Trong một báo cáo trên tạp chí học thuật, có ghi lại một trường hợp rất kỳ lạ về một bệnh nhân của nhà tâm lý học nổi tiếng Bruno Glockferr năm 1957 như sau
Tiến sĩ West đang điều trị cho ông Bright, người mắc ung thư hạch, giai đoạn cuối. Thời gian đang dần trôi đi, tất cả các liệu pháp đều đã thất bại
và cổ, ngực, bụng, nách, háng của ông Bright đầy khối u to bằng quả cam. Mạch khuyết cũng như gan của ông đã phình to và căn bệnh đang khiến ngực ông căng đầy dịch
hàng ngày buộc phải rút dịch ra, nếu không, ông sẽ không thể thở nổi. Tiến sĩ West nghĩ chắc ông không thể sống qua một tuần, nên đã bỏ cuộc và không muốn tiếp tục điều trị cho ông nữa.
Bright khảo khát được sống, ông biết tin bệnh viện đang thử nghiệm một loại thuốc chống ung thư mới tên Grabiozen. Ông cầu xin bác sĩ tìm loại thuốc mới này cho mình.
Nhưng vấn đề là thuốc chỉ được cung cấp trong các thử nghiệm lâm sàng cho những người được cho là còn sống ít nhất 3 tháng.
Bệnh của ông Bright đã quá nặng, ông không đủ điều kiện dùng loại thuốc này. Tuy nhiên Bright không bỏ cuộc, ông tin thuốc mới là cứu cánh cho mình.
Ông năn nỉ cho đến khi tiến sĩ West nhượng bộ và tìm cho mình mới thôi. Bright được tiêm vào thứ 6, 3 ngày sau khi tìm loại thuốc mới và thứ 2 khi quay lại bệnh viện.
Bác sĩ West đã bị sốc. Ông Bright, người vốn đang hấp hối và nằm đền giường với mặt nạ dưỡng khí. Giờ thì sao? Ông ấy đang đi lại trong phòng khám, nói chuyện và cười với y tá.
Bác sĩ đã kiểm tra và phát hiện khối u của Bright đã thu nhỏ một nửa chỉ trong vài ngày. Chúng nhũng ra như một quả cầu tuyết trên bếp lò nóng.
Mọi người trong bệnh viện đều không thể tin được, nhưng họ không cách nào phủ nhận những gì họ nhìn thấy.
Tuần đó, bác sĩ West đã hoàn thành 2 mũi tiêm khác cho ông Bright để hoàn thành quá trình điều trị bằng Grabiozen.
Sau 10 ngày, toàn bộ các bệnh chứng của Bright tiêu biến. Ông rất khỏe và được xuất viện về nhà.
Sau khoảng 2 tháng, Bright đột nhiên xem được bản tin nói. Quả thử nghiệm cho thấy thuốc Grabiozen không có hiệu quả chống ung thư.
Những khối u của ông nhanh chóng tái phát và trở lại tình trạng nghiêm trọng trước đây. Ông lại nhập viện với tâm trạng vô cùng ủ út và buồn bá.
Sau đó, bác sĩ nói với Bright sao có loại thuốc mới hiệu quả gấp đôi. Nhưng trên thực tế, bác sĩ đã tiêm một loại nước vô hại nhưng không có bất kỳ tác dụng nào của thuốc.
Kết quả lần điều trị này thậm chí còn ấn tượng hơn lần đầu tiên. Những khối u của Bright đã biến mất một lần nữa.
Chan dịch mang phổi cũng biến mất. Ông xuất viện lần thứ hai và sống rất khỏe mạnh trong 2 tháng tiếp đó.
Một ngày nọ, ông Bright lại nhìn thấy một tin khác. Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ chính thức thông báo rằng
sau một số lượng lớn các thử nghiệm lâm sàng, Grabiozen đã được xác định là không có tác dụng trong việc chống lại bệnh ung thư.
Sau khi xem báo cáo, những khối u của Bright đã tái phát trở lại và ông đã nhập viện vài ngày sau đó và chỉ trong vòng 2 ngày thì mất.
Vậy điều này rốt cuộc là gì? Nguyên nhân nào khiến ông Bright có hiệu quả thần kỳ trong khi những người khác thì không?
Và điều gì lại khiến ông khỏi rồi lại tái phát đột ngột như vậy?
Người xưa có câu, tin thì sẽ linh, không tin thì sẽ không linh. Vậy câu nói này rốt cuộc là giả dược.
Liệu thuốc xoa dịu hay đúng thật có chuyện như vậy?
Albert Mason là một bác sĩ người Anh chuyên về liệu pháp thôi miên.
Năm 1952, khi vừa mới tốt nghiệp không lâu, Mason mang theo mình đầy nhiệt thuyết.
Chàn đầy niềm tin với thôi miên trị liệu.
Một ngày nọ, cậu bé 15 tuổi bước vào phòng khám của ông Mason.
Vừa nhìn cậu bé, ông đã thấy rất kỳ lạ, bởi vì lúc đó là giữa trưa hè nóng như vậy,
mà cậu bé này khắp người từ trên xuống dưới cuốn kín mít, ngay cả đến cổ cũng không muốn để hở ra nữa.
Đợi cậu nhỏ cười áo ra xong, ông Mason đã vô cùng kinh ngạc,
bởi vì da rẻ khắp người cậu này sần sần sui sui, cứ giống như da voi vậy.
Cậu bé rất đau khổ nói với bác sĩ Mason, các bạn cùng trường hay cười nhạo cháu,
nói cháu hình dạng quái gở.
Do mắc căn bệnh kỳ quái này, đến mùa hè cậu bé không bao giờ dám đi bơi,
ngay cả chơi với bạn cũng không dám.
Sau khi kiểm tra cho cậu nhỏ, ông Mason chắc chắn cậu bé đã mắc căn bệnh mụn cóc.
Chỉ là loại mụn cóc này, bản thân bác sĩ cũng lần đầu nhìn thấy.
Bởi vì mụn cóc trên người cậu bé thực sự là quá nhiều, khắp cả người, không đâu không có.
Thế nhưng bác sĩ Mason trẻ tuổi lúc này, nhiều nhất là niềm tin.
Mụn cóc thôi mà, trước kia mình cũng từng gặp căn bệnh này rồi.
Thế là ông nói với cậu bé một cách chắc định rằng, không vấn đề, đảm bảo có thể chữa khỏi được cho cháu.
Nghe bác sĩ nói xong, cậu nhỏ mắt sáng bừng ngay.
Cậu nói với ông Mason, trước khi đến đây, cậu đã đi khám ngoại khoa rồi.
Gợi ý của bác sĩ là cậu bé phải đi làm phẫu thuật gây ghép da,
mà bác sĩ vẫn không thể đảm bảo có thể chữa khỏi được.
Bác sĩ Mason nghe xong cũng chẳng quan tâm, ông tràn trề niềm tin với bản thân.
Và thế là ông bèn chỉ định phương án điều trị cho cậu bé.
Ông đặt mục tiêu điều trị đầu tiên là vào cánh tay của cậu nhỏ.
Ông yêu cầu cậu ngồi lên kế và rất nhanh sau đó, cậu bé đã chìm vào trạng thái thôi miên.
Trong trạng thái thôi miên, bác sĩ Mason nói với cậu nhỏ,
da trên cánh tay cháu rất nhanh sẽ hồi phục thôi, sẽ biến thành làn da khỏe mạnh, hồng hào.
Một tuần sau, cậu bé rất phấn khởi quay lại.
Cậu sắn tay áo lên cho bác sĩ Mason coi.
Mụn cóc trên cánh tay hầu như đều đã biến mất rồi.
Để lộ da làn da mịn màng, trông rất khỏe mạnh.
Bác sĩ Mason cũng rất vui.
Ông cảm thấy như được tiếp thêm sức mạnh.
Còn cậu nhỏ cũng thêm niềm tin với bác sĩ Mason.
Nhân cơ hội này, bác sĩ đã chỉ định điều trị giai đoạn thứ 2 và giai đoạn thứ 3 cho cậu bé.
Câu chuyện của cậu bé hồi phục rất nhanh.
Khắp cả người chỉ có mấy chỗ cá biệt còn một vài mụn cóc cứng đầu.
Mason cho rằng mấy chỗ mụn cóc cứng đầu này bắt buộc phải đi làm phẫu thuật kép da thì mới khỏi hoàn toàn được.
Và thế là bác sĩ Mason quyết định đưa cậu bé đi khám ngoại khoa.
Hy vọng thông qua phẫu thuật là có thể loại bỏ hết những mụn cóc còn lại.
Ai ngờ đâu bác sĩ ngoại khoa cứ nhìn chăm chăm vào da cậu bé, đồi ra hồi lâu mà không nói lời nào.
Một lúc sau, ông kéo bác sĩ Mason ra một bên và hỏi.
Anh trần đoán bệnh của cậu bé thế nào vậy?
Mason nói, đương nhiên là mụn cóc rồi.
Ai ngờ rằng bác sĩ ngoại khoa lắc đầu lìa lịa, nói một tràng những lời khiến ông Mason quá đối ngạc nhiên.
Bác sĩ lắc lắc đầu nói, này anh, mụn cóc là không đúng đâu.
Bệnh của cậu bé này tên là bệnh vảy cá bẩm sinh, là một loại bệnh di truyền chết người, là loại bệnh không chữa được.
Bác sĩ Mason trợn tròn hai mắt, trời ạ, lẽ nào tôi trần đoán nhầm rồi sao?
Không vậy chứ.
Ông vội vã chạy đến khoa gia liễu của bệnh viện, lật hồ sơ bệnh án.
Ôi trời ạ, căn bệnh cậu bé mắc phải đúng thật là bệnh vảy cá bẩm sinh rồi, không phải mụn cóc.
Bác sĩ Mason nghĩ mãi mà không hiểu.
Bệnh của cậu bé khỏi hẳn rồi mà.
Tôi chữa khỏi cho cậu bé rồi mà.
Không phải loại bệnh không chữa được mà.
Không thể, tôi phải hỏi cho rõ mới được.
Và thế là ông Mason đã phát biểu trường hợp trị liệu đáng kinh ngạc này trên tạp chí Y khoa Anh 1952.
Bài viết của ông đã gây chấn động xôn xao tại Anh Quốc.
Các kênh truyền thông ngay tức khác vây quan Mason.
Chẳng mấy hồi, Mason đã nổi tiếng khắp nước Anh.
Và thế là một nhóm người mắc căn bệnh tương tự cũng đến chỗ ông xin được chữa trị.
Thế nhưng rất kỳ lạ, ông Mason không thể tạo ra kỷ tích một lần nữa.
Năm 2003, kênh khám phá sức khỏe đã phỏng vấn ông Mason, hỏi ông rằng tại sao sau đó lại không thành công nữa?
Ông Mason lúc đó tuổi đã xế chiều.
Ông nghiêng nghiêng đầu, nghĩ hồi lâu rồi đưa ra một đáp án.
Bởi vì niềm tin của tôi không đủ nữa.
Ông nói ban đầu khi ông tin rằng căn bệnh mà cậu bé mắc là mụn cóc thì tràn đầy niềm tin.
Thêm vào đó là cậu nhỏ cũng đầy niềm tin với ông, cho nên bệnh của cậu bé khỏi rất nhanh.
Thế nhưng ngay sau khi biết được sự thật, đứng trước bệnh nhân, mặc dù bản thân mình thể hiện ra là rất có niềm tin.
Nhưng đã biết bệnh vải cá bẩm sinh là bệnh không chữa khỏi, nên trong lòng cũng rất lan tăn.
Mặc dù trước mặt bệnh nhân vẫn tỏ ra là tự tin, nhưng đó chẳng qua cũng chỉ là diễn mà thôi.
Chứ vốn không còn là niềm tin phát ra từ tận đáy lòng nữa rồi.
Trong xã hội hiện đại thì niềm tin là thứ được quy về phương diện hình thái ý thức.
Nó không phải vật chất, và nếu nó đã không phải là vật chất thì sao có thể khởi tác dụng đối với cơ thể vật chất đây?
Sự hướng chủ đạo của giới khoa học hiện đại cho rằng vật chất và ý thức là chẳng có liên quan gì đến nhau.
Ý thức của con người không khỏi tác dụng gì đến cơ thể vật chất cả.
Nhận thức này là đến từ bậc thầy khoa học thế kỷ 17, Descartes.
Descartes cho rằng cơ thể vật chất hay cơ thể xác thịt là tuân theo đặc tính vật lý,
còn ý thức tâm linh thì lại là một bộ quy tắc khác.
Nó được cấu thành từ những thứ phi vật chất.
Khái niệm này của Descartes gọi là thuyết nhị nguyên tâm thân,
tức là cho rằng tinh thần và thể xác là hai cá thể riêng biệt.
Vậy thì thứ phi vật chất này rốt cuộc là gì?
Bản thân Descartes cũng không có đáp án.
Thế nhưng ông ta nói chỉ có vật chất mới có thể ảnh hưởng đến vật chất.
Vậy thì ý thức thứ phi vật chất sao lại có thể liên kết với cơ thể vật chất được chứ?
Descartes cũng cảm thấy rất khó hiểu.
Trong mấy trăm năm sau Descartes, giới khoa học đều tôn thờ cách nhìn này của ông,
cho nên các định luật vật lý của Newton bên trở thành chân lý duy nhất trong vật lý vũ trụ.
Cho dù là y học, sinh học hay kỹ thuật cơ khí cũng đều tuân theo các định luật vật lý,
ý thức hoàn toàn bị đẩy ra ngoài rìa, bởi vì chẳng ai biết nó là gì.
Năm 1949, nhà triết học Gilbert Wright đã viết một cuốn sách nghiên cứu về ý thức có tên
Khái niệm của tâm linh.
Trong sách, ông Wright đã giúp Descartes thiết kế một khái niệm gọi ý thức là bóng ma trong cỗ máy.
Khoa học y sinh hiện đại cũng tiếp nhận thuyết nhị nguyên tâm thân của Descartes,
bởi vì xét từ mặt y học, cơ thể là được sửa chữa y như một cỗ máy,
cũng giống như kỹ sư sửa xe ô tô, đó là thay thế, sửa chữa, bảo trì các phụ tùng linh kiện.
Như vậy thì tương đối dễ, nếu như để bác sĩ đối diện với cái gọi là bóng ma trong cỗ máy kia thì quá đáng sợ.
Ai có thể sờ đến được bóng ma cơ chứ, chứ đừng nói là sửa chữa.
Tuy nhiên, sau khi người ta phát hiện quy luật của thế giới lượng tự,
thì đã bắt đầu suy ngâm lại cách nói của Descartes.
Thân và tâm thực sự là tách rời nhau sao? Thực sự là một hệ nhị nguyên không ăn nhập với nhau hay sao?
Chúng ta cần biết rằng, các điện tử Electron nhỏ tí xíu, khối lượng vật chất hầu như không có,
thế nhưng chúng lại có thể biểu hiện ra trạng thái, có ý thức.
Điển hình nhất chính là thí nghiệm khe đôi nổi tiếng.
Cộng đồng mạng xưng nó là thí nghiệm có chỉ số tâm linh kỳ dị không ngừng tăng cao.
Thí nghiệm rất đơn giản, đó là phóng Electron lên màn hình thông qua hai khe hẹp.
Khi bạn bật camera quan sát nó, thì trên màn hình hiện thị ra hai dải ánh sáng rõ ràng.
Còn khi bạn tắt camera giám sát đi, thì trên màn hình hiện thị là các đường vần giao thoa nhau.
Chẳng có lẽ điện tử bé tí xíu biết có người đang quan sát nó sao?
Khi các anh nhìn tôi, tôi sẽ biểu hiện trạng thái các hạt.
Còn lúc anh không nhìn tôi, tôi sẽ tung hê chính mình, biến thành các vần sóng sao.
Các nhà vật lý lượng tử hiện đại nghi ngờ rằng, lượng tử là có ý thức,
mà ý thức chính là một dạng năng lượng.
Cho nên ý thức con người có thể khởi tác dụng đến thế giới vật lý lượng tử.
Từ đó đã cung cấp một góc độ giải thích hoàn toàn mới đối với vấn đề mà đề khác không cách nào giải thích được.
Đó là ý thức phi vật chất làm sao mại ngưỡng vật chất được.
Ngoài ra, Y học hiện đại cũng phát hiện,
quan niệm cưỡng ép tách rời cơ thể và ý thức của con người có thể cần phải điều chỉnh lại rồi.
Vào thế kỷ 19, hai bác sĩ người Đức là Robert Koch và Louis Pasteur cùng sáng lập ra lý thuyết mầm bệnh.
Họ cho rằng vi sinh vật là nguyên nhân chính khiến con người mắc bệnh.
Ví dụ, ông Koch nói vi khuẩn tả là thủ phạm chính của bệnh tả,
khiến con người tiêu chảy, thậm chí dẫn đến tử vong.
Tuy nhiên, một đồng nghiệp của ông Koch là một kẻ mạnh,
ông ta vẫn luôn không đồng tình với nghiên cứu của Koch,
cho rằng lý thuyết mầm bệnh là vớ vẩn.
Một ngày nọ, vì để chứng minh Koch đã sai,
kẻ mạnh đứng trước mặt ông Koch đổ vi khuẩn tả vào cốc nước của mình
và rồi ngừa cố lên ức ức ức uống sạch cốc nước,
khiến ông Koch cũng sững sở.
Ông nghĩ con người đầu óc không tỉnh táo này,
chắc chắn hôm sau sẽ nằm bẹp sướng luôn cho mà xem.
Bởi vì bệnh tả chính là truyền nhiễm qua nguồn nước,
nếu không trị liệu kịp thời, sẽ có thể trị trong vòng vài tiếng là tiêu đời.
Kết quả đến hôm sau, người đồng nghiệp nhảy nhót lăng xăng xuất hiện trong phòng thí nghiệm của ông.
Ngày thứ ba, ngày thứ tư, đồng nghiệp vẫn nhảy nhót vui vẻ, trông có vẻ chẳng sao cả.
Lúc này thì đầu óc ông Koch có chút quay cuồng,
ông cũng không biết nên giải thích chuyện này như thế nào nữa.
Dù cho đến thế kỷ 21 ngày nay, y học cũng không cách nào giải thích nổi.
Một bài viết trên tạp chí khoa học còn từng trích dẫn sự kiện này.
Sau khi trích dẫn căn cứ nổi bật, trình bày phân tích một đoạn dài,
cuối cùng rút ra được kết luận, không có lời giải đáp.
Đương nhiên, chắc chắn không phải chúng ta nói cách làm nuốt vật thể gây bệnh vào trong bụng là đúng.
Việc này chắc chắn là quá liều lĩnh.
Điều muốn nói ở đây là, giống trải nghiệm của bác sĩ Mason nói ở phía trước.
Khi niềm tin của một người mạnh đến một mững độ nào đó,
thì thực sự có khả năng phát huy tác dụng nhất định đối với cơ thể vật chất này.
Vậy thì về phương diện này, hiệu quả rõ rệt nổ chỗ nhất chắc là thuộc về hiệu ứng giả dược.
Nguyên lý của giả dược rất đơn giản.
Ví dụ, bác sĩ phát hiện bệnh nhân nào đó thực ra không cần phải uống thuốc là có thể khỏi bệnh hoàn toàn.
Thế nhưng bệnh nhân mà không uống thuốc thì lại cảm thấy bệnh của mình không thể khỏi được.
Làm thế nào đây?
Bác sĩ bèn kê cho họ mấy viên vitamin hoặc viên kẹo.
Nói với họ loại thuốc này có thể chữa bệnh của anh chị.
Nhớ mỗi ngày uống mấy lần, mỗi lần mấy viên đấy nhé.
Kết quả mấy hôm sau, người bệnh nhân này thực sự đã hồi phục.
Y học bèn gọi loại nguyên lý làm việc của thuốc xoa dịu này là hiệu ứng niềm tin.
Gọi các loại vitamin hay kẹo viên được kê cho bệnh nhân là thuốc xoa dịu hay giả dược.
Tuy nhiên rất nhiều bác sĩ vẫn cho rằng giả dược chính là ám thị tâm lý.
Không được tính là phương pháp trị liệu hữu hiệu.
Không biết chừng còn tạo ra các lang băm hay kẻ lờ bịp.
Gần đây, một số chuyên viên nghiên cứu y học chủ lưu ngày càng quan trọng thuốc giả dược.
Bắt đầu chăm chú nghiên cứu về nó.
Tại Viện Y học BL nước Anh có một bác sĩ tên Bruce Moseley.
Năm 2002, trên tạp chí Y học New England, ông đã phát biểu một thành quả nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là một nhóm bệnh nhân mắc chứng bệnh đau đầu gối.
Phương pháp hiệu quả điều trị đau đầu gối duy nhất chính là phẫu thuật.
Thông thường, bác sĩ ngoại khoa sẽ mở khớp gối của bệnh nhân, loại bỏ sụn bị hư hỏng,
rồi lại dùng thuốc đặc trị để sửa khớp gối, loại bỏ đi những vật chất gây tổn thương đầu gối.
Cuối cùng, khâu khớp lại để bệnh nhân dần dần hồi phục.
Điều mà bác sĩ Moseley rất muốn biết đó là rốt cuộc bước nào trong phẫu thuật mới là phần khởi tác dụng chủ chốt nhất.
Là bước cắt bỏ sụn hỏng hay là sửa khớp.
Bởi vì biết được khâu có tác dụng chủ chốt rồi thì sẽ khiến cho việc điều trị sau này trở nên đơn giản hơn.
Vì vậy, bác sĩ Moseley đã chia bệnh nhân thành 3 nhóm.
Nhóm thứ nhất chỉ bỏ sụn hỏng đi.
Nhóm thứ hai chỉ sửa khớp gối.
Bác sĩ cũng nói rõ tình hình thực tế cho bệnh nhân để họ biết mình chỉ làm một nửa phẫu thuật thôi.
Còn nhóm thứ ba thì rất đặc biệt là nhóm xoa dịu hay giả dược.
Để cho bệnh nhân tiếp nhận phẫu thuật giả, bác sĩ chẳng làm gì cả.
Nhưng Moseley thì nói với bệnh nhân là họ đã trải qua toàn bộ trị liệu.
Đương nhiên vì để nhóm bệnh nhân tổ ba yên tâm, bác sĩ Moseley đã thực hiện phẫu thuật mô phỏng để bệnh nhân gây tê cục bộ.
Đúng là cũng đã phẫu thuật mở đầu gối ra và rồi bác sĩ Moseley mô phỏng âm thanh rửa khớp.
Sau khi tiến hành phẫu thuật giả này được 40 phút, Moseley giúp bệnh nhân khâu lại vết mổ.
Trông như họ đã hoàn thành phẫu thuật.
Bệnh nhân cũng rất hài lòng cho rằng mình đã tiếp nhận phẫu thuật trị liệu hoàn chỉnh.
Sau đó bác sĩ Moseley sắp xếp chăm sóc hậu phẫu cho cả ba nhóm, bao gồm kế hoạch rèn luyện, hồi phục.
Kết quả đến ngày biết đáp án khiến cho đầu bác sĩ Moseley muốn bùng nổ.
Tình hình của ba nhóm bệnh nhân đều có cải thiện như dự kiến.
Nhưng điều khiến cho người ta khó tin nhất đó là nhóm thứ ba, nhóm mà chỉ tiếp nhận trị liệu giả dựa kia
thì tình trạng đầu gối bệnh nhân cải thiện tốt y như hai nhóm còn lại.
Kết quả này khiến Moseley thấy rất khó hiểu.
Bởi vì tại Mỹ hàng năm có 650.000 trường hợp phẫu thuật phim khớp như thế này.
Chi phí trung bình cho mỗi ca phẫu thuật là 5.000 USD.
Nhưng phẫu thuật cũng không có tác dụng cực kỳ lý tưởng.
Nhưng chỉ hiệu ứng giả dựa đã đủ để giúp họ hồi phục sức khỏe rồi.
Thực ra về các cách trị liệu ngoài thuốc thì trước kia chúng ta cũng từng nói đến rồi.
Chỉ là không biết vì sao mà những phát hiện, phát minh này sau đó đều gặp một cái kết không có hậu.
Sau này đài truyền hình cũng đã phỏng vấn bác sĩ Moseley.
Ngoài ra còn phỏng vấn một số bệnh nhân tiếp nhận trị liệu giả dược.
Họ phát hiện nhóm điều trị giả dược khi họ đi bộ, thậm chí là đánh bóng rổ cũng không vấn đề gì.
Họ đều thật tâm cho rằng phẫu thuật của bác sĩ Moseley đã giúp họ hồi phục sức khỏe.
Có thể làm nhiều việc mà trước kia họ không thể làm được.
Hai năm sau đó, bác sĩ Moseley đã nói sự thật cho những bệnh nhân nhóm giả dược.
Nhưng lúc này họ đã hồi phục tương đối ổn rồi.
Một người tên là Perez, trước khi phẫu thuật thì còn phải chống nạn khi đi bộ.
Sau phẫu thuật giả, thậm chí ông còn đánh bóng rổ cùng các cháu được nữa.
Ngay cả đến chạy vượt, nhảy cũng đều rất trơn chu, hoàn toàn giống như người bình thường.
Sau đó ông Perez cũng tiếp nhận phỏng vấn của kênh Khám phá sức khỏe.
Ông nói trên thế giới này, chỉ cần bạn đặt tâm mà làm thì mọi thứ đều có khả năng.
Tôi biết bộ não của bạn có thể tạo ra kỳ tích.
Anh hùng dân tộc nổi tiếng Ấn Độ Mahamat Gandhi từng nói một câu dành nguồn như thế này.
Niềm tin của bạn trở thành tư tưởng của bạn.
Tư tưởng của bạn trở thành ngôn ngữ của bạn.
Ngôn ngữ của bạn trở thành hành động của bạn.
Hành động của bạn trở thành thói quen của bạn.
Thói quen của bạn trở thành giá trị quan của bạn.
Và giá trị quan của bạn trở thành số phận của bạn.
Cho nên câu nói cổ xưa tin thì sẽ linh, xem ra cũng là có lý.
Sức mạnh của niềm tin và ý thức thực sự có thể chi phối cả đời người.
Có người nói niềm tin có thể thay đổi cuộc đời sao?
Có niềm tin rồi thì không chỉ nghĩ là được, cần có hành động đúng đắn nữa.
Còn không biết bạn thì có suy nghĩ như thế nào?
Bạn có tin ý thức có thể ảnh hưởng đến vật chất?
Hay là nói ý thức cũng chính là vật chất, chứ không phải vật chất là đệ nhất tính?
Hãy nghe các bạn cùng chia sẻ suy nghĩ của mình ở phần bình luận phía bên dưới video nhé!
Và phần chia sẻ của chúng ta ngày hôm nay xin tạm dừng tại đây thôi.
Nếu bạn thấy video này hoặc những nội dung độc quyền trên kênh Miss Ruby kanjingua của chúng ta thực sự hữu ích,
thì xin hãy chia sẻ cho một người bạn của mình cùng tìm hiểu đó nha!
Xin cảm ơn các bạn rất nhiều, xin chào và hẹn gặp lại!