Tam Tự Kinh (Hán Việt - Dịch nghĩa)

Kẻ Học Trò
776 Người theo dõi
363 Lượt xem video·13 thg 8, 2025
Kính thưa quý vị và các bạn, Tàm Tự Kinh là một tác phẩm kinh điển trong giáo dục nho học Trung Hoa, được biên soạn đầu tiên vào thời Nam Tống bởi Vương ứng Lân, sau này có nhiều bản được bổ sung và chỉnh lý.
Tàm Tự Kinh không chỉ có giá trị văn học mà còn là công cụ giáo dục quan trọng trong xã hội truyền thống.
Từng được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam thời xưa.
Xin trân trọng giới thiệu tới quý vị và các bạn.
Nhân chi sơ tính bản thiện, tính tường cận, tập tương viễn, cầu bất giáo tính nãi thiên, giáo tri đạo, quý dĩ chuyên.
Nghĩa là phàm con người ta mới sinh ra đều có cái bản tính thuốc lành.
Vì cái bản tính ấy giống nhau nên giúp họ gần nhau.
Nhưng khi lớn lên hòa nhập với xã hội, những nhiều thói tục ở đời khiến cho tính tình của họ khác đi và thành ra xa nhau.
Nếu như con người ta chẳng được giáo dục dạy rỗ, thì tính tình thuở ban đầu ấy sẽ trở nên thay đổi tùy theo môi trường mà họ tiếp xúc.
Về đường lối giáo dục, dạy rỗ con cái, thì lấy đức chuyên cần làm trọng.
Tích mảnh mẫu, chạch lân xứ, từ bất học, đoạn cơ chữ, đậu yên sơn, hữu nghĩa phương, giáo ngũ tử, danh câu dương.
Nghĩa là mẹ của thầy mạnh tử ba lần rời nhà để lựa chọn hàng xóm hợp với việc học của con.
Ông đậu yên sơn là người có nghĩa lý phép tắc, dạy năm con đều nổi danh.
Đậu yên sơn ở đây tức là ông đậu vũ quân, người thời hậu tấn.
Dưỡng bất giáo, phụ chi quá, giáo bất nghiêm, sư chi đoạn, tử bất học, phi sở nghi, ấu bất học, lão hà vi.
Nghĩa là nuôi con mà chẳng dạy rỗ, ấy là lỗi của người cha.
Dạy học mà chẳng nghiêm, ấy là quấy của ông thầy.
Kẻ làm con mà chẳng học, chẳng phải lẽ nên vậy.
Lúc nhỏ chẳng học, thì lớn lên, rồi tới già sẽ làm gì?
Ngọc bất trác, bất thành khí, nhân bất học, bất trì lý, vì nhân từ phương thiếu thời, thần sự hữu, tập lễ nghi.
Nghĩa là hòn ngọc mà không đéo gọt thì chẳng nên đồ vật, người ta không học thì chẳng biết nghĩa lý.
Cho nên phận làm con, đường lúc còn trẻ, phải thân cận với thầy và bạn để học tập lễ nghi.
Hương cửu linh, năng ôn tịch, hiếu ư thân, sở đường chấp, dùng tứ tuế, năng nhượng lê, để ư trường, nghi tiên tri.
Nghĩa là bé Hương, tức là Hoàng Hương, tự văn cường, người đời Đông Hán, mới 9 tuổi, đã biết ủ ấm chiếu mèn cho cha mẹ.
Ấy là gương hiếu, đối với đứng thân, mà trò cần phải biết. Lại như khổng rung, mới 4 tuổi, mà biết nhường trái lê.
Ấy là gương thảo, đối với huynh trường, mà trò cũng cần phải học trước.
Khổng rung là quan nhà Đông Hán và quân Việt đầu thời Tam Quốc.
Thủ hiếu đẽ, thứ kiến văn, chỉ mỗ số, thức mỗ văn, nhất nhì thập, thập nhì bách, bách nhì thiên, thiên nhì vạn.
Nghĩa là hiếu thuận trước, học kiến thức sau, hiểu con số, biết được con chữ, một tới mười, mười tới trăm, trăm tới ngàn, ngàn tới vạn.
Tam Tài Già Thiên Địa Nhân, Tam Quang Già Nhật Nguyệt Tinh, Tam Cương Già Quân Thần Nghĩa, Phụ Tử Thân, Phu Phụ Thuận.
Nghĩa là ba bậc tài đó là trời, đất và người. Ba vật sáng đó là mặt trời, mặt trăng và các vị sao.
Ba diểng mối đó là vua tôi có nghĩa, cha con thân thích, vợ chồng thuận hòa.
Viết xuân hạ, viết thu đông, thử tứ thời vận bất cùng, viết nam bắc, viết tây đông, thử tứ phương ứng hồ chung.
Nghĩa là rằng xuân hạ thu và đông đó là bốn mùa xoay vần không ngừng, rằng nam bắc đông và tây đó là bốn phương hướng đối ứng vào giữa.
Viết thủy hòa, mọc kim thổ, thử ngũ hành, bổn hồ số, viết nhân nghĩa, lễ trí tín, thử ngũ thường, bất dung vặn.
Nghĩa là rằng thủy hòa, mọc kim và thổ đó là năm hành có gốc ở dịch số, rằng nhân lễ nghĩa trí tín đó là năm đạo lý thường hàng không được để dối loạn.
Đạo lương thục, mạch thử tắc, thử lục cốc, nhân sở thực, mã ngâu dương, kê khuyển thỉ, thử lục xúc, nhân sở tử.
Nghĩa là gạo, kê gai, đậu, lúa mì, kê nếp và hạt kê, đó là sáu giống lúa mà người ta ăn.
Ngựa, bò, dê, gà, chó, heo, đó là sáu vật mà người ta nuôi.
Viết hỉ nộ, viết ai cụ, ái ác dục, thất tình cụ, bào thổ cách, mọc thạch kim, tì giữ chúc, nãy bát âm.
Nghĩa là rằng mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét và ham muốn là bảy loại tình.
Bầu, đất, da, gỗ, đá, kim, tơ và chúc là tám thứ âm.
Cao, tẳng, tổ, phụ, nhi, thân, thần, nhi, tử, tử, nhi, tôn, tự, tử, tôn, trí, nguyên, tặng, nãy, cổ, tộc, nhân, chi, luân.
Nghĩa là ông sơ rồi đến ông cố rồi tới ông nội rồi tới cha rồi tới mình.
Mình tới con, con tới cháu, từ con cháu đến chát, chít là chính đời lập nên thứ bậc của người ta.
Phụ tử ân, phu phụ tùng, huynh tắc hữu, đẻ tắc cung, trường ấu tự, hữu giữ bằng, quần tắc kính, thần tắc chung, thử thập nghĩa, nhân sở đồng.
Nghĩa là cha con có ơn, vợ chồng phải theo nhau, anh thì thuận thảo, em thì cung kính, lớn nhỏ có thứ bậc, bạn bè đồng nhau,
vua thì tôn kính, tôi thì trung thành, đó là 10 nghĩa mà mọi người đều có như nhau.
Phạm huấn mông tu giảng cứu, tường huấn hổ mình cú độc, vi học giả tất hữu sơ, tiểu học chung trí tứ thư.
Nghĩa là dạy trẻ con nên giảng xét kỹ lưỡng, tường tận nghĩa xưa, ngắt câu rõ ràng,
làm người đi học, át phải biết chỗ bắt đầu, học xong tiểu học mới tới tứ thư.
Luận ngữ giả nhị thập thiên, quần đệ tử ký thiện ngôn, mạnh tử giả thất thiên chỉ, giảng đạo đức, thuyết nhân nghĩa.
Nghĩa là sách luận ngữ có 20 thiên do các lớp đệ tử chép lời nói phải của đức khổng tử,
sách mạnh tử chỉ có 7 thiên mà thôi, là sách giảng đạo đức, luận bàn nhân nghĩa.
Tác trung rung tử tư bút, trung bất thiên, rung bất dịch, tác đại học, nãy tăng tử, tự tu tè, trí bình trị.
Nghĩa là sách trung rung thì do ông tử tư, tức là khổng cấp, làm ra, trung nghĩa là không lệch, rung nghĩa là chẳng đổi.
Còn sách đại học là của ông tăng tử soạn, dạy từ đạo tu thân, tè ra, đến đạo trị quốc, bình, thiên hạ.
Hiếu kinh thông, tứ thư thục, như lục kinh, thủy khả độc, thi thư, dịch lễ, xuân thu, hiệu lục kinh, đương giảng cầu.
Nghĩa là thuộc hiếu kinh, thành thuộc tứ thư, như lục kinh mới bắt đầu có thể đọc, thi, thư, dịch, lễ và xuân thu, gọi là sáu kinh nên tìm hiểu.
Hữu liên sơn, hữu quy tàng, hữu chu dịch, tam dịch tường, hữu điển mô, hữu huấn cáo, hữu thề mệnh, thư chi ảo.
Nghĩa là có liên sơn, có quy tàng, có chu dịch nên tường tận ba kinh dịch này trong kinh thư, những thiền, điển, mô, huấn, cáo thề, mệnh, đều hàm nghĩa sâu xa.
Ngã trù công tác tru lễ, trước lục quan, tổn trị thẻ, đại tiểu đái, trú lễ ký, thuật thánh ngôn, lễ nhạc vị.
Nghĩa là ông trù công đán làm kinh tru lễ, đặt ra sáu chức quan để giữ gìn thể thống trị nước.
Hai ông đại đái, tức là đái đức, và tiểu đái, tức là đái thánh, trú giải sách lễ ký, ký thuật lời nói của thánh nhân về lễ nhạc một cách đầy đủ.
Viết quốc phòng, viết nhã tủng, hiệu tứ thi đương phúng vỉnh, thi ký vong, xuân thu tác, ngụ bao biếm, biệt thiện ác.
Nghĩa là rằng quốc, phòng, nhã, tủng gọi là bốn thể thơ trong kinh thi nên ngâm đọc, lược bớt và san định kinh thi xong rồi, đức khổng làm ra kinh xuân thu, ngụ ý khen chê, phân biệt điều lành, việc giữ.
Tàm chuyện giả hữu công dương, hữu tả thị, hữu cốc lương. Kinh ký minh phương đọc tờ, toát kỷ yếu, ký kỷ sự.
Nghĩa là xuân thu có ba chuyện là chuyện của công dương, chuyện của tả thị, và chuyện của cốc lương.
Kinh và chuyện đã rõ mới đọc qua tờ nên rút lấy chỗ cốt yếu, ghi nhớ các sự việc.
Ngũ tờ giả hữu tuân dương, văn trung tờ, cập lão trang. Kinh tờ thông đọc chư sở, khảo thế hệ, trì trung thủy.
Nghĩa là năm tờ gồm có tuân tờ, dương tờ, văn trung tờ, đến lão tờ, trang tờ, thông kinh tờ thì đọc các sách sở, xét qua các thế hệ để biết đầu đuôi.
Tự hy nông, trí hoàng đế, hiệu tam hoàng, cư thượng thế. Đường hữu ngu, hiệu nhị đế, tường ấp tốn, xưng thịnh thế.
Nghĩa là từ phục hy thần nông cho đến hoàng đế, gọi là tam hoàng ở thời thượng cổ. Đường nghiêu, ngu tuân, gọi là nhị đế, nhường ngôi người tài, gọi là thời thịnh thế.
Hạ hữu vũ, thương hữu thang, trù văn vương, xưng tam vương, hạ truyền tử, ra thiên hạ, tứ bách tải, thiên hạ xã, thang phạt hạ, quốc hiệu thương, lục bách tái, trí trụ vong, trù vũ vương, thủy tru trụ, bát bách tái, tối trường cầu.
Nghĩa là vua vũ nhà hạ, vua thang nhà thương, vua văn vương nhà tru, xưng là tam vương, nhà hạ truyền cho con, lấy thiên hạ làm nhà, sau 400 năm nền xã hội nhà hạ mới rời đổi.
Vua thang đánh dẹp nhà hạ, đặt hiệu nước là thương, nhà thương cai trị 600 năm, đến vua trụ thỉ đứt. Vua võ vương nhà tru mới kẻ tội và giết vua trụ, lập ra nhà tru chỉ vì 800 năm là triều đại lâu dài nhất.
Chu triệt đông, vương cương trỉ, xính can qua, thượng du thuyết, thủy xuân thu, trung chiến quốc, ngũ bá cường, thất hùng xuất.
Nghĩa là nhà tru rời đô qua phía đông, nghiệp vương trở nên bẹ giạc, giặc giã bắt đầu nổi dậy, thuật du thuyết được các vua chư hầu ưa chuộng.
Trước xuân thu sau chiến quốc, trước năm nước cường thịnh xưng bá, tức là xuân thu ngũ bá, sau thì bảy nước hùng mạnh xuất hiện, tức là chiến quốc thất hùng.
Doanh tần thị thủy kiêm tỉnh, truyền nhị thế sở hán tranh, cao tổ hưng hán nghiệp kiến, trí hiếu bình, vương mãng soán, quang vũ hưng vì đồng hán, tứ bách niên, trung ư hiến.
Nghĩa là họ doanh nhà tần thâu tóm thiên hạ, truyền hai đời rồi tới chiến tranh hán sở.
Vua cao tổ lưu bang khởi lên dựng nghiệp nhà hán, đến vua hiếu bình thì bị vương mãng cướp ngôi.
Vua quang vũ khởi lên diệt vương mãng, lập nhà đông hán, truyền được 400 năm cho tới vua hiến thì hết.
Ngụy thục ngô tranh hán đỉnh, hiệu tam quốc, hất lưỡng tấn, tống tẻ kế, lương trần thừa, vì nam triều, đô kim lăng, bắc nguyên ngụy, phần đồng tây, vũ văn chu, giữ cao tẻ.
Nghĩa là ngụy thục và ngô tranh ngôi nhà hán gọi là thời tam quốc, sau đến thời lưỡng tấn, tức là tây tấn và đông tấn, nhà tống tẻ kế tiếp,
nhà lương trần nối theo đó là nam triều, kinh đô kim lăng, ở bắc triều là nhà nguyên ngụy, chia đông tây, còn có vũ văn chu và cao tẻ.
Đãi trí tùy, nhất thổ vũ, bất tái truyền, thất thống tử, đường cao tổ khởi nghĩa sư, trừ tùy loạn sáng quốc cơ,
nhị thập truyền tam bách tải, lương diệt chi, quốc nãi cải, lương đường tấn, cập hán chu, sừng ngũ đại, dài hữu do.
Nghĩa là kịp đến nhà tùy, cõi đất thâu về một mối, văn đế truyền chẳng được hai đời thì đã mất diển mối.
Đường cao tổ đứng lên khởi nghĩa, trừ loạn nhà tùy, sáng lập cơ nghiệp đất nước, truyền hai mươi đời, trải qua ba trăm năm.
Nhà lương diệt nhà đường, hiệu nước bèn đổi, nhà hậu lương, nhà hậu đường, nhà hậu tấn, tới nhà hậu hán và nhà hậu chu, kêu là thời ngũ đại, đều có duyên cớ.
Viêm tống hưng, thụ chu thiện, thập bát truyền, nam bác hỗn, liều giữ kim, dai sưng đế, nguyền diệt kim, tuyệt tống thế, lị Trung Quốc, kiêm nhung địch, cửu thập niên, quốc tộ phế.
Nghĩa là, nhà tống khởi lên, nhà chu chịu nhường ngôi, truyền mười tám đời, nam bác hỗn loạn, nước liều và kim đều sưng đế, nhà nguyên diệt nhà kim, rất nhà tống, trị Trung Quốc gồm cả giặc nhung, được chín mươi năm, ngồi nước bị bò.
Thái tổ hưng, quốc đại minh, hiệu hồng vũ, đồ kim lăng, đãi thành tổ, thiên yên kinh, thập thất thế, trí sùng trinh, quyền yêm tứ, khấu như lâm, trí lý sống, thần khí phần, thành thái tổ, ưng cảnh mệnh, tĩnh tứ phương, khắc đại định.
Thập thất sở, toàn tại tư, tải trị loạn, chi hưng suy, đọc sử thư, khảo thực lục, thông cổ kim, nhược thân mục, khấu như tủng, tâm như duy, triều ư tư, tịch ư tư.
Nghĩa là mười bảy giai đoạn lịch sử, tất cả đều ở đó, ghi việc trị loạn, biết được thịnh suy, kẻ đọc lịch sử, xét các sách thực lục, thông xưa nay như thấy tận mắt, miệng thì đọc, lòng phải suy nghĩ, sáng nghĩ đến, chiều cũng nghĩ đến.
Tích trọng ni, sư hạng thác, cổ thánh hiền, thượng cần học, triệu trung lệnh, đọc lỗ luận, bỉ ký sĩ, học thả cần.
Nghĩa là thuở xưa Đức Trọng Ni, tức là Đức Khổng Tử, theo học thầy hạng thác, ngài là đấng thánh hiền đời xưa mà còn siêng học, quan trung lệnh họ triệu đọc sách lỗ luận, ông ấy đã làm quan mà còn siêng học.
Phi bổ biên tước trúc giàn, bị vô thư thả chi miễn, đầu huyền lương trùy thích cổ, bị bất giáo tự cần khổ.
Nghĩa là kẻ thì mở lá bồ làm vợ, người thì trẻ tre làm thẻ viết sách học, họ không có sách còn viết gắn công, lại có kẻ thì treo đầu lên giường nhà, người thì đâm đùi vô vế, họ chẳng có thầy dạy mà tự mình siêng năng chịu khó học.
Như năng huỳnh, như ánh tuyết, già tuy bẩn, học bất chuế, như phụ tân, như quải rác, thần tuy lao, do khổ trác.
Nghĩa là kẻ để đôm đóm trong túi, dùng ánh sáng tuyết đọc sách, nhà tuy nghèo mà học không ngừng nghỉ, người gánh củi trên vai, treo sách bên sừng, thần tuy khổ nhọc mà còn chịu khó học.
Tô lão tuyền, nhị thập thất, thủy phát phẫn, đọc thư tịch, bị ký láo, do hối trì, nhĩ tiểu sinh, nghi tảo tư.
Nghĩa là Tô lão tuyền, tức là ông Tô Tuân Đời Tống, 27 tuổi, mới nổi dần bèn đọc sách vở, ông ấy già mà còn hối hận muộn, này cho nhỏ, hãy sớm nghĩ suy.
Nhược Lương Hảo bát thập nhị, đối đại đình, khôi đãi sĩ, bị ký thành, trúng xưng dị, nhĩ tiểu sinh, nghi lập trí.
Nghĩa là còn như ông Lương Hảo Đời Ngũ Đại, 82 tuổi, đối đáp chốn triều đình, đậu đầu trong đám học trò, người ấy thành tựu rồi, dân chúng khen là lạ, này cho nhỏ, nên lập trí.
Oánh bát tuế, năng vịnh thi, bí thất tuế, năng phú kỳ, bỉ định ngộ, nhân xưng kỳ, nhĩ ấu học, đương hiệu chi.
Nghĩa là Tổ Oánh Đời Bắc Tề, 8 tuổi, có thể ngâm vịnh bài thơ, Lý Bí Đời Đường, 7 tuổi, có thể làm bài phú về cuộc cờ, hai người ấy thông hiểu sớm, mọi người khen là thần kỳ, người là học trò nhỏ, nên bắt trước họ.
Thái văn cơ, năng biện cầm, tạ đạo quần, năng vịnh ngâm, bỉ nữ tử, thả thông mẫn, nhĩ nàm tử, đương tự cảnh.
Nghĩa là nàng thái văn cơ có thể hiểu được tiếng đàn, nàng tạ đạo quần có thể ngâm khúc, hai người con gái ấy thật thông minh sáng suốt, trò là con trai nên tự biết cảnh tình bản thân mình.
Đường lưu án phương thất tuế, cử thần đồng tác chính tử, bị tuy ấu thân kỷ sĩ, nhị ấu học, miễn nhì trí, hữu vi già, diệt nhược thị.
Nghĩa là lưu án đời đường đang lúc 7 tuổi, thì đỗ được khen là thần đồng, làm chức chính tử, tuy con nhỏ đã làm quan, cho con nhỏ đi học, hãy gắn sức đến nơi, ai có cố gắng cũng đều được như vậy.
Khuền thủ dạ kê ti thần, cậu bất học hạt vi nhân, tàm thổ ti phong nhưỡng mật, nhân bất học, bất như vật.
Nghĩa là chó giữ nhà ban đêm, gà coi gái buổi sáng, nếu không học sao đáng làm người, con tầm nhà tơ, con ông làm mật, người mà không học chẳng bằng con vật.
Ấu nhi học, tráng nhi hành, thượng trí quân, hạ trạch dân, dường danh thanh, hiển phụ mẫu, quang ư tiền, rụ ư hậu.
Nghĩa là nhỏ thì học, lớn lên thì làm, trên rút vua, dưới làm ít cho dân, tiếng tăm vang rồi, cha mẹ vẻ vang, dạng người về đời trước, chuyển lại tới đời sau.
Nhân dì tử, kim mãn doanh, ngã giáo tử, duy nhất kinh, cần hữu công, hí vô ích, giới chi tai, nghi miễn lực.
Nghĩa là người ta để lại cho con đầy dương vàng, ta dạy con chỉ có một bộ sách, xiêng thì có công, ham chơi thì vô ích, khuyên dăn trò, gắng sức học.
