"Xá Lợi Phật: Bí Ẩn Viên Ngọc Sáng Khiến Hàng Triệu Người Phải Quỳ Gối
Một hạt ngọc nhỏ nhoi, một mảnh xương vụn vỡ – liệu có thể thay đổi số phận của hàng triệu người? Hành trình truy tìm xá lợi Đức Phật – từ những tháp cổ xưa trên đất Ấn đến phút giây thiêng liêng khi báu vật về Việt Nam – không chỉ là cuộc khảo cổ, mà còn là minh chứng lịch sử khẳng định: Đức Phật không phải huyền thoại. 👍 CD Media - Khám Phá là nơi mở ra cánh cửa tri thức về những bí ẩn, câu chuyện kỳ thú và những hiện tượng chưa được giải đáp trong thế giới xung quanh chúng ta. Dựa trên việc tham khảo các nguồn thông tin phong phú và đa dạng, kênh kết nối những kiến thức và quan điểm khác nhau, giúp khán giả có được cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về những bí mật từ tự nhiên, khoa học, vũ trụ, con người,….
Một hạt cốt nhỏ bé lại có thể khiến hàng triệu người quý xuống là điều phi lý, hay là bí mật thiêng liêng của Đức Tín.
Giữa cho tàn sau buổi lễ hỏa táng, vì sao lại xuất hiện những tinh thể rực rỡ như ngọc.
Thậm chí thân xác của các nhà sư không được bảo quản, vẫn có thể tồn tại bất hoại hàng trăm năm.
Đó không phải là truyền thuyết, mà là xá lợi Phật.
Từ miền biên giới Ấn, Nepal, cho đến tháp vàng rực rỡ ở Thái Lan, Myanmar, Sri Lanka.
Xá lợi được cất giữ trong những bảo tháp cổ xưa như báu vật tối thượng.
Đây là hành trình tìm lại xá lợi của bậc giác ngộ, và hơn cả thế nữa.
Danh từ xá lợi do âm tiếng Phạn là Sari Rikatatu, mang nghĩa hạt tinh túy.
Hình thành sau khi thân xác tàn giã hoàn toàn trong lửa.
Trước đó, nói đến chất gián này, người ta thường nghĩ đến xá lợi của Đức Phật.
Nhưng cũng có những vị tăng và sư đắc đạo.
Sau khi làm lễ trả tỷ, đệ tử cũng thu được nhiều hạt ngọc này.
Thậm chí tất cả đồ dùng là di tích của Phật hay bình bát, tích trượng, đều gọi là xá lị.
Khác với cho tàn thông thường, xá lợi sau khi trả tỷ có hình thu nhỏ, gián chắc.
Đôi khi trông như pha lê, lúc lại phát hoàng đủ màu rực rỡ.
Chúng là kết quả đúc kết từ công phu hành trí giới luật, thiền định và trí tuệ suốt một đời thành tù.
Trong số đó, những viên được gọi là ngọc xá lợi hay còn biết đến với tên xá lợi Phật,
chính là di cốt toàn phần của Đức Phật Thích Ca sau họa thiêu.
Chúng kết tụ thành từng vật chất nhỏ giống hạt đậu, cứng đến mức đá đập vào cũng vẫn nguyền vẹn.
Kinh văn Đại trí Đỗ Luận quyển 59 chép rằng,
dù chỉ dâng một hạt xá lợi bé như hạt cải, Phước Đức nhận được cũng vô lượng vô biên.
Về phân loại, ngọc xá lợi được chia thành hai nhóm chính.
Thứ nhất là toàn thân xá lợi, tức thân thể còn nguyên vẹn không bị thiêu hủy,
do nguyện lực của các vật thánh tăng như Phật Đa Bảo, Lục Tổ Huệ Năng hoặc Ngài Cư Ma La Thập.
Thứ hai là phần xá lợi hòa thân, chính là tinh thể kết tinh từ cho cốt sau khi thiêu,
được lưu thờ tại bảo tháp, tự viện hay những nơi lình thiền.
Suốt hơn 2.000 năm qua, Đức Phật được tôn kính như bậc giác ngộ tối thượng,
nhưng câu hỏi về sự tồn tại thực sự của nhân vật này vẫn khiến giới học giả chan trở.
Đặc biệt là khi các tư liệu ghi chép chỉ xuất hiện sau khi Ngài viên tịch
và chủ yếu truyền qua hình thức truyền khẩu, nên việc tìm ra xá lợi trở thành bằng chứng thèn chốt.
Nếu những gì cốt đó là xác thực, chúng không chỉ xác lập giá trị lịch sử,
mà còn khẳng định Đức Phật từng hiện diện như một con người có thật.
Và manh mối đầu tiên về xá lợi xuất hiện cho các văn bản của triều đại Maurya kể lại rằng
Sau lễ hòa táng được thực hiện tại Kushinaga,
trò của những manh xương còn lại của Ngài được phân chia và chuyển giao cho vua của tám tiểu quốc,
trong đó có dòng họ thích ca tại Kinh Đô-Ka-Ti-La-Vệ.
Dựa theo di huấn, 10 ngôi bảo tháp được dựng lên,
8 tháp đặt tại mỗi nước nhận phần xá lợi,
1 tháp trên đống cho tàn của gian hòa thiêu
và tháp cuối đặt bên trên chiếc bình từng dùng để thu giữ xương và cho sau lễ hòa táng.
Tư liệu lịch sử ghi rằng,
Vua Shoka, người trị vị tiểu lục địa Ấn Độ trong khoảng năm 270-230 trước Cổng Nguyên,
đã khai mở 9 trong số 10 bảo tháp ấy để phân bộ lại thành 84.000 phần rồi đưa đi khắp lãnh thổ của mình.
Từ đó hàng loạt công trình mới được xây dựng nhằm tôn trí xá lợi của Đức Thể Tôn,
giúp những người dân khắp nơi có cơ hội để chiêm bái.
Thế nhưng trong suốt nhiều thế kỷ sau đó,
cùng với các biên cố lịch sử, Phật giáo suy tàn tại Ấn Độ, bảo tháp cũng dần bị lãng quên.
Không ai biết chính xác xá lợi của Đức Phật đang ở đâu.
Mãi đến cuối thế kỷ 19, mọi thứ bắt đầu thay đổi.
Nhiều di tích Phật giáo cổ đại được phát hiện tại miền Bắc Ấn, gần biên giới về Nepal.
Đặc biệt năm 1896, một cột đá mang điện đại thầy Ashoka được tìm thấy tại Lumbini,
được cho là đánh dấu nơi Đức Phật đạt dình.
Phát điện này đã thu hút sự chú ý của William Clayton Pepe, kỹ sư nghề Anh,
đồng thời là quản lý các đồn điện rộng lớn ở phía nam biên giới Nepal,
bao gồm cả điền trang Burper.
Trong một báo cáo được đăng trên tạp chí của Hội Á Đông Hoàng gia,
ông Pepe viết,
Kể từ khi phát hiện ra cột đá trong khu vườn Lumbini, đánh dấu nơi sinh của Thái tử Gautama,
sự tò mò ngày càng tăng đối với những gò đất, hay còn gọi là coast,
theo cách gọi của người địa phương.
Chúng nằm dài rác trong vùng đất kéo dài từ Kapilavastu ở phía tây bắc
đến vườn Lumbini phía đồng bắc, vắt qua lãnh thổ Nepal,
sang tận vài dặm bên trong đất Ấn thuộc Anh.
Vào mùa xuân năm 1897, công việc khai quật chính thức được bắt đầu.
Họ bắt đầu đào bới một gò đất được cho là nổi bật hơn hẳn phần còn lại,
gần làng Piprawa, thuộc khu điền trang Burper.
Quyết định thực hiện của khai quật này có thể không chỉ xuất phát từ đam mê khảo cổ,
mà còn mang mục đích nhân đạo.
Trong suốt hai năm 1896 và 1897,
vùng Trung và Tây Bắc Ấn Độ bị nạn đói hoài hành,
tỷ lệ tử vong do thiếu ăn và dịch bệnh bùng phát đạt mức báo động.
Việc tổ chức khai quật ở Piprawa đã giúp gây dậy tinh thần
và tạo thêm việc làm hỗ trợ dân nhỏ.
Đây có lẽ là điều mà Burper với tư cách một nhà quản lý khí ấy hoàn toàn ý thức được.
Sau nhiều tuần dọn dẹp bụi rậm và lớp đất dày trên gò,
nhóm khai quật phát hiện phần nền gạch nung màu đỏ sàn chắc.
Khi đào sâu thêm, họ tìm thấy mái vòm đồ sổ có đường kính sấp xỉ 40 mét.
Nhận thấy quy mô di tích vượt qua chuyên môn cá nhân,
Pepe lập tức tìm đến Vincent Smith,
chuyên gia uy tín về lịch sử và khảo cổ Ấn Độ cổ đại,
lúc ấy đang công tác tại quận gần đó.
Ngay khi quan sát địa điểm còn rang rở,
Smith khẳng định đây là một bảo tháp Phật giáo cổ xưa hiếm gặp,
rất có thể thuộc thời kỳ vua Ashoka trị vỉ.
Đầu tháng Giêng năm 1898, Pepe tiếp tục công trình.
Sau khi đào xuyên qua lớp gạch dày hơn 5 mét,
ông chạm đến một phiền đá lớn,
đó chính là nắp đậy của rừng đá khổng lồ bên dưới,
mà theo lời ông mô tả,
đã được khoét rỗng về công sức và chi phí đáng kể.
Bên trong hòm là 5 bình nhỏ,
cao chứa đến 18 cm,
chứa đầy các vật phẩm quý giá.
Chúng bao gồm vô số ngôi sao,
đĩa lá bằng vàng bạc,
dập nổi biểu tượng Phật giáo,
cùng hàng loạt chuỗi ngọc trái kỹ thức khác nhau.
Có viên còn kết dính thành từng cụm 2, 3 hoặc 4.
Ngoài ra, còn có các hạt gồm được khoản lỗ và tạo hình khác,
và những tạo hình khác được làm từ má não đỏ,
thạch anh trắng, thạch lựu, hoàng ngọc, san hô và phà lệ.
Trong mỗi chiếc bình,
người ta còn tìm thấy cho và nhiều mảnh xương nhỏ.
Trên thành một bình có các dòng chữ cổ Brahmi.
Tạm dịch là
Hồn định xá lợi này của Đức Phật đáng kính,
thuộc dòng tộc Sakya,
là sự cúng dương của những người anh em của Sukhiti,
cùng với các chị em, các con trai và những người vợ của họ.
Có vẻ như Pepe đã khách cuộc được một trong 8 bảo tháp nguyên thủy
từng lưu giữ cho vật dương của Đức Phật.
Theo truyền thuyết,
chính bộ tộc Sakya, dòng họ của Ngài,
đã dừng nên công trình này để tưởng nghiệm người thần lỗi lạc của mình.
Bảo tháp tại Phi-Prawa được cho là đã trải qua 3 giai đoạn xây dựng riêng biệt.
Giai đoạn đầu tiên do người Sakya thực hiện ngay sau khi Đức Phật tuyển tịch.
Đó là một kiến trúc hình tròn làm từ đất xét,
có đường kính khoảng 38,9m và cao chừng 0,9m.
Giai đoạn kế tiếp xuất hiện dưới thời đế chế Maria,
với sự can thiệp của Hoàng đế Ashoka,
người cho khai quật xá lợi và xây dựng thêm công trình mới ngay trên nền tháp cũ.
Kiến trúc trong thời kỳ thứ 2 nổi bật với lớp gạch nùng kỹ, trộn dơm
và được xếp theo từng vòng tròn bằng bữa đất xét.
Phần móng có kích thước rộng 35m và cao khoảng 6,7m.
Đến giai đoạn cuối cùng, chiều cao của bảo tháp được nâng lên đáng kể,
đồng thời phần nền được cài tạo thành hình vuông thay vì tròn như trước.
Ngoài ra, xung quanh tháp chính,
các công trình tăng viện cũng được dựng nền nhóm phục vụ hoạt động tù hành.
Tuy không rõ thời điểm chính xác,
nhưng nhiều học giả cho rằng sự thay đổi này xuất hiện vào thời đại Cusan,
khoảng hai thế kỷ rưỡi sau triều đại của Ashoka.
Không lâu sau đó, nghi vấn được đặt ra về nguồn gốc của dí tích này.
Giờ trên vị trí địa lý,
liệu có khả năng Viprawa chính là Kapilavastu cổ đại,
nơi Đức Phật đã sống thời niên thiếu?
Một số chuyên gia tỏ ra hoài nghi cho rằng
Tilarakot, ngôi làng ở vùng Terai của Nepal mới là Kapilavastu thực sự.
Quá điểm này được đưa ra dựa trên mô tả của các nhà sư Trung Hoa
như Pháp Hiển và Huyền Cha
từng du hành sang Ấn Độ vào thế kỷ thứ 5 và thứ 7 sau Công Nguyên.
Hơn nữa, những cuộc khai quật tại Tilarakot
đã phát lộ hàng loạt kiến trúc quy mô,
cho thấy nơi này từng là trung tâm quyền lực lớn thời xưa.
Lúc bấy giờ, tin tức về xá lợi đã là nhanh.
Các tờ báo lần lượt đưa tin về hàng loạt phát hiện chấn động
trong lĩnh vực khảo cổ Phật giáo.
Nhưng kết quả khai quật tại Piprawa cũng được cộng đồng Phật giáo quan tâm.
Một trong số đó là Hoàng tử Prith Dang,
còn gọi là Jinavaravamsa,
từng là đại sứ của Siem
và là anh em họ của vua Rama Đệ Ngũ.
Năm 1896, vị Hoàng tộc này quyết định xuất ra tại Sri Lanka,
cung hiến cuộc đời mình cho Phật giáo.
Khi việc phát hiện xá lợi tại Piprawa được công bố,
Jinavaravamsa đang trong chuyến hành hương
đến các thành tích Phật giáo tại miền Bắc Ấn Độ.
Ngay sau khi nghe tin, ông lập tức đến dinh thự của Burper
trong thời gian lưu trú tại nhà của kỹ sư Pepe.
Vị Hoàng tử thu sĩ đã viết bức thư trình bày nhiều lập luận
thuyết phục chính quyền Anh trao chúng cho vua Rama Đệ Ngũ của Thái Lan
để từ đó chia sẻ cho các quốc giáo Phật giáo khác.
Ông không chỉ nói về giá trị tôn giáo của xá lợi
mà còn chỉ ra ý nghĩa sâu xa hơn.
Báo vật này không thuộc về bất cứ cá nhân hay quốc gia nào
mà chúng thuộc về tất cả những ai đi theo con đường của Đức Phật.
Các lập luận còn lại được trình bày dưới hình thức một bản ghi nhớ
bao gồm nhiều điểm logic rõ ràng.
Cùng ngày viết bức thư đó, Jinavaravamsa cũng gửi thư cảm ơn
Vincent Smith đã giới thiệu ông về tiến sĩ Howie,
Ủy viên khu vực Cobrapper,
người từng đến thăm Piprawa ngày 27 tháng 2
và đưa ra bản dịch sớm nhất của dòng văn khắc trên hộp xá lợi.
Những câu từ của Hoàng tử Thu Sĩ đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với Howie.
Về mặt chiến lược, việc trao một phần xá lợi cho nhà vua Siêm
là lựa chọn có lợi cho phía Anh.
Nó giúp xoa dịu sự bất mãn của nhiều Phật tử,
đặc biệt khi Bồ Đề Đạo Tràng vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của Ấn Độ Giáo.
Về phương diện chính trị,
hành động thiện trí về Siêm cũng mang lại giá trị thực tế
bởi quốc gia này đang giữ vị thế trung lập
trước sự cạnh tranh của các cường quốc Anh, Pháp và Nga tại Đông Nam Á.
Hội lập tức gửi báo cáo lên cấp trên
đính kèm bức thư và bản ghi nhớ của Gina Varavansa.
Năm 1899, chính quyền Anh đồng ý với điều xuất này
và một buổi lễ chính thức được tổ chức
để trao xá lợi cho sứ giả của vua Rama Đệ Ngũ.
Sau khi về Thái Lan,
các mảnh báo vật quý giá này được chia sẻ đến nhiều địa điểm quan trọng
và có vô số người hành hưởng đến chiêm bái.
Sau đó, xá lợi được thờ ở Wat Saket tại Bangkok.
Hai phần khác được gửi đến Mandalay và Rangun ở Myanmar.
Ba phần còn lại được đưa đến Sri Lanka.
Những phần xá lợi của đức vật
khi được chuyển đến các quốc gia tôn thờ ngài
đã trở thành biểu tượng thiêng liêng
kết nối hàng triệu trái tim cùng chung lý tưởng giác ngộ.
Mỗi lời tụng vang lên,
mỗi bước chân hành hưởng tiến về bảo tháp
đều phản chiếu lòng thành sầu thầm
và niềm tin bất diệt nơi giáo pháp nhiệm mầu.
Đặc biệt, khi các hòm đá cổ được khai mở tại Piprawa
đã cho thấy rằng
đức vật không phải là huyền thoại huyễn hoạc
mà là một con người từng sống suốt cuộc đời đầy khổ lụy
đã chứng ngộ chân lý tối thượng
qua nghị lực và tuệ giác.
Ngài từng đặt chân lên mảnh đất bụi bảm này,
từng nhìn thẳng vào nỗi khổ sinh,
lão, bệnh, tử, cuộc kiếp người.
Chính từ đào thương đó,
đức vật đã khai mở con đường vượt thoát khổ đau
không dành riêng cho thần thánh
mà để mọi người đều có thể bước theo nếu đủ trí tâm.
Tuy vậy, hành trình tìm kiếm dấu tích của đức vật chưa bao giờ dừng lại.
Sự phát hiện tại Piprawa đặt ra câu hỏi lớn
nếu đây chỉ là một phần xá lợi
thì số còn lại đang ở đâu?
Điều này đã tồi thúc các nhà nghiên cứu
tiếp tục cuộc truy tìm kéo dài nhiều năm
mở ra những phát hiện khác
và làm sáng tỏ thêm bức tranh lịch sử
về sự tồn tại của đức vật.
Một trong số đó là Thomas William Rhys Davies
học giáo nổi tiếng người Anh
người sáng lập Hiệp Hội Văn Bản Paris.
Khi nghe tin về nhiều mảnh xương
cùng di vật cổ được phát hiện
tại vùng đất gần Lumbini
nơi đức vật đang sinh
ông lập tức nhận ra tầm vóc lịch sử
và học thuật của sự kiện này.
Đặc biệt là trong bối cảnh
các nhà nghiên cứu phương Tây còn nhiều nghi ngờ rằng
người không phải nhân vật có thật.
Phát hiện tại Piprawa
có thể trở thành chứng cứ vật lý đầu tiên
củng cố tính xác thực về sự hiện yếu ấy.
Vì thế, ông quyết định đích thần đến Ấn Độ
để điều tra tận nơi.
Khi đến địa điểm khai quật
ông đã kiểm tra kỹ lướng các hộp đường xá lợi
quan sát tận mắt cấu trúc bảo tháp
và đặc biệt lưu tâm đến những dòng văn khắc
bằng chữ Brahmi cổ đại trên cầu vật.
Sau nhiều tuần khảo sát, phân tích
và đối chiếu với tài liệu kinh điển cổ
tại hội nghị của Hội Á Đông Hoàng gia
vào ngày 10 tháng 4 năm 1900.
Davis tuyên bố
các xá lợi được tìm thấy tại Piprawa
rất có thể là phần xương và cho cốt
được thu nhặt sau lễ trả tỷ của Đức Phật
và chúng đại diện cho một trong tám phần xá lợi
để được phần chia như đã ghi trong văn bản cổ.
Giả thuyết này càng được củng cố mạnh mẽ
bởi xác lệnh trên cột đá của vụ Ashoka
được phát hiện gần địa điểm khai quật.
Trước hàng loạt bằng chứng
Hội Á Đông Hoàng gia đã thông qua nghị quyết
công nhận tính khả tín của phân tích
do Rhys Davis thực hiện.
Đồng thời họ cũng đề nghị
Chính phủ Ấn Độ thuộc Anh
tài trợ kinh phí để PP
tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn
tại khu vực này.
Đến năm 1971, Srivastava
từ Cục Khảo Cầu Học Ấn Độ
đã tiến hành cuộc thám hiểm mới
tại Piprawa.
Sau khi đào sâu hơn tầng đất
mà PP từng khảo sát,
nhóm của ông phát hiện có hai buồng nhỏ.
Mỗi nơi có một chiếc quan tài bằng đá sao phòng
cùng số ít đĩa xứ màu đỏ bị vỡ.
Ở bên trong chúng là những mảnh xương
có niên đại khoảng thế kỷ thứ 5
trước cổng nguyên.
Ngoài ra nhiều con dấu đất nung
có khác chứ Kapilavastu được phát hiện.
Điều đó cho thấy địa điểm cổ xưa,
nơi mà Đức Phật trưởng thành,
nằm trên phần lãnh thổ thuộc Piprawa.
Dù cuộc tranh luận về vị trí thực sự
của xá lợi Đức Phật
vẫn kéo dài nhiều thập kỷ,
với việc các quốc gia như Sri Lanka hay Trung Quốc
tuyên bố cũng tìm thấy di tích liên quan,
nhưng phát hiện tại đây có ý nghĩa đặc biệt.
Về lẽ,
nó là những trường cứu hiếm hoi
có liên hệ trực tiếp
đến dòng tổng thích ca của Đức Phật,
cũng như hoàng đế Asoka vĩ đại
của triều đại Maurya.
Hiện nay,
chiếc bình khắc cổ tự do William Pepe phát hiện
đang được giên giữ tại Bảo tàng Ấn Độ,
thành phố Kolkata,
trong khi mẫu xương hóa thạch
do Srivastava khai quật
được lưu trữ tại Bảo tàng Quốc gia
ở New Delhi.
Do tính chất dễ tồn hại
sau hơn 2.000 năm vùi sâu trong lòng đất,
cộng với vai trò biểu tượng thiên liêng,
khiến việc đưa xá lợi ra khỏi biên giới Ấn Độ
trở thành quyết định vô cùng hiếm hoi
và chỉ thực hiện
trong những sự kiện mạng trọng trách văn hóa,
tín ngữ và ngoại giao đặc biệt.
Mới đầy nhất trong khoảng thời gian
từ ngày mùng 2 đến ngày 21 tháng 5,
xá lợi Đức Phật Thích Cà Mầu Nì
đã chính thức được rước về đất Việt.
Đây là dịp hiếm hoi
báo bật này vượt ra khỏi biên giới Ấn Độ
và lần đầu tiên được tôn trí ở nước ta.
Sự kiện này mang tầm vóc lịch sử
không chỉ với cộng đồng Phật tử
mà với cả những ai quan tâm
đến di sản tinh thần của nhân loại.
Xá lợi được vận chuyển
bằng chuyên cơ đặc biệt của quân đội Ấn Độ
và sẽ được an vị tại 4 địa điểm
gồm Chùa Thanh Tâm, TP.HCM,
Núi Bà Đen Tây Ninh,
Chùa Quan Sứ Hà Nội
và Chùa Tam Trúc Hà Nam.
Nghị lễ chiềm ngưỡng không đơn thuần là hình thức lễ bái
mà còn mở ra không gian thiền khoán
về giáo lý, hướng dẫn mỗi người
vun bồi lòng từ, sống có trí,
phùng hiến vì cộng đồng, đất nước
đồng thời gửi gắn nguyện nước
về một thế giới an lành.
Mọi người đều được thọ hưởng bình yên.
Cho đến tận ngày nay,
hình thức xá lợi tiếp tục được ghi nhận
tại nhiều vùng lãnh thổ vật giáo như Myanmar,
Sri Lanka, Thái Lan
và Trung Hoa.
Trong năm 2023, sau khi Đại sư tinh
Vân Viên tịch, cho cốt của Ngài
để lại hàng trăm viên tinh thể đủ sắc độ
tạo nên trấn động trong giới
tu học và hàng vật tử toàn cầu.
Tại Việt Nam, nhiều bậc cao tăng
khi qua đời cũng xuất hiện di vật đặc biệt này.
Tiêu biểu như hoa thượng tuệ sĩ,
bậc trí giả uyên thâm
và hình tượng lớn của vật học đương đại
được ghi nhận có xá lợi sau lễ trả tỷ
gây dạy niềm kinh ngưỡng
sâu sắc về đạo hạnh và tâm đức của Ngài.
Theo cách lý giải khoa học,
hình thức này có thể là tinh thể
kết tùa từ khoảng chất tồn dư trong cơ thể.
Nhưng dưới lăng kính tâm linh,
đó là biểu tượng sống động
của định lực, trí tuệ
và sự tu hành thành tịnh.
Một số hiện tượng khác còn đặc biệt hơn
được gọi là xá lợi toàn thân.
Tiêu biểu là hai thiền sư chùa đậu
Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trừa.
Vào thế kỷ thứ 17,
thiền sư Minh vào am nhập đỉnh.
Chọn trăm ngày sau, các địa tử
không nghe thấy tiếng mõ nữa.
Vội mở cửa am ra,
thì thấy Ngài vẫn ngồi đấy như đang trong lúc tọa thiền.
Nhiều năm sau,
thiền sư Trường cũng hóa như vậy.
Hiện tượng nhục thân bất hoại này
hoàn toàn khác với cứu thuật ướp sắc nhân tạo.
Nó xảy ra một cách tự nhiên,
không cần can thiệp hóa chất
hay loại bỏ nội tạng.
Vậy mà thân thể vẫn không thối giữa qua thời gian.
Đây là hiện tượng siêu thường
của con người, khoa học cũng khó giải thích.
Khiến nhiều người không khỏi tò mò
và kinh ngưỡng.
Chờ dừng lại ở đó, sự linh nghiệm
của xá lợi Phật xưa này xảy ra rất nhiều.
Trong tác phẩm Chuyện Cao Tăng Quyển I,
có ghi chép về Khương Tăng Hội
đến từ vùng trung đồng cổ đại.
Được xem là người đầu tiên
truyền đạo Phật đến đất Việt
trước cả Mâu Tử và Tý Ni Đa Lưu Trí.
Thời Tăm Quốc,
vua tôn quyền nước ngô vốn không tin Phật Pháp,
nên triệu Tăng Hội vào cung
hỏi về tính linh nghiệm.
Nhà sư đáp, trong vòng 3 tuần
sách cầu được xá lợi Phật có hào quang
chiếu dịu vô cùng.
Và đúng sau 21 ngày cầu nguyện,
xá lợi ráng xuống.
Khi vua sai lực sĩ dùng chày đá phá thử
cổng cụ tàn vỡ,
trong khi ngọc vẫn nguyên vẹn.
Cảm kích, tôn quyền cho xây
chùa Kiến Sơ, dựng tháp thờ
bảo vật linh thiêng.
Những ghi chép tương tự cũng xuất hiện trong
Tam Bảo Cảm Thông Lục,
Quảng Hoàng Minh Tập, Pháp Việt Châu Lâm.
Nhưng dù thế nào đi chăng nữa,
thay vì mê đắm và những hiện tượng kỳ bí,
mỗi người nên quay lại
về cốt lõi của đạo Phật,
nơi giáo Pháp vào giới luật là nền tảng
chuyển hóa khổ đau.
Kinh văn từng khẳng định rõ,
Pháp thân xá lợi mới là xá lợi đích thực.
Điều đó cho thấy rằng,
chân lý mới chính là di sản bất diệt.
Xá lợi không chỉ là vật hiếm quý,
mà còn là giới hiệu gợi nhắc
về một đời sống tỉnh thức.
Với nhiều người thiếu niềm tin,
đó chỉ là phần còn sót lại từ thể xác.
Nhưng trong ánh nhìn của người
tu hành chân thật, mọi viên xá lợi
đều là kết tình từ định lực, công phu
và giới hạnh không người nhìn.