CHƯƠNG 10 : Pháp Luật | Ma Quỷ Đang Thống Trị Thế Giới Của Chúng Ta | THIÊN KIẾM TRẢM HỒNG MA

Cửu Bình T&V
113 Người theo dõi
684 Lượt xem video·12 thg 7, 2025
www.9binh.com
Mạc quỷ đang thống trị thế giới của chúng ta.
Chương 10 Pháp luật
Mạc quỷ hợp pháp hóa và bình thường hóa tả.
1 Pháp luật và tín ngưỡng
Pháp luật là công cụ cứng rắn để duy trì sự công bằng, chính nghĩa,
chứng trị kẻ ác, khuyến khích người thiện.
Do đó, người xây dựng pháp luật không thể không đưa ra định nghĩa về thiện và ác.
Đối với những người tin vào Thần thì tiêu chuẩn thiện ác nằm trong tay của Thần.
Vì thế, các kinh sách trong tôn giáo tự nhiên đã trở thành căn cứ và nguồn gốc của pháp luật.
Bộ pháp điển đầu tiên trong lịch sử nhân loại
được ghi chép thành sách là bộ pháp điển Hammurabi của Babylon cổ đại.
Phần đỉnh của bia đá khác bộ pháp điển
là hình vẽ miêu tả cảnh Thần Thái Dương Sammas,
cũng là Thần Công Lý của Babylon,
đang chuyển thủ pháp luật cho vua Hammurabi.
Ngụ ý là Thần đã tuyển chọn Hammurabi
và trao cho ông quyền lực để trị vì Thần dân bằng pháp luật.
Người Hebrew coi mười điều dân của Moser trong Kinh Kiều Ước
là lời dân của Thần và cũng là pháp luật.
Pháp luật phương Tây cũng đi theo truyền thống này.
Từ các hoàng đế La Mã vào thế kỷ thứ tư sau Công Nguyên đến Justin
và những người kế tục ông vào thế kỷ thứ sáu đến thế kỷ thứ tám sau Công Nguyên,
cho đến vua Arnfurt Đại Đế, vị vua của người Arnhold Sajson,
trong lịch sử nước Anh cũng đều lấy mười điều dân của Moser
và tinh thần giáo nghĩa của cơ độc giáo làm căn cứ để xây dựng pháp luật.
Trong mắt những người tín thần, quy định pháp luật cụ thể phải phù hợp với quan niệm về thiện, ác,
mà Thần đặt ra và tinh thần giáo nghĩa trong tôn giáo.
Nếu không, thì không nên tuân thủ mà nên xóa bỏ pháp luật này.
Trong phong trào không hợp tác ở Mỹ vào thế kỷ trước,
nguồn tư tưởng của nó có thể bắt đầu từ tư tưởng của các tín đồ cơ độc thời kỳ đầu.
Tức là, khi hoàng đế La Mã ra lệnh cho các tín đồ cơ độc phải thờ phụ thần của La Mã
thì tín đồ cơ độc giáo thả bị đóng đinh lên thập tự giá hoặc bị hỏa thiêu chứ không tuân thủ quy định pháp luật này
vì nó trực tiếp xung đột với điều dân thứ nhất và điều dân thứ hai trong 10 điều dân của Moser.
Nói cách khác, quan hệ giữa pháp luật của Thần và pháp luật của con người thế tục
là quan hệ giữa pháp luật bên trên và pháp luật bên dưới.
Pháp luật của Thần là tiêu chuẩn tối cao và không thể đi ngược lại.
Về cơ bản, 10 điều dân của Moser có thể phân thành 2 phần.
4 điều trước nói về mối quan hệ giữa Thần và người.
Tức là, con người nên yêu miến Thần và tôn kính Thần như thế nào.
6 điều sau nói về quan hệ giữa người với người.
Tức là điều mà Giê-xu nói cần yêu thương người khác như yêu bản thân mình.
Trong đó, căn bản là con người cần phải kính Thần.
Nguyên tắc công bằng chính nghĩa mà Thần chủ trì là vĩnh hàng, bất biến.
Có như vậy thì nền tảng đạo đức pháp luật của con người mới có thể ổn định, vững chắc.
Nguyên tắc công bằng chính nghĩa tối căn bản của pháp luật
qua các thời đại mới không bị bóp méo, bẻ cong, thậm chí biến đổi hoàn toàn.
Ở Trung Quốc cũng vậy.
Trong lịch sử, người đặt định ra pháp luật là thiên tử
phải tuân theo thiên ý, tuân theo quy luật vận hành của thiên địa.
Cũng chính là đạo mà Hoàng đế và Lão Tử giảng.
Nhà đại nho học thời Hán Đồng Trọng Thư nói
Đạo chi đại, nguyên suất ư thiên.
Thiên bất biến, đạo diệt bất biến.
Đạo bắt nguồn từ trời. Trời bất biến, đạo cũng bất biến.
Thiên trong quan niệm của người xưa Trung Quốc
không phải là lực lượng tự nhiên triều tượng,
mà là thần, chúa tể của vạn vật.
Tín ngưỡng đối với thiên đạo là cơ sở đạo đức của văn hóa Trung Quốc.
Bởi vậy, chế độ chính trị pháp luật sinh ra từ đó
đã ảnh hưởng tới lịch sử hàng nghìn năm của Trung Quốc.
Berman, học giả pháp lý người Mỹ cho rằng
tác dụng của pháp luật phụ thuộc vào việc
nó tuân theo quan niệm đạo đức xã hội phổ biến
và các chuyển mực trong tín ngưỡng.
Ông cho rằng pháp luật và tôn giáo
mặc dù là hai lĩnh vực khác nhau,
nhưng sự phát triển thịnh vượng của bất cứ lĩnh vực nào
cũng không thể tách rời lĩnh vực kia.
Trong bất cứ xã hội nào,
pháp luật luôn cần nhờ vào những quan niệm của con người,
những quan niệm liên quan đến sự vật thần thánh
để khích lệ con người hết mình cống hiến cho chính nghĩa.
Nói một cách đơn giản,
pháp luật phải có tính quyền uy.
Tính quyền uy của nó đến từ sự công bằng chính nghĩa,
mà công bằng chính nghĩa là do thần mang lại.
Vì thế mà pháp luật không chỉ có tính chính nghĩa,
mà còn có tính thần thánh.
Pháp luật trong xã hội hiện đại
vẫn còn giữ rất nhiều nghi thức giống với tôn giáo,
cũng là để mượn tính thần thánh của tôn giáo
để làm tăng thêm uy quyền cho pháp luật.
2. Pháp luật là công cụ bạo lực chính quyền
của các quốc gia cộng sản.
Đảng Cộng sản là tà giáo phản lại thần.
Vì thế, nó chắc chắn sẽ không lấy những lời giáo huấn
của chính thần làm căn cứ để quy định pháp luật.
Đảng Cộng sản cũng phải cắt đứt mối quan hệ
với văn hóa của Tổ tiên trước đây.
Vì thế, nó phản đối các giá trị đạo đức truyền thống.
Điều này khiến cho pháp luật của Đảng Cộng sản
ngay từ đầu đã bị mất đi khả năng duy hộ
sự công bằng và chính nghĩa.
Mục 2.1
Chủ nghĩa khủng bố quốc gia đứng trên cơ điểm thủ hận
và vượt trên pháp luật.
Trong xã hội truyền thống, cơ đốc giáo dạy
thương người như thể thương thân.
Nhò ra rằng, nhân giả ái nhân,
người nhân nghĩa yêu thương người khác,
yêu thương ở đây không phải bó hẹp
trong tình yêu nam nữ
hoặc tình yêu giữa bạn bè gia đình
mà bao hàm cả lòng từ bi, cảm thông,
công bằng, chính nghĩa
và sự hy sinh bản thân v.v.
Quy định pháp luật xuất phát từ quan điểm này
không chỉ thể hiện tính thần thánh
mà cũng thể hiện tinh thần tương thân tương ái
Không pháp luật nào có thể bao quát hết tất cả
những tranh chấp đã và đang sắp xảy ra
và đưa ra các phán quyết phù hợp.
Vì thế, pháp luật không chỉ là những quy tắc
điều khoản cụ thể mà còn cần thêm vào
những nhân tố chủ quan của tất cả
những người tham gia.
Điều này yêu cầu quan tòa phải xuất phát
từ tinh thần pháp luật để đưa ra phán quyết
trên nguyên tắc thiện.
Giê-xu từng đứng trong thánh điện Giê-lu-gia-lem
mà lên ám mạnh mẽ những người
Pariser ngụy thiện.
Bởi vì những người này mặc dù nghiêm túc
tuân thủ những quy tắc bề mặt của luật pháp
Moser, nhưng lại bỏ qua những
phẩm chất, đức hạnh cần có trong pháp luật
như công bằng, chính nghĩa,
cảm thông, thành thật, v.v.
Còn Giê-xu lại không câu nệ
những ý tứ bề mặt.
Ông hành y cứu người vào ngày Sabbath
sống cùng những người không phải người do Thái
bởi vì điều ông quan tâm là
tinh thần thiện trong pháp luật.
Chủ nghĩa Cộng sản lại hoàn toàn
tương phản lại bởi vì nó được kiến lập
trên cơ sở thù hận.
Nó không chỉ thù hận thần,
nó cũng thù hận luôn cả văn hóa,
phương thức sinh sống và tất cả
những giá trị truyền thống mà thần tạo ra cho con người.
Marx cũng không e rè
nói rằng ông ta muốn phá hủy thế giới
thành một đống hỗn độn và tưởng tượng
bản thân là một đống tạo hóa
phải bước đi trên đống hỗn độn này.
Neuschauer,
người cách mạng điên cuồng thời kỳ xa hoàng
trong cuốn Hỏi đáp về giáo nghĩa
cách mạng đã nói.
Người cách mạng đã cắt đứt mọi liên hệ
với xã hội, thế giới văn minh,
pháp luật cùng thói quen,
nghi lễ và quy phạm đạo đức xã hội.
Người cách mạng là một kẻ tử thù.
Anh ta sống như vậy
để có thể phá hủy cả xã hội.
Neuschauer thể hiện rõ
sự thù hận của người cách mạng
đối với thế giới này.
Ông ta không còn chịu ước chế bởi bất cứ luật pháp nào.
Ông ta sử dụng những từ ngữ
tôn giáo bề mặt như giáo nghĩa
để thể hiện ông ta muốn kiến lập
một tà giáo thù hận thế giới.
Ông ta tuyên bố,
những người còn có sự cảm thông
đối với bất kỳ sự vật nào
thì không thể được coi là người cách mạng.
Lenin cũng đã thể hiện quan điểm tương tự như thế.
Chuyên chính là sự thống trị
trực tiếp dựa trên bạo lực
và không chịu bất cứ hạn chế nào
của pháp luật.
Chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản
là thông qua việc sử dụng bạo lực
chống lại giai cấp tư sản
để giành lấy và duy trì quyền thống trị.
Sự thống trị này không chịu
bất kỳ hạn chế nào của pháp luật.
Sử dụng quyền lực quốc gia
để tùy ý giết chóc,
sử dụng cực hình, trừng phạt tập thể
mà không chịu hạn chế nào của pháp luật.
Kỳ thực chính là chủ nghĩa khủng bố quốc gia
cực kỳ tàn nhẫn, khốc liệt.
Đây là bước đầu tiên mà những quốc gia
theo chủ nghĩa cộng sản đều phải đi.
Ví dụ năm 1917,
một tháng sau khi những người Bolshevik
đám quyền, số người bị sát hại
do nguyên nhân chính trị đã lên tới
hàng trăm nghìn người.
Ủy ban đặc biệt Toàn Nga được thành lập
vào tháng thứ hai gọi tắt là Cheka,
có quyền tùy ý giết người
mà không cần qua xét xử.
Từ năm 1918 đến năm 1922,
Cheka đã giết
ít nhất 2 triệu người.
Jacob Le, nguyên Cố vấn Tổng thống,
Ủy viên Bộ Chính trị và Bộ trưởng
Bộ Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản
Điên Xô trong cuốn sách
Chủ nghĩa Bolshevik và phong trào cách mạng Nga
là một chén rượu đắng đã dự báo.
Chỉ trong thế kỷ này,
nước Nga sẽ có khoảng 60 triệu người chết
do chiến tranh, nạn đói và chấn áp.
Theo số liệu tính toán
được công khai, số người chết
do bị Đảng Cộng sản Liên Xô đàn áp và bức hại
vào khoảng 20 đến 30 triệu người.
Năm 1987,
Bộ Chính trị Liên Xô
đã thành lập một ủy ban
để tra xét lại một số vụ án oan
dưới thời Đảng Cộng sản Liên Xô.
Jacob Le cũng là một thành viên trong ủy ban đó.
Sau khi tra xét lại
hàng trăm nghìn hồ sơ,
Jacob Le viết
Lâu nay tôi luôn không thể thoát khỏi một cảm giác.
Dường như những kẻ tổ chức những hành vi bạo lực
là một nhóm người thần kinh không bình thường.
Nhưng tôi biết rõ ràng
giải thích như thế chỉ là đơn giản
hóa một vấn đề nguy hiểm.
Nếu chúng ta dịch sát nghĩa hơn
những phát ngôn của Jacob Le,
có nghĩa là những hành vi bạo lực đó
không phải xuất phát từ tư duyên bình thường của con người,
cũng không phải là sự kích động nhất thời,
mà là kế hoạch tỉ mỉ.
Không phải xuất phát từ nhiệt tâm
muốn xây dựng một thế giới tốt đẹp,
mà xuất phát từ lòng thù hận thấu xương
đối với sinh mệnh.
Những người thúc đẩy chủ nghĩa Cộng sản này
không phải vì thiếu hiểu biết,
mà vì họ quá tàn ác.
Sau liên xô các quốc gia theo chủ nghĩa Cộng sản,
điển hình là Trung Quốc,
Campuchia và Triều Tiên
đều thực hiện chủ nghĩa khủng bố quốc gia
không chịu ước chế bởi pháp luật.
Trong cuốn sách Cửu Bình,
bài bình luận số 7,
lịch sử giết người của Đảng Cộng sản
đã liệt kê những hành vi còn tàn bạo hơn nữa.
Chỉ trước khi Đảng Cộng sản Trung Quốc
tiến hành cải cách mở cửa,
chúng đã khiến cho 60-80 triệu người chết
bất thường,
gấp đôi tổng số người chết
trong hai cuộc chiến tranh thế giới.
Mục 2.2
Tiêu chuẩn đúng sai liên tục biến hóa
Nếu như nói, để hoàn thành mục đích cuối cùng
của chủ nghĩa Cộng sản
để thực hiện chủ nghĩa khủng bố quốc gia trong nước,
Đảng Cộng sản có thể tùy tiện
dẫm đạp lên pháp luật.
Vậy thì khi giao lưu với xã hội tự do
thông qua hợp tác thương mại,
giao lưu văn hóa và chính trị,
nó lại khoác lên mình chiếc áo pháp luật
để tiến hành thâm nhập và lật đổ
các quốc gia phương Tây.
Ví dụ như bộ luật tố tụ hình sự
lần đầu tiên của Trung Cộng được ban hành
vào năm 1979,
tức là được thông qua sau khi cải cách mở cửa.
Trên bề mặt là để đạt được
chính nghĩa có trật tự,
kỳ thực Trung Cộng lại không hề nghiêm chỉnh
khi chấp hành bộ luật này.
Marx cũng không e dè nói
pháp luật là thể hiện ý chí của giai cấp thống trị,
là sản phẩm của xã hội giai cấp,
là công cụ của giai cấp thống trị.
Vì thế, luật pháp của Đảng Cộng sản
không hề bắt nguồn từ thần,
cũng không xuất phát từ tình yêu thương với con người,
càng không phải là vì duy hộ công bằng,
chính nghĩa.
Phía trên luật pháp này không có sự cánh tình,
ước thúc của thần và của luân lý xã hội,
mà chỉ có lợi ích của giai cấp thống trị,
tức là lợi ích của Đảng Cộng sản,
mà lợi ích có thể biến động bất cứ lúc nào.
Tất nhiên,
nó cũng khiến cho pháp luật biến động bất cứ lúc nào.
Bởi vậy,
chúng ta không khó lý giải
việc Trung Cộng khi vừa mới đoạt được chính quyền
để cướp đoạt tài sản của nhân dân
trên hình thái ý thức đã lấy đấu tranh giai cấp
làm cường lĩnh.
Từ đó, về pháp luật đã thiết lập ra
tội phản cách mạng,
quy tất cả những người chống lại hành vi cướp đoạt này
vào nhóm người phản cách mạng
để bắt giam thậm chí hành quyết họ.
Sau khi hoàn thành việc cướp đoạt
với danh nghĩa chế độ công hữu,
Trung Cộng cần phải tiếp tục nhét tiền đầy tốn mình.
Vì thế, trên hình thái ý thức
đã sửa thành lấy xây dựng kinh tế
làm trung tâm và đề xuất ra
luật pháp bảo đảm quyền sở hữu
tài sản tư nhân.
Về bản chất chẳng qua là bảo vệ sự giàu có
của nó nhờ tước đoạt tài sản toàn dân.
Còn tài sản của nhân dân
thường lại không hề được bảo vệ.
Các vụ án cưỡng chế phá bỏ nhà dân
nhiều vô kể
chính là minh chứng cho việc chính phủ
dùng bạo lực xâm phạm tài sản của nhân dân.
Đầu năm 1999,
Trung Cộng đề xuất muốn dùng pháp trị quốc
nhưng không đến vài tháng sau
chúng lại mạnh tay đàn áp những người dân
tu luyện pháp luân công tin vào Trần Thiện Nhẫn.
Thành lập phòng 610,
một tổ chức Gestapo
đứng trên ủy ban chính trị và pháp luật,
thao túng ủy ban chính trị và pháp luật,
huy động mọi nguồn lực quốc gia
để bức hại pháp luân công
mà hoàn toàn không đếm xỉa đến pháp luật.
Nhằm che giấu những tội ác
đẫm máu của mình,
Trung Cộng cần không ngừng tạo ra những kẻ thù địch
với mục tích uy hiếp và
thẳng tay đàn áp dân chúng.
Đối tượng đàn áp thay đổi từ địa chủ,
nhà tư bản đến học sinh sinh viên
trong sự kiện ngày 4 tháng 6
cho đến những người tu luyện pháp luân công
và những luật sư nhân quyền.
Vì thế mà pháp luật cũng phải thay đổi theo.
Trong vòng hơn 60 năm,
Trung Cộng đã ban hành 4 bộ hiến pháp.
Bộ hiến pháp thứ tư
được ban hành năm 1982
nhưng cũng đã được sửa đổi 4 lần.
Hết cuộc vận động chính trị này
đến cuộc vận động chính trị khác
đã được Trung Cộng dùng danh nghĩa pháp luật
để trang trí tố vẽ thêm,
thậm chí có lúc nó không buồn cả tố vẽ.
Mục 2.3 Đảng Cộng sản
không bao giờ nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
Để thể hiện tinh thần pháp trị
mở cửa kết giao với quốc tế,
Đảng Cộng sản vẫn luôn quy định ra
một số điều khoản pháp luật bề ngoài
có vẻ đường hoàng.
Nhưng nó không bao giờ thực sự chấp hành những quy định này.
Ví dụ như quy định về tự do tiếng ngưỡng,
tự do ngôn luận,
tự do hội họp, v.v.
trong hiến pháp của nó.
Marx đã cho rằng pháp luật là thể hiện
ý chí của giai cấp thống trị,
là công cụ của giai cấp thống trị.
Vậy thì, việc tùy tiện dùng pháp luật
để đàn áp và đối phó với kẻ thù
trong hệ thống pháp luật của Đảng Cộng sản
cũng là tất nhiên và cũng là chính đáng.
Hệ thống này đã quyết định rằng
bất kỳ ai một khi đã khiêu chiến
với ý chí của giai cấp thống trị,
tức là lợi ích của Đảng Cộng sản,
thì lập tức trở thành đối tượng
bị đàn áp theo pháp luật.
Cho dù đó là công nhân thất nghiệp,
quân nhân chuyên nghiệp,
nông dân mất ruộng đất, luật sư nhân quyền
hay một người dân thấp cổ bé họng
không may mắn nào đó.
Từ góc độ luật sư mà nhìn,
các điều khoản pháp luật trên văn tự
chưa bao giờ có hiệu lực mạnh mẽ hơn hiện thực.
Bởi vì khi bạn viện dẫn
các văn bản pháp luật
và theo đuổi tính chính nghĩa trong đó
thì những điều mà các thẩm phán và kiểm sát viên
nói với bạn lại là
tinh thần pháp luật của Trung Cộng
mặc dù họ không hiểu ngôn ngữ học thuật nhò nhã
nhưng họ sẽ nói với bạn
bằng ngôn ngữ trắng trợn, trần trụi rằng
tòa án là do Đảng Cộng sản lập ra
vì thế phải nghe lời Đảng.
Những người này cho dù nói một cách vô thức
nhưng những lời họ nói
Câu cửa miệng của các thẩm phán Trung Cộng
khi xử lý các vụ việc liên quan đến pháp luân công là
Anh giảng giải pháp luật với tôi làm gì?
Tôi nói cho anh hiểu về chính trị
Đảng không cho biện hộ
Lời nói của người lãnh đạo chính là pháp luật
Tòa án cũng do Đảng Cộng sản lãnh đạo
phải nghe theo Đảng
Vấn đề pháp luân công
có thể không tuân theo trình tự pháp luật
Anh đừng nói với tôi về lương tâm
Nhà chết học người Anh
Một cuộc xét xử không công bằng
gây ra hậu quả xấu
thậm chí còn lớn hơn rất nhiều việc nhiều lần phạm tội
Bởi vì phạm tội tuy coi thường pháp luật
nhưng chỉ giống như làm ô nhiễm dòng nước
Còn xét xử không công bằng
tức là phá hoại pháp luật
giống như làm ô nhiễm nguồn nước
Do pháp luật của Đảng Cộng sản
liên tục thay đổi
Đảng có thể chấp hành một số quy định pháp luật
nhưng có những quy định nó lại không hề chấp hành
Vì vậy, thứ pháp luật này
có thể nói là không có tính thần thánh nào
Huấn hồ, thứ công cụ
của giai cấp thống trị thể hiện tinh thần pháp luật
do Đảng Cộng sản tạo ra này
đã gây ra rất nhiều vụ án oan
trong hơn 60 năm, thậm chí gần
100 năm qua
Nó đã gây ra món nợ máu mà tất cả những người cầm quyền
kế tục danh hiệu Đảng Cộng sản phải trả
Đó là 80 triệu đến
100 triệu linh hồn oan khuất
Nhìn từ nguyên tắc cơ bản nhất
giết người đền mạng, nợ tiền phải trả
Nếu Đảng Cộng sản muốn nghiêm túc
thực thi pháp trị, cai trị bằng pháp luật
thì trước tiên nó phải đối mặt
với việc chính nó phải bị truy cứu
trách nhiệm trước pháp luật. Vì thế
Đảng Cộng sản lại càng không dám
thực sự chấp hành pháp luật mà nó quy định ra
Nếu như nói ở những quốc gia Cộng sản
pháp luật là công cụ mà ma quỷ
có thể tùy ý chơi đùa
dùng để duy trì sự thống trị
củng cố hình thái ý thức và đàn áp
người dân, thì ở các quốc gia
tự do, mưu đồ của ma quỷ
chính là lật đổ nền tảng đạo đức và
tình ngưỡng truyền thống của pháp luật
làm biến dị tiêu chuẩn thiện, ác
tranh giành quyền quy định và quyền chấp
pháp, đồng thời xác lập
chuẩn tắc và thực tiễn pháp luật mà
ma quỷ kỳ vọng. Phần này tập trung
vào thảo luận vấn đề quốc gia đứng đầu
về pháp trị, nước Mỹ đang
bị xâm chiếm trên tất cả các phương diện
trong lĩnh vực pháp luật. Pháp luật
có quan hệ mật thiết với các lĩnh vực
chính trị, tôn giáo, giáo dục
v.v. Ngày nay, khi tà linh
cộng sản đã xâm nhập toàn cầu và
vươn bàn tay đen đúa của nó đến
mọi ngóc ngách, pháp luật phương Tây
cũng không tránh khỏi bị tà linh thâm nhập
và làn biến dị trên tất cả
các phương diện.
Pháp luật bắt nguồn từ tôn giáo
hoặc tính ngưỡng đều có tính thần thánh
nhưng cùng với việc đảng cộng sản
và những người đồng hành với nó thúc đẩy
thuyết vô thần, thuyết tiến hóa
trên toàn cầu, pháp luật cũng bị
các đứt mối liên hệ với thần, bị hạ
xuống thành một thứ công cụ để báo án
phục thù, giải quyết tranh chấp
mặc cả và phân phối lợi ích
giữa người với người. Do bị
các đứt nguồn gốc với tín ngưỡng, tinh thần
của pháp luật bắt đầu thay đổi.
Từ duy hộ sự công bằng, chính nghĩa
đã lịch sang hướng thuận theo
quan niệm và dục vọng của con người.
Điều này khiến cho tàn linh cộng sản
ở phía sau có thể lợi dụng
những người đại diện cho nó, mang theo
quan niệm, lối tư duy biến dị
thông qua pháp luật mà nó mong muốn
để thực hiện mục đích phá hủy xã hội
và hủy diệt con người.
Lấy nước Mỹ làm ví dụ
các trào lưu tư tưởng như
chủ nghĩa tự do, công bằng xã hội
dưới ảnh hưởng sâu đậm của chủ nghĩa cộng sản
đã thay đổi quan niệm đạo đức xã hội
từ đó cũng phá bỏ
cơ sở đạo đức của pháp luật.
Trong thực tế, những người đại diện cho nó
lợi dụng các khẩu hiệu tự do
tiến bộ, khoan dung
để đánh cháo khái niệm, bai xích
và phá hủy nền tảng tin ngưỡng đạo đức của pháp luật.
Từ đó ảnh hưởng
đến việc pháp luật nào được quy định
pháp luật được giải thích như thế nào
và tòa án xét xử ra sao.
Ví như tin ngưỡng truyền thống
cho rằng kết hôn là sự kết hợp
của người đàn ông và người đàn bà.
Điều này đã được thần quy định rõ ràng
hôn nhân đồng tính đi ngược lại
với giáo huấn của thần và là
quan niệm vô đạo đức. Điều này
tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến giải thích
và định nghĩa của pháp luật về hôn nhân.
Nếu kiên trì tuân thủ
quy phạm đạo đức do thần xác lập
vậy thì đạo đức sẽ không
suy chuyển. Pháp luật ở thế tục
cũng căn cứ theo pháp bất biến bên trên
của thần. Nếu một hành vi
nào đó vào 2000 năm trước
theo giới lệnh của thần bị coi là tội ác
thì ngày nay cũng nên như vậy.
Nhưng chủ nghĩa tự do lại bai xích
tín ngưỡng truyền thống và đi ngược lại
đạo đức coi đạo đức là một sự
ước định nơi thế tục nên được
biến đổi theo sự phát triển của xã hội.
Do vậy kết hôn bị xem
là hợp đồng kết hợp tự nguyện
thừa nhận hôn nhân đồng tính là phù hợp
với nguyên tắc tiến bộ và tự do.
Điều này tất nhiên sẽ khiến
pháp luật bị biến dị theo.
Mà quỷ lợi dụng chủ nghĩa tự do
và chủ nghĩa tiến bộ khiến các thẩm phán
tách rời đạo đức truyền thống với
pháp luật. Trong một vụ xét xử
về phá thai năm 1992
của tòa án tối cao có ba vị
thẩm phán thể hiện quan điểm rất trực tiếp.
Có một số người sẽ cho rằng
phá thai đi ngược lại với nguyên tắc
đạo đức cơ bản của chúng ta.
Tuy nhiên điều này không thể ảnh hưởng đến
quyết định của chúng tôi. Trách nhiệm của
chúng tôi là định nghĩa tự do cho
tất cả mọi người chứ không phải cưỡng chế
thực thi nguyên tắc đạo đức của bản thân
chúng tôi. Các thẩm phán
nhấn mạnh tự do là trọng điểm
chú ý của pháp luật chứ không phải
là nguyên tắc đạo đức của chúng ta.
Điều này thực tế là tách rời tự do
khỏi nguyên tắc đạo đức phổ quát của
con người. Định nghĩa về tự do
của những quốc phụ thành lập nên nước Mỹ
cơ sở của nó là giá trị phổ quát
mọi người đều biết. Giá trị
phổ quát của nhân loại không thể thay đổi
theo văn hóa bởi vì nó bắt nguồn
từ thần, sáng thế chủ được nhắc
trong Hiến pháp Mỹ. Sao rời
giá trị phổ quát mà phóng đại một cách
phiến diện cái gọi là tự do
là thủ đoạn của ma quỷ
làm biến dị pháp luật và dẫn dụ
con người rơi xuống vực thẳm.
Để thực thi pháp luật hiệu quả
cần phải trải qua một loạt các bước gồm
cơ quan lập pháp thông qua pháp luật
cơ quan hành chính ký bàn hành pháp luật
thẩm phán dựa trên pháp luật để đưa ra
các phán quyết, cơ quan chấp pháp
chấp hành pháp luật. Trong quá trình này
các đoàn thể và cá nhân khác nhau
trong giới giáo dục, truyền thông,
pháp luật, thậm chí ngành giải trí
cũng đều tham dự vào, ảnh hưởng đến
việc quy định và thực thi pháp luật.
Trong tất cả các lĩnh vực, tàn linh cộng sản
đều tìm người đại diện cho nó
để tranh đoạt quyền khống chế việc quy định
và thực thi pháp luật.
Vì thế, các đoàn thể chính trị
bị tàn linh cộng sản lợi dụng đã tìm
trang phương ngàn kế để đưa những
người có tư tưởng nhất quán với nó
vào các cơ quan bộ ngành tương ứng
tranh giành các vị trí trọng yếu
trong cơ quan đầu não chính phủ, tòa án,
viện kiểm soát và hệ thống tư pháp.
Ví dụ, một tổng thống
coi trọng chủ nghĩa tự do
sẽ tìm cách bổ nhiệm thẩm phán
có quan điểm gần với mình,
tác động tới phán quyết pháp luật
hoặc sử dụng quyền hành chính để bào mòn pháp luật.
Một vị tổng thống trong thời gian đương nhiệm
đã giảm án cho 1.385 phạm nhân,
đồng thời đặt giá cho 212 người,
cho thành vị tổng thống đặt giá
cho nhiều phạm nhân nhất
kể từ sau thời tổng thống Truman.
Vị tổng thống trong nhiệm kỳ của mình
đã giảm án cho nhiều phạm nhân nhất
trong lịch sử nước Mỹ,
cũng là vị tổng thống theo chủ nghĩa tự do.
Trước khi rời Nhà Trắng,
ông đã ký ban hành một lệnh
rút ngắn thời gian thi hành án
cho 209 phạm nhân, ân xá cho 64 người.
Đại đa số những người được giảm án này
là những tội phạm buôn bán
ma túy phi bạo lực,
trong đó bao gồm một người đã tiết lộ
700.000 trang tài liệu bí mật quân sự
của nước Mỹ.
Người này đã bị kết án 35 năm tù
năm 2013.
Vì được tổng thống đặt giá,
nên chỉ bị giam 4 năm đã được thả.
Mặc dù giảm án là công cụ hợp pháp
mà hiến pháp trao cho tổng thống,
nhưng số lượng tội phạm được đặt giá
khiến người ta phải giật mình như vậy
chắc chắn sẽ khiến pháp luật
mất đi tác dụng khen thưởng người tốt,
trừng phạt kẻ ác.
Thượng nghị sĩ Lyndon Johnson,
người sau này trở thành tổng thống Hoa Kỳ,
đã đưa ra Tư trình án Johnson
vào năm 1954
quy định những đoàn thể được miễn thuế
bao gồm cả giáo hội.
Khi tiến hành một số hoạt động nào đó
sẽ không còn thuộc đối tượng được miễn thuế.
Điều này dẫn đến
một số giáo hội cơ độc giáo
vì sợ không còn được miễn thuế
đã yêu cầu các mục sư khi giảng đạo
luôn cố ý tránh nói về những vấn đề chính trị,
đặc biệt là về một số vấn đề
nghị luận xã hội đang gây tranh luận như
phá thai, đồng tính luyến ái,
Tài lĩnh Cộng sản còn thao túng
các đoàn thể chính trị mưu đổ khơi
ảnh hưởng đến bầu cử để thay đổi
việc kiểm sát viên chấp hành pháp luật.
Một kiểm sát viên khu vực được
một đoàn thể chính trị theo chủ nghĩa tiến bộ
đưa lên. Trong tuần đầu tiên nhậm chức
ông ta đã xa thải một loạt
31 kiểm sát viên cấp dưới
kêu gọi phải chấm dứt việc bắt giam
quy mô lớn. Ông ta còn ra lệnh
cho văn phòng của mình dừng việc
Các thành phố khác cũng có tình trạng tương tự.
Một chủ tịch liên minh kiểm sát viên
cho rằng điều này đồng nghĩa
với việc yêu cầu các kiểm sát trường
chấp hành pháp luật có tính lựa chọn.
Hiện tượng này vô cùng nguy hiểm vì
nó yêu cầu các quan chức do dân bầu
phớt lờ lời tuyển thể duy hộ pháp luật
của họ. Thẩm phán
còn có thể sử dụng đến quyền phán quyết
để ngăn chặn các pháp lệnh của các cơ quan
hành chính, ví dụ căn cứ
pháp luật về di dân của Mỹ. Trong
tình huống cần thiết, Tổng thống có thể
hạ lệnh cấm tất cả người ngoại quốc
nhập cảnh vào Mỹ, nhưng những thẩm phán
chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do đã
lấy lý do ghi thị tín ngưỡng
để ngăn cản lệnh cấm du lịch của Tổng thống
đến hơn 4 tháng, cho đến khi
sắc lệnh này bị tòa án tối cao
bãi bỏ. Luật sư có ảnh hưởng
rất lớn tới phán quyết của thẩm phán
và bồi thẩm đoàn, khuyên hướng chính trị
của tổ chức luật sư sẽ ảnh hưởng
Người sáng lập Liên minh Luật sư Toàn quốc
Mỹ từng thừa nhận rằng mình là một người
theo chủ nghĩa xã hội, chủ trương
theo chế độ công hữu. Mục tiêu
cuối cùng là xây dựng chủ nghĩa cộng sản.
Tổ chức này có 100.000 hội viên
ở khắp nơi trên toàn nước Mỹ,
kinh phí hoạt động mỗi năm lên đến
100 triệu USD. Hoạt động
chủ yếu của nó bao gồm việc thông qua
việc đệ đơn kiện lên tòa án Mỹ
để ủng hộ hôn nhân đồng tính,
quyền nhận con nuôi của người đồng tính,
ủng hộ quyền phá thai cho đến
loại bỏ cái gọi là kỳ thị người lưỡng
tính và người chuyển giới.
Sau khi chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa
tiến bộ trắng trợn chiếm lĩnh hệ thống
chính trị Mỹ, khống chế giáo dục,
truyền thông, các phong trào xã hội,
khả năng gây ảnh hưởng tới việc quy định
và thực thi pháp luật của ma quỷ
thông qua giới học thuật và dư luận
đã trở nên lớn mạnh hơn bao giờ hết.
Mục 3.3
Lợi dụng người đại diện quy định ra
pháp luật không nhân văn và
bóp méo pháp luật
A. Cấm ca người thần
Trong cuộc sống của người Mỹ, thần có mặt
ở khắp mọi nơi. Trầm ngôn của
quốc gia này là chúng ta tin vào Chúa.
Trầm ngôn này không chỉ xuất hiện
trong quốc ca Mỹ mà còn được in
trên tờ tiền giấy mà người Mỹ sử dụng
hàng ngày. Tuyền ngôn độc lập
của Mỹ gọi thần là sáng thế chủ
và nhận định rằng nhân quyền của con người
chúng ta là do sáng thế chủ ban cho.
Tất cả quan chức chính phủ
Mỹ bao gồm cả Tổng thống và
thẩm phán. Khi tuyền thệ nhậm chức
đều phải nói câu cuối cùng là
xin Chúa giúp đỡ con. Câu kết
thường thấy trong bài diễn thuyết của Tổng thống
là Chúa ban phước cho nước Mỹ
và trong nghi lễ lời tuyền thệ
cống hiến của các trường học công lập
cũng mô tả nước Mỹ là quốc gia
ở dưới Chúa. Những truyền thống
này đã được duy trì hơn 200
năm qua. Nó gần như xuất hiện cùng
với lịch sử thành lập của nước Mỹ
nhưng trong 60 năm qua nó đã
liên tục bị thách thức bởi những người
theo đuổi chủ nghĩa cộng sản.
Một mục tiêu trọng yếu của Liên minh
luật sư mang tính toàn quốc được
đề cập đến ở trên chính là xóa bỏ
10 điều dân của Moser.
Trong công chúng Mỹ, trong đó vụ án
nổi tiếng nhất xảy ra ở Montgomery,
Alabama năm 2001.
Tổ chức này đã yêu cầu
cưỡng chế di rời phiến đá ghi
10 điều dân được đặt tại Đại sảnh
hình bầu dục ở Tòa án tối cao liên bang.
Họ đã tìm được một vị thẩm phán
do Tổng thống của Đảng Dân Chủ bổ nhiệm
để thụ lý vụ việc này.
Vị thẩm phán này đã ra một phán quyết
dài 76 trang giấy theo hướng có lợi
cho tổ chức này với lý do
nghe rất hoang đường. Ví dụ như ông ta
nói khung cảnh trang nghiêm ở Đại sảnh
hình bầu dục, bức bích họa ở đằng sau
phiến đá và không khí thẩn thánh
do thác nước nhân tạo tạo ra
là lý do khiến ông ta muốn di rời
10 điều dân. Ông ta còn nói
phiến đá được đặt nghiêng trông giống
như một cuốn kinh thánh đang mở.
Điều này khiến mọi người có lý do cảm thấy
Alabama đang ủng hộ, thừa nhận
hoặc ca ngợi cơ độc giáo.
Trên thực tế, đây không phải là mở đầu
cũng không phải là kết thúc của câu chuyện.
Từ năm 1980
Tòa án tối cao Mỹ đã
từng cấm 10 điều dân xuất hiện trong rạng đường
của các trường học công lập.
Phán quyết này đã dẫn đến trào lưu
xóa bỏ 10 điều dân trên toàn nước Mỹ.
Tổ chức này thậm chí còn tuyên bố
ở ông ta rằng nếu phát hiện ra
ai vẫn còn 10 điều dân, hãy báo
cho tổ chức này để có thể được thưởng.
Một phán quyết ngày 26 tháng 6
năm 2002
của tòa phúc thẩm Mỹ đã cấm
nghi lễ lời tuyên thể công hiến
tại các trường học công lập vì trong đó
có dòng chữ ở dưới thần.
Phán quyết này đã bị tòa án tối cao bãi bỏ
vào ngày 14 tháng 6 năm 2004.
Những phán quyết kiểu này
vẫn đang diễn ra.
Từ quốc ca Mỹ, châm nguồn của quốc gia,
lời tuyên thể công hiến, lời cầu nguyện
trong trường học v.v.
đều đang chịu sự công kích của những người
theo thuyết vô thần hoặc những nhà
hoạt động cánh tả.
Ở đây cần giải thích một cách đơn giản là
thần trong trường hợp nói trên là thần nói chung
trong tuyên ngôn độc lập gọi là
đứng tạo hóa.
Mỗi loại tôn giáo đều có định nghĩa
và nhận thức của mình đối với đứng tạo hóa.
Vì thế, bản thân chữ thần này
không phải nhằm quảng bá cho một tôn giáo nào đó
và cũng không đi ngược lại tu chính án
hiến pháp Mỹ.
Âm mưu dùng pháp luật để cấm con người ca người thần
một cách cực đoan ở một quốc gia
có tín ngưỡng sâu sắc như Mỹ
đã cho thấy mức độ nghiêm trọng
của sự thâm nhập của ma quỷ vào lĩnh vực
pháp luật.
B. Thông qua việc giải thích pháp luật
và các phán quyết để thay đổi nội hàm
của pháp luật.
Những quốc phụ thành lập nước Mỹ khi quy định ra
hiến pháp đã xác định nguyên tắc tam quyền
phân lập, trong đó quyền tư pháp
vốn là quyền lực nhỏ nhất.
Quốc hội phụ trách lập pháp, Tổng thống
phụ trách hành chính, còn Tòa án
tối cao không có quyền lập pháp cũng không
có quyền hành chính.
Trong thời gian Tòa án tối cao thẩm tra,
xét xử vụ việc, lời tuyên thệ công hiến
điều tra dân chúng cho thấy 90%
số người tham gia đều ủng hộ
giữ lại nội dung ở dưới thần.
Còn Quốc hội có 416 phiếu
ủng hộ và 3 phiếu phản đối.
Thượng nghị viện có 99 phiếu
ủng hộ và 0 phiếu phản đối,
lời tuyên thệ công hiến. Điều đó
cho thấy rằng những đại biểu đại diện
cho ý nguyện của dân chúng đã phản ánh
đúng ý nguyện chân thực của người dân.
Nhiệm kỳ của nghị viện Quốc hội
do dân bầu và Tổng thống do dân bầu
là từ 2 năm đến không quá
6 năm. Sau đó
lại phải tuyển cử lần mới. Nếu ý nguyện
của người dân tầng lớp chủ lưu
phù hợp với quy phạm đạo đức do thần
đặt định ra thì việc Tổng thống và
nghị viên có thể nghiêng sang không gian
của cánh tả là hữu hạn.
Nếu ý nguyện của người dân tầng lớp chủ lưu
phản đối hôn nhân đồng tính thì
cho dù các quan chức tham gia tuyển cử
có ủng hộ kế hoạch hôn nhân đồng tính
nữa thì cũng khó được thực thi.
Nếu dám đi ngược lại ý nguyện
của người dân thì sẽ có nguy câu
thua cuộc trong tuyển cử. Ngược lại
thẩm phán của tòa án tối cao
không bắt buộc phải nghe theo ý nguyện của người dân
Nhiệm kỳ của thẩm phán là
suốt đời một khi được nhậm chức
thì có thể làm việc lên đến 30 năm
thậm chí còn lâu hơn. Mà thẩm phán
tòa án tối cao chỉ có 9 người
gây ảnh hưởng đến quyết định của 9
cá nhân này thì dễ dàng hơn
so với gây ảnh hưởng đến ý nguyện của người dân
thuộc tầng lớp chủ lưu.
Thẩm phán căn cứ theo quy định của pháp luật
để phán xử mà quy định pháp luật
lại căn cứ theo hiến pháp.
Vì thế nếu muốn dùng pháp luật để cải biến
xã hội thì thay đổi hiến pháp
là nhiệm vụ cần hoàn thành.
Ở Mỹ, việc sửa hiến pháp cần phải được
2 phần 3 số nghị viên đồng ý
và được 3 phần 4 các bang tiếp nhận.
Đây là quy định rất khắt khe.
Vì thế, sách lược của những người
theo chủ nghĩa tiến bộ không phải là
sửa hiến pháp mà là thông qua việc
giải thích hiến pháp để thay đổi
nội hàm nguyên gốc của câu chữ trong hiến pháp.
Họ coi hiến pháp là một
văn bản linh hoạt và liên tục
tiến hóa. Họ thông qua thẩm phán
dùng hình thức phán lệ để biến
ý kiến của phe cánh tả thành pháp luật.
Cách làm này thực chất là biến tướng
của việc phá bỏ hiến pháp,
cũng đồng nghĩa với việc đi ngược lại hiến pháp.
Giới lệnh của thần không còn là
nguyên tắc tối cao, hiến pháp
lại bị cây trùy của những thẩm phán
theo phái tự do đánh cho thường tích đầy mình.
Vì phán quyết của thẩm phán
là phán quyết cuối cùng, ngay cả
Tổng thống cũng phải tuân thủ.
Vì thế, dân chúng tự trị và tam quyền
phân lập mà những quốc phụ của nước Mỹ
đã đề xướng có khuyến hướng
trở thành bị quyền tư pháp độc chiếm.
Điều này khiến cho nước Mỹ xuất hiện
chủ nghĩa tư pháp tối cao, ở một
mức độ nhất định, đã trao cho thẩm phán
một phần quyền lập pháp, thậm chí là quyền
hành chính. Thẩm phán theo
phái tự do đã mang tới cho nước Mỹ
hậu quả vô cùng nghiêm trọng.
Hơn nữa, khó có thể xóa bỏ.
Tình huống hiện thực là thẩm phán của
tòa án tối cao có thể dùng án lệ yêu cầu
các trường học công lập và những nơi công cộng
như công viên, xóa bỏ 10 điều dân,
làm lại trình tự tố tụng hình sự,
tăng thuế, thừa nhận quyền
phá thai, thừa nhận quyền kết hôn
đồng tính, quyền đăng và in ấn
những tranh ảnh khiêu dâm.
Chủ nghĩa tư pháp tối cao và thẩm phán
theo phái tự do đã trở thành công cụ quan trọng
C. Lấy danh nghĩa tự do
để phát tán các thông tin khiêu dâm
Những năm 60 của thế kỷ trước
là thời kỳ mà xã hội Mỹ
xảy ra biến đổi sâu sắc.
Các phong trào của cánh tà đi ngược lại
với truyền thống như phong trào học sinh,
phong trào chống chiến tranh,
nhạc rock, hippie, phong trào nữ quyền,
giải phóng tình dụng, nổi lên ẩm ẩm.
Tránh án tòa án tối cao lúc đó
là Earl Warren, cũng là người
Trong thời gian Warren làm tránh án,
tòa án tối cao đã đưa ra rất nhiều phán quyết
có tầm ảnh hưởng sâu sắc,
bao gồm cả việc cầu nguyện trong các trường học công lập
bị coi là bất hợp pháp.
Một phán quyết khác lại hoàn toàn cho phép
việc phát hành, xuất bản các ấn phẩm
có nội dung khiêu dâm.
Học giả người Mỹ Phillips Laffey
trong cuốn sách Sự chuyên chế của thẩm phán
và làm thế nào để chấm dứt điều đó
đã đưa ra các số liệu thống ghê.
Theo đó, trong những năm
từ năm 1966 đến năm 1970
tòa án tối cao đã đưa ra
34 phán quyết
bãi bỏ các phán quyết cấm
các nội dung khiêu dâm của tòa án cấp dưới.
Những phán quyết này của tòa án tối cao
không những không được ghi tên
mà phần lớn chỉ có một hoặc hai câu.
Nói cách khác, các thẩm phán
không thể giải thích được tính hợp lý
trong các phán quyết của mình.
Sau phán quyết của tòa án tối cao
năm 1966,
Hollywood đã xóa bỏ quy định hạn chế
các nội dung khiêu dâm trong quy định soản xuất phim.
Sau đó, số lượng
các bộ phim khiêu dâm tăng lên nhanh chóng
đến ngày nay đã trở nên phổ biến khắp nơi.
Ở đây cần nói rõ ràng
quyền tự do ngôn luận
được quy định trong tu chính án thứ nhất hiến pháp Mỹ
vốn thể hiện quyền tự do
biểu đạt ý kiến chính trị,
chứ không phải tự do ngôn luận
trong việc xuất bản các tác phẩm có nội dung khiêu dâm.
D. Hợp pháp hóa ma túy
Ngày 31 tháng 12
năm 2017
vào thời điểm toàn thế giới
đang đón chào năm mới
thì CNN đã phát sóng một hình ảnh
mà sau đó đã bị chỉ trích rộng rãi.
Phóng viên của đài này đã nhiều lần
đăng hình ảnh cô ta sử dụng cần sa
dưỡng như tinh thần của cô ta đang hoảng hốt
không biết mình đang ở đâu.
Cần sa là loại ma túy
bị quản lý chặt chẽ theo công ước
của Liên Hợp Quốc về ma túy.
Lạm dụng cần sa sẽ khiến con người sinh ra ảo giác
thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng.
Ở Mỹ,
từ năm 1996
California đã cho phép sử dụng cần sa
như một loại thuốc kê theo đơn.
Sau đó, rất nhiều tiểu bang khác
cũng cho phép việc này.
Đến năm 2012,
bang Washington và bang Colorado
đã thông qua cái gọi là điều luật
cho phép dùng cần sa để giải trí
tức là cho phép hút ma túy.
Ở hai bang này, việc trồng, sản xuất
và bán cần sa cho người trưởng thành
là hoàn toàn hợp pháp.
California ngày nay cũng hợp pháp hóa cần sa.
Chính phủ Canada cũng tuyên bố
đến ngày 1 tháng 7 năm 2018
sẽ hợp pháp hóa cần sa.
Ma túy không chỉ gây tổn thương
nghiêm trọng cho thân thể con người.
Quan trọng hơn, nó còn gây ra sự phụ thuộc
về tinh thần của con người.
Khi lên cơn nghiện, con người có thể vứt bỏ
tất cả giới hạn đạo đức để có ma túy.
Tuy nhiên,
người chủ trưng hợp pháp hóa cần sa lại cho rằng
chỉ cần có được cần sa bằng con đường hợp pháp
thì có thể giảm việc
buôn bán ma túy bất hợp pháp.
Đồng thời, thông qua việc hợp pháp hóa
ma túy có thể tăng cường
quản lý ma túy, hạn chế tỷ lệ
tội phạm liên quan đến ma túy.
Rất nhiều bang đã thông qua việc
hợp pháp hóa cần sa cũng kỳ vọng
ma túy có thể mang lại cho chính phủ
thu nhập hàng tỷ USD.
Nhưng chúng ta không khó để tưởng tượng
khi nhiều người phụ thuộc vào ma túy
mà không quan tâm đến làm việc
thì cuộc ải xã hội sẽ ngày càng
ít đi, từ đó các vấn đề
sức khỏe phát sinh ngày càng nhiều.
Làm sao có thể nói đến tăng
thu nhập cho chính phủ được?
Điều này hẳn ai cũng có thể nhìn ra được.
Huống hồ là khi đánh giá
một sự việc là đúng hay sai
thì không nên lấy hiệu quả và lợi ích
kinh tế làm thước đo, mà nên dùng
tiêu chuẩn của thần để làm thước đo.
Theo tiêu chuẩn đạo đức truyền thống
thân thể con người là thần thánh.
Tôn giáo phương Tây cho rằng
thân thể con người là thánh điện linh thiêng.
Phương Đông cho rằng chỉ có thân thể
người mới có thể tu luyện thành Phật và Đạo.
Hút ma túy là xấu xa
và xỉ nhục thân thể
mà thần đã dùng hình tượng của mình
để tạo ra cho con người.
Đó là hành vi trụ lạc bại hoại.
Theo thời báo Los Angeles đưa tin
một trong những nhân vật quan trọng
thúc đẩy việc hợp pháp hóa ma túy
tại Mỹ là một đại gia theo chủ nghĩa tiến bộ.
Tháng 3 năm 2017
6 thượng nghị sĩ đã gửi thư
đến Quốc vụ Viện Mỹ để yêu cầu điều tra
nhân vật này do ông ta đã lợi dụng
quỹ mà mình nắm giữ để thúc đẩy
chủ nghĩa tiến bộ tại các quốc gia khác
lật đổ các chính phủ
theo chủ nghĩa bảo thủ.
Hợp pháp hóa ma túy chính là thứ vũ khí
mà Tà Linh Cộng sản sử dụng để khiến
con người ngày càng mất đi khả năng
khống chế bản thân, rời xa thần
đồng thời gây ra sự hỗn loạn xã hội
và kinh tế trượt dốc từ đó
khống chế quyền lực chính trị.
E. Hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính
Trong sáng thế ký
Kinh Thánh có ràng về sự hủy diệt
của Thành Sô Đôn. Một trong những tội ác
nghiêm trọng nhất của nó chính là đồng tính
luyện ái. Vì thế mà cái tên
Sô Đôn của Thành này đã trở thành từ
Sô Đôn My, chỉ hành vi đồng tính
Nam được biết đến rộng rãi trong tiếng Anh.
Chỉ cần có chút kiến thức
về Kinh Thánh thì đều biết đồng tính
đi ngược lại dưới lệnh của Thần.
Tháng 6 năm 2015
trong 9 thẩm phán của Tòa án
Tối cao Mỹ có 5 người bỏ phiếu
đồng ý. Trong đó có 4 thẩm phán
theo phái tự do và 1 thẩm phán
bị giao động và 4 phiếu
phản đối. 4 thẩm phán theo phái
bảo thủ. Họ đã đưa ra phán quyết
hôn nhân đồng tính là hợp pháp.
Tổng thống khi đó đã thay đổi hình ảnh
của Nhà Trắng trên Twitter thành
lá cờ 6 màu tự trưng cho đồng tính
luyện ái. Phán quyết của Tòa án
Tối cao cũng khiến lệnh cấm ở 14
bang cấm hôn nhân đồng tính trở nên
vô hiệu lực. Tháng 8
năm 2015, một viên chức tòa thị chính
quận Rowan, bang Kentucky
xuất phát từ tín ngưỡng cá nhân
đã từ chối cấp giấy chứng nhận
đăng ký kết hôn cho một cặp đôi đồng tính
đồng thời từ chối thực hiện
mệnh lệnh phải cấp giấy đăng ký kết hôn
của tòa án. Vì thế mà
bị bắt giam và bị kết án
5 ngày tù giam. Thực ra
phán quyết này đã xâm phạm quyền tự do
tín ngưỡng của cô ấy được hiến pháp công nhận.
Phán quyết tư pháp được đặt cao
hơn giới lệnh của thần.
Sau khi tòa án Tối cao thông qua phán quyết
hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính,
cựu thống đốc Alcassar và cựu
ứng cử viên thống đốc của Đảng Cộng Hòa
Mike Huckabee đã so sánh
đây là một nền tư pháp bạo chính.
Felix Lapley
đã nêu ra 9 vấn đề suy thoái
đạo đức do thẩm phán gây ra.
Đó là 1. Sửa lại hiến pháp
2. Cấm ca ngợi thần
3. Định nghĩa
lại khái niệm kết hôn
4. Xâm phạm chủ quyền nước Mỹ
5. Khởi xướng các tác phẩm
có nội dung khiêu dâm
6. Khuyến khích chủ nghĩa nữ quyền
7. Cản trở nghiêm trọng việc thi hành pháp luật
8. Can thiệp vào bầu cử
9. Tăng thuế
Tính đến năm 2017,
đáng kinh ngạc là có đến
25 quốc gia và vùng lãnh thổ
chính thức thừa nhận hoặc chấp nhận
hôn nhân đồng tính phù hợp với pháp luật,
bao gồm cả các quốc gia phát triển
chủ yếu ở phương Tây như
Mỹ, Anh, Pháp, Đức,
Tây Ban Nha, Nai Uy, Đan Mạch,
Phần Lan, Thụy Điển, Bồ Đào Nha,
Bỉ, Áo, New Zealand,
Canada. Pháp luật có thể
thể hiện đạo đức, ngược lại cũng
ảnh hưởng đến xu thế đạo đức của quân chúng.
Hợp pháp hóa những hành vi
đi ngược lại với đạo đức truyền thống
cũng đồng nghĩa với việc chính phủ và
pháp luật đã dạy người ta quay lưng với
đạo đức đi ngược lại giới lệnh của
thần. Mặt khác,
sẽ ảnh hưởng của cái gọi là đúng đắn
chính trị, những ý kiến phê bình của
các đoàn thể dân chúng xã hội,
nhất là các đoàn thể tín ngưỡng
đối với các hiện tượng hỗn loạn xã hội
bị quy kết thành hành động gây
cản trở chính trị và pháp luật.
Sau khi các hành vi vô đạo đức
được hợp pháp hóa, thì những lời
bình luận phê bình các hành vi này rất
dễ bị chỉ trích là vi phạm pháp luật.
Ví dụ như phân biệt giới tính,
quy định pháp luật này trở thành
cái cớ khiến con người không phán xét
những hành vi trái đạo đức,
nghĩa là chấp nhận đồng tính luyến ái
khiến con người phóng túng rục vọng vô hạn,
từ đó ngày càng xa đoạn.
F. Vứt bỏ
Các tôn giáo truyền thống đều coi trọng
trách nhiệm cá nhân. Trong Ezekiel,
Kinh Thánh đã kể câu chuyện về
người cha và người con. Một người tốt
và một người xấu. Họ chịu trách nhiệm
về hậu quả do hành vi của mình gây ra,
không phải vì quan hệ cha con
mà vì trách nhiệm đối với người kia.
Câu chuyện này nói lên vấn đề
trách nhiệm cá nhân. Đúng như trong
Kinh Thánh viết, con người chồng thứ gì
thì thu hạch được thứ ấy.
Người Trung Quốc tin rằng thiện ác hữu báo
cũng là đạo lý này.
Tự do có nghĩa là trách nhiệm.
Một cá nhân có quyền và được tự do
lựa chọn suy nghĩ, nói năng và hành động.
Họ cũng cần có trách nhiệm với
sự lựa chọn của mình. Một cá nhân
khi phạm tội thì nên chịu nhận sự trừng phạt
tương ứng. Đây chính là nguyên tắc
của chính nghĩa. Nhưng các thẩm phán
theo phái tự do lại khuyến khích
con người vứt bỏ trách nhiệm của bản thân,
đầy trách nhiệm cho hoàn cảnh xã hội.
Ví dụ, lấy lý do kinh tế,
trùng tộc, tâm sinh lý,
giáo dục để giúp những kẻ tội phạm
thoát khỏi chế tải pháp luật.
Hạn chế chấp hành pháp luật
bật đèn xanh cho tội phạm
Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do,
rất nhiều thẩm phán hoặc cơ quan lập pháp
ra sức hạn chế quyền lực chính đáng
của các cơ quan chấp pháp. Bật đèn xanh
cho những kẻ tội phạm. Mục đích cuối cùng
của tà linh cộng sản là dùng nó
để làm tê liệt bộ máy quốc gia.
Từ đó gây nhiễu loạn xã hội.
Lấy đó làm lý do
để mở rộng quyền hạn của chính phủ
hoặc nhân cơ hội đó phát động chính biến
hoặc cách mạng. Rất nhiều bang
ở Mỹ đã thông qua những đạo luật cực tà,
điển hình nhất là pháp lệnh tiểu bang
bảo hộ. Ví dụ, một tiểu bang
bảo hộ nào đó cấm quan chức liên bang
bắt giữ dân nhập cư bất hợp pháp
trong nhà giam ở địa phương, cấm
cảnh sát bắt giữ theo lệnh bắt giữ dân nhập cư
và cấm cơ quan chấp pháp địa phương
hợp tác với quan chức liên bang
chấp hành pháp luật về nhập cư.
Lệnh bảo vệ các phần tử tội phạm
đã mang đến nguy cơ mất an toàn
nghiêm trọng cho công chúng. Tháng 7 năm
2015, một tay súng nhập cư
bất hợp pháp tên là Joe Enos
Garcia Zaret đã được
phóng thích khỏi nhà tù San Francisco
theo lệnh bảo hộ của thành phố này
trong khi các quan chức nhập cư
liên bang lại yêu cầu giao nộp anh ta
và trục xuất anh ta lần thứ 6.
Khi đó, Zaret đã phạm
nhiều tội ở Mỹ, 7 lần
bị cáo buộc trọng tội, 5 lần
bị trục xuất. Các tội danh của anh ta
liên quan đến ma túy, trấn lột,
nổ súng v.v. Nhưng anh ta
vẫn ngang nhiên được nhận lệnh tị nạn
của Tòa thị chính San Francisco
và anh ta ngây ngang xuất hiện trên
đường phố San Francisco.
Khi cục nhập cư nhiều lần yêu cầu trục xuất
anh ta, thì cục cảnh sát San Francisco
lại phóng thích anh ta.
Chỉ mấy giờ sau khi được thả, anh ta
đã bắn chết một phụ nữ đang đi bộ
trên bến cảng của ngư dân.
Trong thời gian định tội,
yêu cầu đối với việc truy tố rất
nghiêm ngặt. Bên ngoài là bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của nghi phạm. Nhưng
kết quả cuối cùng lại thường tạo điều kiện
cho các kẻ phạm tội lợi dụng
sơ hở của pháp luật. Đặc biệt
là những tội phạm gian xảo,
có quyền thế và hiểu về pháp luật
hoặc những tội phạm có luật sư giỏi
biện hộ. Quá trình tố tụng cần nhiều
thời gian, tiền bạc và sức lực.
Cho dù nghi phạm thực sự phạm tội
cũng rất khó để buộc tội họ
vi phạm pháp luật. Cùng với
sự mở rộng của phong trào giải phóng
tình dục, tòa án đã trích dẫn
cái gọi là kết quả nghiên cứu sinh lý học
và tình dục học để chứng minh rằng
hậu quả của việc xâm hại
tình dục là không nghiêm trọng, thậm chí
là vô hại. Lấy đó làm
căn cứ để xử nhẹ cho khá nhiều
vụ án về tội xâm hại tình dục.
Còn có rất nhiều tội phạm được phóng
thích trước hạn, lấy lý do là
không đủ kinh phí hoặc bảo vệ quyền
lợi của phạm nhân. Nhưng thực chất
là do đúng đắn chính trị, khiến
hiệu lực của pháp luật bị yếu đi,
phá hoại trật tự xã hội. Điều này
đặt nền tảng để chính phủ mở rộng
quyền lực trong tương lai. Tính công bằng
chính trực của pháp luật yêu cầu
phải trừng phạt thích đáng những hung thủ
phạm tội đại ác. Giết người điền mạng
là nguyên tắc phổ biến từ xưa đến nay
nhưng có những bang và quốc gia đã lấy
danh nghĩa nhân đạo, khoan dung,
chân quý mạng người để xóa bỏ
tội tử hình. Dưới sự công kích
phá hoại của chủ nghĩa tiến bộ và
chủ nghĩa tự do biến dị, một số
người luôn nhiệt tình quan tâm đến quyền
lợi của tội phạm. Cho dù họ
có phạm tội hung ác như thế nào cũng
phải lên tiếng bảo vệ quyền lợi của họ
nhưng họ lại vờ như không nghe thấy
những tiếng kêu thàn của những người bị hại.
Nếu một hung thủ dù có
phóng hỏa giết người, giết người cướp
của thế nào đi nữa mà vẫn không
bị đền mạng, lại còn có thể được
người đóng thuế nuôi dưỡng suốt đời,
chỉ bị mất tự do thân thể, vậy
thì đối với những oan hồn đã khuất,
những đường sự và gia đình
phải chịu đau khổ, thiệt thòi, thì
điều này có thể nói là công bằng sao?
Rất nhiều học giả ở
Mỹ đã nghiên cứu và chỉ ra rằng
tử hình có tính giăn đe rất mạnh.
Đối với việc ngăn chặn tội phạm
giết người, nhà nghiên cứu David
Munhausen thuộc Quỹ Di sản
từng phát biểu về vấn đề này tại
Ủy ban Tư pháp Thượng viện, chứng minh
án tử hình có tác dụng giăn đe tội phạm
và cứu vớt mạng người. Những
năm 1990, căn cứ dữ liệu
nghiên cứu tội phạm của 3.000 thành phố
ở Mỹ trong 20 năm, Paul Rubin
cùng 2 học giả khác đã chỉ ra
rằng trung bình cứu mỗi án tử hình
được thực thi có thể cứu được
18 người khỏi bị đe dọa tính mạng.
Ở Mỹ, ngay cả các học giả
phản đối án tử hình cũng thừa nhận rằng
tử hình có tác dụng ngăn cản mưu sát.
Có câu chân biến rằng
pháp luật biến dị rất khoan dung
phóng túng đối với những hành vi
phản đạo đức, đồng thời lại vô cùng
hà khắc đối với rất nhiều cách làm
bình thường trong xã hội. Ví dụ như
hạn chế chặt chẽ việc cha mẹ quản giáo
con cái, khiến cho các bậc cha mẹ
không thể quản giáo được con cái.
Kỳ thực là khiến trẻ con từ bé
đã không được gia đình giáo dục, phóng túng
ma tính của bản thân, lấy danh nghĩa
yêu thương, bảo vệ để phá
hủy tương lai của rất nhiều trẻ em.
Nội hàm tự do và
tính cưỡng chế của pháp luật đều bị
đẩy đến cực đoan. Đó là
thủ đoạn quan trọng đã được suy tính kỹ lưỡng
của Magui để làm biến dị
pháp luật, hủy hoại tính thần thánh
và tính hợp lý của pháp luật.
Mục 3.5
Dùng pháp luật nước ngoài làm suy yếu
chủ quyền nước Mỹ. Khi không
tìm được điều khoản nào trong hiến pháp
ủng hộ quan điểm của mình, các thẩm phán
theo phái tự do liên chuyển sang
tìm căn cứ ở pháp luật nước ngoài.
Chẳng hạn, một thẩm phán nào đó
muốn lật ngược đạo luật chống tình dục
đồng tính ở Texas nhưng không tìm được
điều khoản tương ứng trong hiến pháp,
ông Talian trích dẫn điều khoản
cơ cấu quyền lực của các quốc gia khác
trong đạo luật Lawrence Texas
nói rằng ở rất nhiều quốc gia
nó đã trở thành một bộ hoàn chỉnh
trong quyền tự do của con người
và cho phép tự do trong hành vi tình dục
giữa những người đồng tính.
Phán quyết trong vụ việc này cũng trực tiếp
chấm dứt quy định pháp luật phản đối
hành vi tình dục giữa những người đồng tính
của 13 bang khác.
Trào lưu chủ nghĩa Cộng sản đã truyền khắp thế giới
bằng mọi phương thức, khuyên hướng
chủ nghĩa xã hội hóa ở châu Âu
và châu Á đã cực kỳ rõ ràng.
Tình hình ở châu Phi và Mỹ Latin
đã trở nên nghiêm trọng.
Zimbabwe và Venezuela và nhiều quốc gia khác
đều là quốc gia chủ nghĩa xã hội
không mang danh của chủ nghĩa xã hội.
Canada cũng không thoát khỏi
xu thế đó. Cùng với sự
mở rộng của toàn cầu hóa và sự
giao thường quốc tế, nước Mỹ ngày càng
ràng buộc chật chẽ với các quốc gia này.
Các thẩm phán theo phái tự do
dưới danh nghĩa thông lệ quốc tế
tất nhiên rất dễ đưa nhân tố
của chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào nước Mỹ
và những nhân tố này sẽ
thông qua các án lệ để cải biến
tinh thần của hiến pháp Mỹ.
Điều này vô cùng nguy hiểm.
Hơn nữa, bản thân nó cũng đi ngược lại
hiến pháp Mỹ. Nước Mỹ là
quốc gia đứng đầu thế giới về quyền tự do.
Nếu ngay cả nước Mỹ cũng không thể
bảo vệ được danh giới truyền thống,
vậy thì toàn thế giới sẽ rơi vào
vũng bùn của chủ nghĩa cộng sản.
4. Trở về với tinh thần
của pháp luật. Phần trên
ban về sự xuất hiện của hàng loạt hiện tượng
hỗn loạn trong lĩnh vực pháp luật.
Để nói lên rằng, pháp luật đã lệch
rất xa khỏi việc tuân thủ những giao huấn
của thần và tín ngưỡng đạo đức.
Những đạo luật đi ngược lại đạo đức
truyền thống đến mức không tưởng này
vẫn có thể được thông qua và ti hành.
Chứng tỏ rằng nền tảng đạo đức
truyền thống của pháp luật đã bị ma quỷ
làm lung lay. Đạo đức xã hội đã
và đang đối mặt với nguy cơ toàn diện.
Pháp luật phản truyền thống đã
hợp pháp hóa và bình thường hóa
các hành vi tàn ác. Chẳng khác nào
mở rộng cửa cho tả ác hoành hành.
Thậm chí là mở rộng cánh cửa tối ác
mà đóng kín cánh cửa lương thiện
khiến cho xã hội lạc hướng,
dẫn sâu vào con đường hủy diệt và trượt dốc
của đạo đức nhân loại.
Pháp luật phản đạo đức làm suy yếu
quyền uy vốn có của pháp luật,
làm suy yếu chức năng quản trị của pháp luật,
dẫn đến trật tự xã hội hỗn loạn,
cũng sẽ dẫn đến sự can thiệp
mạnh mẽ của chính phủ.
Pháp luật biến dị sẽ tiếp tục phá hủy
tín ngưỡng truyền thống. Kết quả cuối cùng
là đưa xã hội hướng đến cực quyền.
Nhà tư tử người Pháp Tocqueville cho rằng
một xã hội không có bất cứ
tín ngưỡng nào cũng chỉ có thể
là một xã hội chuyên chế,
bởi vì chỉ có một thể chế chuyên chế
mới có thể tập hợp một nhóm người
không có bất cứ tín ngưỡng nào lại với nhau.
Một khi ma quỷ hoàn toàn
khống chế pháp luật, pháp luật sẽ
trở thành vũ khí cực mạnh của ma quỷ
để làm bại hoại con người.
Nhân loại sẽ luôn luôn ở trong siềng xích
và gông cùng của ma quỷ.
Trước tình cảnh khó khăn này, con người chỉ có
hai lựa chọn, hoặc phải phản kháng
cự tuyệt chấp hành pháp luật,
hoặc phải cải biến quan niệm đạo đức của bản thân
cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật
biến dị. Nếu theo cách thứ nhất
thì pháp luật chỉ như thủng rỗng kêu to.
Đúng như học giả Tocqueville
từng nói, pháp luật
cần phải dựa vào tín ngưỡng, nếu không
nó sẽ chỉ như thủng rỗng kêu to.
Đồng thời, xã hội sẽ xuất hiện
phản kháng chấn động và tê liệt.
Những người có thái độ khác nhau đối với
pháp luật cũng sẽ kích động đấu tranh
chính trị giữa các lực lượng khác nhau
dẫn đến gia tăng nhân tố
bất ổn định chính trị và gia tăng
sự quản chế của chính phủ.
Nếu theo cách thứ hai, sẽ dẫn đến
đạo đức truyền thống liên tục bị vứt bỏ,
đạo đức xã hội trượt dốc,
pháp luật sẽ ngày càng biến dị hơn,
thậm chí biến thành pháp luật xấu
cũng là pháp luật mà không ai nhận ra.
Nếu đi đến bước này,
cho dù dân chúng xã hội có phản ứng thế nào,
cuối cùng đều rơi vào cạm bẫy
của ma quỷ, khó có thể thoát ra được.
Trong cuốn Người Cộng sản Trần Trụi
đã từng liệt kê ra 45 mục tiêu
để xâm nhập nước Mỹ
của Đảng Cộng sản, chúng ta sẽ lấy ra
vài mục tiêu có liên quan đến pháp luật
và so sánh với thực tế.
Điều 16. Sử dụng các quyết định
kỹ thuật của Tòa án
làm suy yếu các cơ quan quan trọng của Mỹ
bằng cách tuyên bố các hoạt động
của họ vi phạm quyền công dân.
Điều 24. Xóa bỏ
tất cả các luật lệ quản lý
các nội dung khiêu dâm bằng cách gọi
các luật lệ đó là kiểm duyệt,
vi phạm tự do ngôn luận và tự do báo chí.
Điều 29.
Phản bác lại Hiến pháp Mỹ
bằng cách gọi đó là không phù hợp, lỗi thời,
không thích hợp với nhu cầu hiện đại,
cản trở sự hợp tác
giữa các quốc gia trên toàn thế giới.
Điều 33. Xóa bỏ tất cả
các quy định pháp luật can thiệp vào hoạt động
của bộ máy đảng Cộng sản.
Điều 38. Truyền giao một số
quyền bắt giữ của cảnh sát cho các tổ chức
xã hội, coi tất cả những vấn đề
về hành vi là rối loạn tâm thần
và chỉ có bác sĩ tâm thần
mới biết nên xử lý ra sao.
Điều 39. Khống chế hoạt động
chuyên môn về bệnh tâm thần và
sử dụng luật sức khỏe tâm thần như là
biện pháp để kiểm soát tất cả những người
phản đối các mục tiêu của chủ nghĩa Cộng sản.
Điều 45. Hủy bỏ
Chỉ có Mỹ có khả năng quyết định vụ việc nào
thuộc phạm vi quản lý của pháp luật
nội bộ Mỹ. Để Mỹ không thể
ngăn cản tòa án quốc tế nắm quyền
tài phán về các vấn đề trong nước,
cho phép tòa án quốc tế có thể
quản lý các vấn đề trong nước, cho phép
tòa án quốc tế có quyền tài phán
về các quốc gia cũng như cá nhân.
Đối chiếu thực tế hiện nay và các mục tiêu
đã được trình bày ở trên sẽ phát hiện
rằng một số mục tiêu gần như
Tình trạng chủ nghĩa Cộng sản thông qua thủ pháp
pháp luật để xâm lấn nền tư pháp hiện nay
ở Mỹ đã ở mức thấy mà sợ.
Dù là hệ thống pháp luật
dựa trên sự thù hận ở các quốc gia
đảng Cộng sản hay là hệ thống
pháp luật phương Tây liên tục bị
chủ nghĩa Cộng sản xâm lấn đều
đánh mất đi tinh thần căn bản của pháp luật
đó là kính thần và đạo đức
truyền thống. Nếu chúng ta
không thể giữ vững giới hạn đạo đức,
không thể lấy điều của thần làm
tiêu chuẩn thiện ác cuối cùng
thì chúng ta chỉ có thể đánh mất giới hạn
đạo đức và tư pháp độc lập
dưới sự xâm lấn của tà ninh Cộng sản
và cuối cùng nghe theo những người
đại diện bị tà ninh Cộng sản
khống chế lợi dụng pháp luật để
tấn công cái thiện và dùng túng cái ác
một cách không tự biết mà
thực hiện âm mưu cuối cùng của tà ninh
là hủy diệt nhân loại. Hãy
mau chóng thoát khỏi sự khống chế
của tà ninh. Thời gian không thể
chỉ hoãn nữa.
