Ngày 21 tháng 7 năm 2025 lúc 14 giờ 45 phút 13 giây

MẠN ĐÀM CỐ SỰ
1.4K Người theo dõi
Cao tăng vén màn bí ẩn về nhân loại ngày nay: Một niệm thiện ác định ra phúc hoạ đời người, phần 2.
#chuyencodaogia
#chuyencophatgia
#ngamaudio
#laotu
#khongtu
#vanhoa #vanhoatruyenthong #suyngam #giaoduc #baihoccuocsong #loidayconhan #nhansinhcamngo #trietlycuocsong #longtotthattuyet #trietlynhansinh #trungquoc #china #honghongwomen #gjw
Từ xưa đến nay, trong giới tu luyện lưu truyền rất nhiều câu chuyện về các vị đạo sĩ hay cao tăng đắc đạo, họ đã khai mở công năng, chứng đắc thần thông và nhìn thấy được rất nhiều điều mà người thường không thể thấy.
Dưới đây là lời kể của một vị cao tăng như thế.
Mời quý thính già nghe tiếp phần 2.
Khi bắt đầu vân ru, tôi nghĩ nếu như Đức Phật Thích Cà Mâu Ni nói rằng Pháp của Ngài không còn lình nữa, vậy phải chăng? Pháp của Đạo gia vẫn có thể độ nhân.
Ôm theo cách nghĩ ấy, tôi bèn đến các thánh điện nổi tiếng của Đạo giáo như Núi Võ Đăng hoặc là Núi Long Hổ, biết đâu sẽ tìm được chân Pháp.
Chỉ cần có thể tu thành chính quả, còn quản gì đến tu Phật hay tu Đạo nữa đây? Tôn ngộ không chẳng phải cúng từ Đạo mà tu thành Phật đó sao?
Bồn bạ suốt nhiều tháng trời, tới mùa thu năm 1992, tôi đến núi Võ Đăng, lúc mới đến nội thành Đan Giang Khẩu.
Khi còn chưa lên núi, tôi vô tình gặp một vị đạo sĩ trên phố.
Tôi dùng thiên nhãn xem thử, thì thấy trong đầu của vị đạo sĩ này toàn là tiền bạc và mỹ nữ.
Đương nhiên, một người bình thường nghĩ về những chuyện này thì không có gì đáng ngạc nhiên.
Nhưng trong đàn điền của vị đạo sĩ ấy, có đồ hình thái cực.
Điều này cho thấy, anh ta là đệ tử nhập môn đã được chân truyền.
Một người thanh tu trong huyền môn đã được chân truyền, vậy mà trong đầu lại toàn là tiền bạc và mỹ nữ.
Bủ biết rằng, Pháp trong đạo giáo của họ đã không còn linh nữa, nếu không sẽ không xuất hiện tình huống này.
Lúc đó, tôi vẫn cảm thấy không chắc chắn, nên tôi hướng về phía núi Võ Đăng và quỳ xuống lặng lẽ khấn vái.
Hy vọng tổ sư Tam Thanh của đạo giáo có thể cho một chút khai thị.
Sau khoảng một giờ đồng hồ vái lệ như thế, mặc dù Pháp thân của Tam Thanh không xuất hiện.
Nhưng tôi vẫn nghe thấy có tiếng nói rằng, Pháp của đạo giáo cũng không còn linh nữa.
Thần trong đạo giáo từ lâu đã buông tay rồi, vậy nên càng không thể giúp người ta tu thành chính quả được nữa.
Tôi xin Ngài ấy chỉ điểm, rằng đến nơi đâu mới có thể tìm được chân Pháp, chân sư.
Giọng nói cho tôi biết, chỉ cần tôi tiếp tục tìm kiếm, sẽ có thể gặp được người cứu độ.
Không còn cách nào khác, tôi đành phải tiếp tục vân du, để sớm ngày gặp được chân sư.
Cuộc gặp gỡ với người ngoài hành tinh.
Trong lúc rời khỏi đan gian khẩu, tôi đã gặp một đôi nam thanh nữ tú, khoảng 25,26 tuổi, ăn mặc trông khá thời trang.
Nhưng vừa nhìn sơ qua, tôi đã biết họ không phải con người, hơn nữa cũng không phải là linh thể động vật, bám lên thân người.
Tuy mang ngoại hình của con người, nhưng họ lại không phải con người, cũng không phải là động vật phụ thể.
Tôi vô cùng ngạc nhiên, bèn nhìn thêm để tìm cho ra căn nguyên.
Khi xem tín tức tồn trữ trong đầu não họ, tôi mới biết đó là người ngoài hành tinh, chứ không phải con người trên trái đất này.
Rất nhanh chóng, họ phát hiện tôi đang dùng thiên nhãn để thăm dò, nên tỏ ra vô cùng sợ hãi.
Họ chạy đến, quỳ xuống dập đầu trước mặt tôi, xin tôi đừng vạch trần bí mật của họ, bỏ qua cho họ một lần này.
Tôi nói cứ tự nhiên, các vị muốn làm gì thì làm, tôi cũng không quản chuyện của các vị.
Họ rất vui mừng và nói nhiều lời cảm kích.
Khi đã biết ngọn nguồn của họ, tôi không còn thắc mắc, cũng không để tâm đến hai người ngoài hành tinh này nữa.
Nào ngờ, kể từ đó họ cứ bám chặt lấy tôi, đi theo tôi, một mực cầu xin tôi thu nhận họ làm đồ đệ.
Nghiêm khắc mà nói, người ngoài hành tinh chính là động vật, họ không có thể tùng quả và đan điền,
không có bản tính lương thiện, không xứng được nghe Phật Pháp, và cũng không thể tu luyện.
Nhưng một mình vân dụ rất cô đơn, thêm hai người đi cùng cũng không phải là chuyện xấu.
Như vậy, mặc dù tôi không thu nhận họ, nhưng lại cho phép họ đi cùng.
Và từ miệng của hai người này, tôi đã biết nhiều hơn nội tình liên quan đến họ.
Theo đó, bên ngoài trái đất còn tồn tại vô số các nền văn minh vũ trụ.
Có những nền văn minh đã trải qua lịch sử rất lâu dài, vượt ngoài sức tưởng tượng của con người chúng ta.
Và nếu dùng thời gian của trái đất mà tính toán, thì nền văn minh lâu dài nhất cũng hơn 3 tỷ năm.
Trình độ kỹ thuật của văn minh ngoài hành tinh vượt rất xa nhân loại, đạt đến độ cao siêu không thể nghĩ bản.
Nhưng bất kể văn minh của họ lâu dài đến đâu, khoa học kỹ thuật của họ phát triển đến thế nào,
thì khi tới một trình độ nhất định, sẽ không thể tiến thêm được nữa.
Điểm chủ yếu nhất là, bất luận khoa học kỹ thuật phát triển ra sao,
thì khi đến một tuổi thọ giới hạn, họ vẫn phải chết đi.
Cũng chính là nói, bất kể dùng biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nào,
họ cũng không thể kéo dài thọ mệnh được.
Suy cho cùng, người ngoài hành tinh chính là động vật có trí tuệ và có trình độ kỹ thuật cao siêu.
Nhưng họ chỉ có khoa học mà không có văn hóa.
Thế giới của người ngoài hành tinh không có văn hóa, không có âm nhạc,
cũng không có văn học và triết học,
càng không có quy phạm đạo đức và tín ngưỡng đối với thần Phật giống như con người trái đất.
Khi người ngoài hành tinh tìm ra trái đất, họ phát hiện rằng,
tín ngưỡng đối với thần của con người là điều vượt trên cả khoa học của họ.
Rất nhiều người đang thắc mắc, khoa học kỹ thuật của người ngoài hành tinh phát triển như thế,
vậy rốt cuộc họ đến trái đất để làm gì?
Rốt cuộc là có ý đồ gì đây?
Các vị đang đứng ở lập trường của con người thì dù nghĩ thế nào cũng không tìm ra được.
Tôi biết rằng, điều họ thèm khác nhất chính là văn hóa và tín ngưỡng của chúng ta.
Họ muốn học tập tín ngưỡng của con người đối với thần Phật.
Trên thế giới hiện nay, trong xã hội nhân loại,
có một số lượng vô cùng lớn người ngoài hành tinh,
đến từ những nền văn minh khác nhau, trình độ khoa học kỹ thuật khác nhau,
nhưng đều chung một mục đích là học tập văn hóa nghệ thuật,
học tập quy phạm đạo đức và học tập tín ngưỡng đối với thần của con người.
Tuy nhiên, người ngoài hành tinh đang cố ý hoặc vô ý tiết lộ khoa học kỹ thuật cho nhân loại.
Hiện nay cái gọi là khoa học kỹ thuật cao, ví như bom nguyên tử,
máy vi tính, công nghệ nhân bản, 90% những thứ này đều là người ngoài hành tinh mang đến.
Điểm này từ lâu đã có người biết nhưng họ không dám nói ra.
Vấn đề là, mặc dù người ngoài hành tinh đã dốc hết sức học tín ngưỡng thần Phật,
nhưng rốt cuộc họ vẫn chỉ là động vật, thần sẽ không hóa độ họ.
Người ngoài hành tinh ở trên tinh cầu của mình đã phỏng theo cách thức con người trái đất
để xây dựng lên những giáo đường, chùa triển, cho đến những bức tượng Phật vô cùng quy mô,
nhưng thần Phật vẫn không quan tâm đến họ, không hóa độ họ.
Người ngoài hành tinh không còn cách nào khác, thế là từng nhóm,
từng nhóm lớn đã đến trái đất, nguy trang thành con người,
hoặc sống ẩn nấp giữa con người, mưu đồ học theo hình dạng của con người,
với hy vọng thần Phật sẽ cứu độ họ.
Điều này quả thật rất nực cười.
Người ngoài hành tinh có trình độ khoa học cao siêu,
lại liều cả mạng sống để được tín ngưỡng thần Phật,
trong khi con người, vốn dĩ nên tín ngưỡng vào thần,
thì lại xem khoa học là đối tượng để tôn thờ cả đời.
Vậy rốt cuộc người ngoài hành tinh trông như thế nào?
Làm sao họ có thể trà trộn vào xã hội chúng ta?
Hình dạng phổ biến của các sinh mệnh ngoài hành tinh vô cùng xấu xí.
Bất kể nam hay nữ, đều vô cùng xấu xí.
Họ cũng không có khái niệm về cái đẹp và cái xấu như của nhân loại.
Nhưng ngoại hình của họ cũng không phải là cái đầu to,
cặp mắt lồi, cổ dài và nhỏ, giống như trong phim ảnh, không phải là hình dạng đó.
Thân thể của họ rất đa dạng, có thể biến hóa theo bất kỳ hoàn cảnh nào.
Vậy nên sau khi đến trái đất,
họ biết mô phỏng theo hình dạng của người trái đất để mê hoạc người ta.
Nên nhìn từ bên ngoài, con người sẽ không phân biệt được.
Đương nhiên, trong số những người ngoài hành tinh,
cũng có người tốt, cũng có người thật lòng muốn học tập văn hóa,
nghệ thuật cổ xưa của nhân loại.
Nhưng đó chỉ là thiểu số.
Hai người mà tôi gặp cũng có thể nói là không tệ.
Về người ngoài hành tinh, tạm thời chỉ nói nhiều như vậy thôi.
Trung tuần tháng tư năm 1993,
tôi vận du đến Ngũ Đại Sơn, tỉnh Sơn Tây,
nơi từng là đạo tràng của văn thù Bồ Tát.
Mục đích tôi đến Ngũ Đại Sơn là để thăm chùa thanh lương của Thiền Tông.
Nhưng hiện nay chùa miếu trên núi rất nhiều,
tông phái mọc lên như rừng.
Thiền Tông, Mật Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông,
thầy đều có cả.
Buổi sáng hôm đó, tôi khởi hành từ huyện thành Phồn Chĩ,
đi bộ lên trên Ngũ Đại Sơn.
Với tốc độ của mình, tôi có thể hoàn thành lộ trình
dưới 50km này trước khi trời tối.
Nhưng trên đường, tôi đã gặp một chuyện làm lỡ dở hành trình.
Lúc đó là gần giữa trưa,
khi hóa duyên, tôi gặp một gia đình đang chuẩn bị mổ chó.
Đó là một con chó màu vàng,
nặng khoảng 20kg, bị trói chặt trên cây, trông rất tội nghiệp.
Đứng cạnh đó là một người đàn ông vạm vỡ,
khoảng 40 tuổi, còn con chó kia
chính là kẻ đã hại chết ông ta vào đời trước.
Điều này rất rõ ràng.
Đời trước tạo nghiệp,
nên đời này chuyển sinh thành súc vật để trả nợ.
Phải chịu một đau như thế,
mới có thể hóa giải hết quán thù.
Thông thường những chuyện này tôi không muốn quản,
bởi tôi hiểu rằng,
ân oán đời trước đã dẫn đến như vậy.
Tôi không quản,
nhưng không có nghĩa là người khác cũng không quản.
Khi người đàn ông vạm vỡ ấy,
treo ngực con chó lên,
chuẩn bị rơi con dao đồ tể,
thì một bà lão xuất hiện.
Bà lão ngỏ ý mua lại con chó,
với giá 100 đồng,
để nó khỏi phải chịu cái án giết mổ.
Nào ngờ người đàn ông đó,
sống chết cũng kiên quyết,
phải cắt tiết con chó này.
Bà lão không bỏ cuộc,
nên đã nâng giá cả lên 200 đồng.
Người đàn ông vẫn không động tâm,
hơn nữa còn nói đây không phải là vấn đề tiền bạc,
mà ông ta chỉ muốn giết nó để ăn nhậu,
nếu không trong lòng sẽ khó chịu không yên.
Không còn cách nào khác,
bà lão đành phải liên tục nâng giá lên,
hy vọng ông ta sẽ đổi ý.
Cuối cùng khi mức giá lên đến 1.000 đồng,
thì ông ta mới chấp nhận tha cho nó.
Vào thời điểm ấy,
1.000 đồng là con số không hề nhỏ.
Trong toàn bộ quá trình bà lão giải cứu con chó,
tôi nhìn thấy tấm lòng lương thiện của bà,
giống như ánh vàng kim lué sáng.
Sau đó, bà lão dẫn con chó ra ngoài làng phóng sinh.
Lúc này tôi đã ngăn lại,
tôi nói rằng bà nên nuôi dưỡng nó,
cho đến khi nó chết mới thôi.
Tại sao?
Bởi vì sinh mệnh của nó,
đáng lẽ đã kết thúc rồi.
Vận mệnh của nó chính là được an bài như vậy.
Nhưng vì sự can thiệp của bà lão,
mà xảy ra thay đổi.
Như vậy bà cần phải chịu trách nhiệm
với tiến trình sinh mệnh còn lại của nó.
Nếu không,
bất kỳ nghiệp tội nào,
mà con chó tạo ra sau đó,
đều sẽ tính lên thân của bà.
Ví như,
con chó cắn người,
ăn trộm đồ của người khác,
hoặc làm tổn hại những loài vật khác.
Những nghiệp tội này,
đều sẽ ghi lên thân bà lão.
Có công nói rằng,
làm việc tốt thì cần làm đến cùng,
tiễn Phật tiễn đến tận Tây Thiên.
Người bình thường rất khó lý giải,
hàm nghĩa chân chính trong câu nói ấy.
Đây thực ra là,
các vị làm việc tốt,
thì cần phải làm đến nơi đến trốn,
phải có trách nhiệm tới tận cùng.
Nếu các vị chỉ làm một nửa,
rồi không quản nữa,
rất có khả năng việc đó sẽ trở thành chuyện xấu.
Từ đó mà tăng thêm tội nghiệp của các vị.
Hiện nay có rất nhiều người,
tự cho là tiến Phật,
mỗi năm làm phóng sinh,
nói là tích công đức,
được phúc báo,
tôi thấy rất khó.
Tại sao?
Ví như có người,
thả con cá lóc vào hồ để phóng sinh,
anh ta nói mình đã tích công đức rồi.
Tôi nói anh ta dẫu tích chút công đức,
nhưng sau đó những nghiệp tội mang đến,
có thể còn lớn hơn.
Các vị thử nghĩ xem,
con cá lóc đó sẽ ăn sạch cá nhỏ trong hồ,
so với việc thả hồ về rừng,
nào có khác gì đâu.
Nhiều người có thể thắc mắc,
nếu sinh mệnh của con chó kia đã chấm hết rồi,
thì cứ sao sau khi được bà lão cứu,
nó lại không ngã lăn ra mà chết ngay đi.
Phạm là những sự tình như vậy,
thần vì để bảo vệ thiện niệm của con người,
nên sẽ kéo dài một đoạn thời gian sống cho con chó,
nhưng không quá dài.
Nếu không,
vừa cứu một sinh mệnh thoát khỏi lưỡi đau,
nháy mắt một cái nó đã lăn ra chết,
thử hỏi còn ai,
có nguyện ý làm việc tốt nữa đây.
Về sau bà lão nghe theo lời kiến nghị của tôi,
dẫn con chó về nhà nuôi dưỡng,
một việc thiện này của bà lão,
có thể nói là công đức vô lượng.
Thông qua nỗ lực và phó xuất,
bà đã thiện dài một đoạn hoan nghiệt,
giảm đi một trường giết chóc.
Đây chính là Phật tính lué sáng,
là mặt đáng quý nhất của con người.
Nhờ thiện niệm trong tâm,
bà lão không chỉ giải cứu một sinh mệnh,
mà còn tích vô lượng công đức cho chính mình.
Nhưng đáng tiếc là,
không phải ai ai,
cũng giữ được tấm lòng lương thiện như bà lão ấy.
Và hãy thử nghĩ xem,
có phải con người hiện đại,
ngày càng trở nên thở ơ,
ngày càng lãnh cảm hay không?
Có người vì lợi ích cá nhân,
mà không ngại thỏa hiệp với cái ác.
Cũng có người vì để bảo vệ bản thân,
mà sẵn sàng im lặng cho cái ác hoành hành.
Khi chứng kiến những sự việc đại thiện,
đại ác,
họ lại tránh né,
không dám lên tiếng bảo vệ cho những người vô tội.
Hoặc khi có người nói với họ những lời chính nghĩa,
kêu gọi họ hãy thức tỉnh lương chi,
hãy bảo vệ người vô tội,
thì họ lại buông ra những lời khiếm nhã,
và quay mặt đi một cách lạnh lùng.
Chỉ một thái độ này thôi,
đã đủ để phơi bẩy mặt thiện và ác trong tâm mỗi người.
Kỳ thực,
lựa chọn đứng về thiện hay ác
chỉ khác nhau ở một niệm,
nhưng lại quyết định phúc báo của mỗi người.
