kiến 5 năm.
Vật thể bay của khoa học nhân loại đang vượt ra khỏi danh giới vùng ảnh hưởng của mặt trời để khám phá bầu không gian tối tăm đầy tí ẩn giữa các vị sao.
Với trái tim là các máy phát nhiệt điện từ đồng vị phóng xạ hạt nhân Plutonium-238 gọi tắt là RTG đã hoạt động gần nửa thế kỷ.
Voyager 1 và Voyager 2 được NASA chuyển lệnh qua sóng vô tuyến từ 3 trạm mạng không gian sâu trên trái đất để máy tính hai phi thuyền lần lượt tắt bớt các chức nạc.
Điều này cần thiết nhằm kéo dài thêm thời gian hoạt động của Voyager 1 và Voyager 2 đến khoảng năm 2030.
Tuy nhiên, ngay cả khi nguồn nguyên liệu hạt nhân tàn lụi, tất cả máy móc ngừng hoạt động toàn toàn, chấm dứt khả năng thu phát sóng vô tuyến để liên lạc với mẹ trái đất,
hai phi thuyền dù lạnh ngắt sẽ tiếp tục bay xa vô tĩnh trong vũ trụ hàng trăm năm, thậm chí hàng triệu năm nữa.
Biết đâu, đến một ngày có sống loài văn minh nào đó ngoài nhân loại bắt được Voyager đang bay lang thang trong vũ trụ và giải mã được chiếc nhĩa vàng có tuổi thọ triệu năm gắn trên nó, họ sẽ hiểu được nền văn minh từ hành tinh trái đất.
Họ sẽ thấy được hình ảnh con người, nghe được giai điệu âm nhạc, tiếng động cơ nhân tạo, tiếng sóng biển tự nhiên, tiếng chim muông và cả nhịp sóng não cô gái đang yêu ở hành tinh xanh tuyệt đẹp.
Theo NASA, khoảng 300 năm nữa, vật thể nhân tạo duy nhất của loài người là phi thuyền Voyager 1 sẽ tiến vào đám mây Oz, ngoài quý đạo sao riêng vương, ẩn trứa hàng tỷ sao trổi lạnh giá.
Từ đây, phi thuyền sẽ phải tiếp tục bay thêm 30.000 năm nữa để tới điểm cuối của duyệt đám mây Oz.
Sau đó lại cần thêm 40.000 năm nữa để nó hốc vượt khoảng không vũ trụ bao là để đến Gliese 445.
Một ngôi sao trong tròn, Camelopardilis, riêng với Voyager 2 sẽ bay khoảng 296.000 năm nữa để tới được Sirius, ngôi sao lung linh sáng nhất trên bầu trời đêm nhìn từ trái đất.
Những nhà khoa học lỗi lạ của NASA từng có những lời rất lãng mạn về Voyager 1 và Voyager 2 như sau, định mệnh hai con tàu này có lẽ là vĩnh viễn lang thang trong giải cơn hạ.
Nhiều nhà khoa học cho rằng, khoảng thời gian gần 300.000 năm để Voyager 2 bay đến Sirius là quá đủ cho nền khoa học nhân loại tiến bộ đến mức có thể dễ dàng khám phá vũ trụ.
Tuy nhiên cũng có thể, loài người không thể kịp đạt đến mức độ tiến bộ đó.
Bởi những thảm họa mang tính toàn cầu như dịch bệnh, chiến tranh hạt nhân, tiều hành tinh pha trạm.
Nếu đến thời điểm thảm họa cấp độ giống loài đó mà nhân loại vẫn chưa thể di dân đến một hành tinh nào khác.
Trở lại câu chuyện cụ thể nền khoa học con người có thể đưa phi hành ra, tiến xa đến đâu vào khoảng không vũ trụ manh mông trong vài thập niên hay vài trăm năm tới vẫn đang là đề tài được thảo luận, thậm chí tranh cãi về tính khả thi hay viễn tưởng.
Với tốc độ phi thuyền hiện nay, dù là Voyager 1 đạt đến mức 16,9 km một giây,
hay tốc độ 15,2 km một giây của Voyager 2 khi bay qua khoảng không giữa các vị sao,
thì vẫn còn rất chậm, vô cùng chậm so với tốc độ ánh sáng gần 300.000 km một giây.
Thậm chí sự so sánh này còn chưa thể bằng sự so sánh giữa người đi bộ với tốc độ máy bay.
Trong khi đó, khoảng cách giữa các vị sao đều bằng khoảng một vài năm tốc độ ánh sáng đến hàng trăm hàng ngàn năm tốc độ này mà nhà vật lý lỗi lạc Albert Einstein khẳng định khoa học con người không thể đạt tới.
Vậy liệu con người có thể bay xa được đến đâu?
Một ý tưởng lãng mạn nhất và không sợ bất cứ đường sang vũ trụ nào là tí thuyết vượt qua hố sâu vũ trụ.
Nhiều phim khoa học biển tượng từ lâu đã cho các con tàu đẹp mắt của mình đạt đến vận tốc siêu tượng này bất chấp giao cản là các định luật vật lý.
Tuy nhiên, vài chục năm qua, một số nhà vật lý thiên văn học cũng ban thảo về lý thuyết hố sâu này.
Hiểu một cách đơn giản thì nó như là đường hầm xuyên không gian và thời gian.
Con người nếu tìm ra được hố sâu vũ trụ và chế tạo được phương tiện đi qua nó thì như vào cổng đường hầm này rồi ra ở cổng đường hầm kia.
Đó là đoạn đường hầm rất ngắn và đi rất nhanh.
Mà nếu ở bên ngoài vũ trụ bình thường, con người nếu bay bằng phi thuyền, dù đã đến tốc độ ánh sáng, vẫn phải mất hàng ngàn năm.
Tuy nhiên đến bây giờ, khả năng con người du hành qua hố sâu vũ trụ vẫn chỉ là lý thuyết để tiếp tục nghiên cứu và thỉnh thoảng lại dấy lên tranh luận khi có nhà khoa học nào đó trình bày thêm được chút gì mới mẻ.
Trở lại thực tế, khả năng khoa học nhân loại chế tạo phương tiện bay hiện cũng đang có một số nghiên cứu mới mẻ và ít nhiều đã thành công ở mức độ thế nghiệp.
Thứ nhất, đó là tàu vũ trụ sử dụng động cơ sung hạt nhân.
Nhà vật lý Raymond Dixon đề xuất từ năm 1958 về ứng dụng vụ nổ hạt nhân làm động cơ đẩy tàu vũ trụ.
Nhà khoa học này kết hợp với nhà vật lý hạt nhân Tal Tyler cùng tập đoàn Crayron Atomic để nghiên cứu dự án Orion.
Hiểu một cách đơn giản là sẽ thực hiện nổ hạt nhân có kiểm soát ở đôi tàu vũ trụ.
Sau đó, một thiết bị đặc biệt của tàu sẽ hấp thủ sóng sung kích hạt nhân để đẩy tàu di chuyển với tốc độ đạt 12% tốc độ ánh sáng, tương đương 36.000 km một giây.
Đến nay, về lý thuyết thì điều này có thể, nhưng trình độ khoa học vẫn còn tiếp tục nghiên cứu rất lâu nữa mới có khả năng thực hiện được sung hạt nhân trên tàu vũ trụ.
Thứ hai là sử dụng nhiên liệu phản vật chất cho tàu vũ trụ đi nhanh và đi xa hơn.
Các nghiên cứu cho rằng một gram nhiên liệu này có thể tạo ra năng lượng ngang bằng vụ nổ hạt nhân ở Hiroshima, Nhật Bản.
Điều không vui là cho đến nay, việc sử dụng phản vật chất làm nhiên liệu tàu vũ trụ mới chỉ là lý thuyết.
Các thử nghiệm mới chỉ được thực hiện bằng máy xa tốc hạt cỡ lớn LHC thuộc Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu.