20 Bí Ẩn Khảo Cổ Thách Thức Lịch Sử – Những Nơi Khoa Học Vẫn Chưa Dám Chạm Tới _ Thiên Hà TV.mp4

Thành Phạm
511 người theo dõi
Comments are disabled for this video.
Có những cánh cửa trong lịch sử đã được tìm thấy nhưng không ai dám mở.
Chúng đứng đó, chơ gan cùng mưa nắng, che giấu những bí mật có thể làm lung lay cả nền tảng hiệu biết của nhân loại.
Giữa lớp đất lạnh lẽo, trong lòng đá sám câm nặng là những kho báu không phải vàng bạc mà là chi thức, là những mảnh ghép thất lạc của câu chuyện loài người.
Khoa học đã đến gần, đã chạm tay vào mét màn tre nhưng vẫn do dự.
Có bí mật bị trôn vùi vì sợ phá hủy nó.
Có bí mật bị phong tỏa bởi luật đệ tín ngưỡng hay nỗi sợ hãi mơ hồ.
Càng im lặng, chúng càng khiến thế giới sôi sụp tò mò.
Và hôm nay, chúng ta sẽ đi qua những nơi mà thế giới, quyền lực và cả sự e rẻ của các người đã cùng nhau giữ kín.
Lăng mộ mất tích của thành Cát Tư Hãng, ngôi mộ không ai tìm thấy.
Trên thảo nguyên Mông Cổ Bạt Ngàn, nơi mây chạm núi và gió hát suốt ngày đêm, tồn tại một bí ẩn lớn chưa từng được giải đáp.
Nơi yên nghỉ của thành Cát Tư Hãng, vị Đại Hãng đã để lại dấu ấn trên gần nửa bản đồ thế giới.
Nhưng khi hành trình của ông khép lại, dấu vết về nơi an táng lại tan tiến vào không san bao lạ.
Những câu chuyện truyền lại kể rằng đoàn hộ tống đã chọn con đường tuyệt đối kín đáo.
Mọi dấu hiệu trên mặt đất bị xóa sạch, đàn ngựa được lùa đi qua để làm phẳng địa hình,
và một số dòng sông thậm chí được đổi hướng để che phủ lối đi.
Không có bia mộ, không có ký hiệu, chỉ còn thiên nhiên nguyên sơ bảo vệ.
Qua nhiều thế kỷ, biết bao đoàn thám hiểm đã tìm kiếm, máy bay không người lái, ảnh vệ tinh, bản đồ cổ,
tất cả đều được khuy động, nhưng kết quả chỉ là những giả thiết mờ ảo.
Người Mông Cổ coi vùng đất ấy là linh thiêng, giữ nguyên trạng như một cách thể hiện sự tôn kính tối cao.
Ngày nay, ngôi mộ của thành các tư hãng vẫn là khoảng trống trong lịch sử, không ai cần bị đục vị trí thực sự.
Có lẽ chính sự im lặng ấy mới là lớp bảo vệ bền vững nhất,
khiến bí mật về ông tiếp tục sống cùng tiếng võ ngựa và những cơn gió bất tận của Thảo Nguyệt.
Lăng mộ Tần Thủy Hoàng, thành phố ngầm dưới lòng đất.
Bên dưới những mọi đồi xanh ở tỉnh thiền Tây Trung Quốc là một thế giới mà suốt hơn 2.000 năm nay không ai được phép bước vào.
Đó là lăng mộ Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Hoa,
và cũng là kẻ đã dựng lên một thành phố ngầm khổng lồ để cùng mình đi vào vững hẳn.
Hơn 700.000 thợ đã lao động suốt hàng thập kỷ để cắt nên công viện Tường Thành,
sông Hồ và những dòng thủy ngân tượng trưng cho trường sang Hoàng Hà.
Xung quanh ông, đội quân đất nông, hàng nghìn tượng binh sĩ và chiến mã vẫn đứng gác,
mỗi khuôn mặt đều khác biệt như thế từng người từng sống ngoài đời thực.
Các nhà khảo cổ cho biết rằng bên trong còn nhiều bí mật nhưng họ dùng lại,
không phải vì thiếu can đảm mà vì chỉ một động tác sai cũng có thể phá hủy mọi thứ mãi mãi.
Làng bộ ấy vẫn đóng kín, im lặng như chờ đợi thời khắc thế giới đủ sẵn sàng để nhìn vào bên trong.
Xương người khổng lồ Caténau
Khi khảo cổ học chạm vào truyền thuyết,
năm 1890 tại làng Caténau, Lê Lê, ở miền Nam nước Pháp,
nhà nhân trùng học, gheo cơ Pháp Chè, Đi Lắp Hầu đã khai quật ba mảnh xương kỳ lạ
từ một gò trôn cất thời tại Đồ Đồng.
Khi đạo đạc, ông nhận ra kích thước của chúng quật xa mọi tiêu chuẩn của cơ thể người bình thường.
Phần xương đùi dày và to gấp đôi, xương cẳng chân và cánh tay cũng có tỷ lệ tương tự.
Theo ước tính, chủ nhân của chúng có thể cao hơn 3,5 mét và nặng hàng trăm kg.
Các mẫu xương được gửi đến Đại học Montependia đã phân tích
và nhiều chuyên gia từ đó xác nhận đây là xương người dù kích thước khác thường
nhưng kỳ lạ thay sau đó chúng biến mất khỏi mọi kho lưu trữ không ai biết tương tích.
Không có cơ hội kiểm chứng bằng công nghệ hiện đại,
câu chuyện về người khổng lồ gắt theo nào trở thành vùng giao thoa giữa khảo cổ và truyền thuyết.
Nhiều giả thuyết được đưa ra, bệnh lý hiếm gặp,
chúng người đã tuyệt chủng hoặc tàn tích của một nền văn minh lạ.
Hơn một thế kỷ trôi qua, bí ẩn vẫn nguyên vẹn.
Những mảnh xương ấy nếu còn có thể là chìa khóa mở ra,
trường hoàn toàn mới trong lịch sử tiến hóa của loài người.
Các khối đá khổng lồ Barnabas, nền móng thách thức thời gian.
Giữa thung lũng Pekka, màu mỡ của Libang, thị trấn cổ Barnabas,
lưu giữ một trong những bí ẩn kiến trúc lớn nhất thế giới.
Những khối đá khổng lồ của nền móng đền thờ Jupiter,
ba khối nổi tiếng nhất gọi là Chillington.
Mỗi khối dài gần 20 mét, cao hơn 4 mét và nặng tới 800 tấn.
Ngay cả những cần cầu hiện đại cũng gặp khó khăn khi di chuyển khối lượng này.
Vậy mà chúng đã được xếp trồng với độ chính xác gần như tuyệt đối cách đây hàng nghìn năm.
Không xa đó, tại mò đá khổ, người ta còn tìm thấy những khối đá lớn hơn nữa.
Hòn đá của người phụ nữ mang thay khoảng 1.000 tấn,
một khối khác 1.242 tấn và đặc biệt là phát hiện năm 2014,
khối đá 1.650 tấn lớn nhất từng được các người biết đến.
Kỳ lạ thay, chúng vẫn nằm nguyên tại mò, dường như bị bảo giờ
hoặc chờ đợi một mục đích chưa bao giờ được hoàn thành.
Nhiều giả thuyết xoay quanh việc ai đã tạo ra và di chuyển những khối đá này.
Có người tin đó là công trình của Làm Mã cổ đại.
Có người cho rằng nền móng này còn cổ xưa hơn,
thuộc về một nền phát minh mất tích với kỹ thuật vượt xa hiểu biết hiện nay.
Bàn bét không chỉ là dấu hỏi về kỹ thuật xây dựng,
mà còn là minh chứng rằng quá khứ có thể nắm giữ những bí mật vượt ngoài trí tưởng tượng.
Những bí mật vẫn đứng vững cùng thời gian thách thức mọi lời giải.
Trong kho đưu chữ của Thư viện quốc gia Thụy Điển,
có một cuốn sách khổng lồ nặng gần 75 kg,
cao gần 1 mét, dày hơn 20 cm.
Đó là Corek Gigas, hay còn được gọi với cách tên rùng rợn, Kinh Thánh của Quỷ.
Hoàn thành vào đầu thế kỷ thứ 13,
tại một tu viện ở Bohemia là Cộng Hòa Xét ngày nay.
Bản đồ này chứa toàn bộ Kinh Thánh tiếng Latin
cùng hàng loạt văn bản về lịch sử, y khoa, chiêm tin và pháp thuật.
Điểm khiến nó nổi tiếng khắp thế giới là truyền thuyết bao quanh.
Câu chuyện kể về một tu sĩ phạm tội nặng.
Để thoát hình phạm, ông hứa sẽ viết một cuốn sách chứa mọi tri thức nhân loại chỉ trong một đêm.
Khi nhận ra điều đó bất khả thi, ông đã cầu cứu một thế lực bóng tối.
Đổi lại, ông ký một giáo ước.
Ở giữa cuốn sách, bức minh họa toàn trang về quỷ Satan vẫn còn huyên
với ánh mắt trừng trừng và móng vuốt sắc nhọn.
Thực tế, các nhà nghiên cứu nhận thấy toàn bộ chữ viết và hình vẽ đều đồng nhất,
như thế chỉ do một người tạo ra.
Điều này gợi ra hàng loạt câu hỏi, mất bao lâu để hoàn thành
và vì sao hình ảnh quỷ giữ lại xuất hiện giữa những trang Kinh Thánh.
Dù là sản phẩm của bàn tay con người hay một câu chuyện được theo dễ,
Kodak Gigas vẫn mang sức hút kỳ lạ như một cánh cửa hé mở giữa trí thước và bóng tối
thách thức bất cứ ai dám lật từng trang của nó.
Gobekli Tepe, ngôi đền cổ nhất thế giới.
Trên cao nguyên khô cảnh của Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ,
Gobekli Tepe hiện lên như một cánh cổng mở vào thời tiền sự.
Được phát hiện vào năm 1994, công trình này có lên đại hơn 11.000 năm,
cổ hơn cả Kim tự tháp Ai Cập và Sao Hai Khi hàng nghìn năm.
Tại đây, những cột đá vôi hình chữ T cao tới 6 mét, nặng hàng chục tấn,
được xấp xếp thành phòng tròn, bề mặt trạm khắc tinh xảo hình sư tử,
rắn cáo và vô số ký hiệu trường tượng.
Điều khó tin là Gobekli Tepe được xây dựng khi con người vẫn sống theo đối săn bát thái lượng,
chưa biết đến nông nghiệp hay luyện kim.
Làm sao một cộng đồng chưa có đô thị, chưa có bánh xe,
lại huy trọng được nhân lực và kỹ thuật để tạo nên kỳ quan như vậy?
Kỳ lạ hơn, khoảng 8.000 năm trước, những người tạo dựng đã cố ý trôn vùi toàn bộ công trình.
Hành động này vô tình bảo vệ nó cần đi nguyên viện qua hàng thiên nhiên kỳ.
Gobekli Tepe đã áp buộc các nhà khảo cổ phải xem xét lại mối quan hệ giữa tín mưỡng
và sự hình thành xã hội loài người.
Có thể tôn giáo và ghi lễ đã xuất hiện trước rồi mới dẫn tới nông nghiệp và định cư.
Bí ẩn này vẫn đang mở và mỗi phiến đá ở Gobekli Tepe
dường như vẫn thầm kể về câu chuyện, về một nền văn minh mà chúng ta chưa từng biết đến.
Kim tự tháp trắng, bí ẩn bị phong tỏa
Giữa những dãy núi mờ sương ở tỉnh Thiển Tây Trung Quốc,
truyền thuyết kể về một kim tự tháp khổng lồ
với bề mặt trắng sẵn cao hơn 300 mét vượt xa cả đại kim tự tháp ghi ra.
Năm 1945, phi công Mỹ James Goldsman báo cáo đã nhìn thấy công trình này khi bay qua
và hai năm sau một phi công khác còn chụp được ảnh đen trắng mờ ảo.
Nhưng sau đó khu vực này nhanh chóng bị phong tỏa.
Các báo cáo chính thức nói rằng
đây chỉ là những kho trôn cách hoàng gia từ thời nhà Trần đến nhà Tường.
Tuy nhiên hình ảnh vệ tinh và các chuyến khảo sát bí mật cho thấy
sự tồn tại của nhiều cấu trúc hình kim tự tháp
một số lớn hơn bất kỳ kim tự tháp Ai Cập nào.
Có giả thiết cho rằng kim tự tháp trắng
từng được bao phủ bằng đá vôi hoặc đất xét trắng,
phản chiếu ánh mặt trời rực rỡ trên nền núi tối.
Mục đích của nó vẫn là câu hỏi chưa lời đáp.
Lâng bộ khoảng kế, bài quan sát thiên phân hay tàn tích
của một nền phân minh còn cổ xưa hơn thực sự ghi nhận.
Ngày nay không ai ngoài giới khảo cổ Trung Quốc
được tiếp cận toàn diện để nghiên cứu.
Sự im lặng này làm tăng sức hút của kim tự tháp trắng
một bí ẩn sương sững dưới lòng đất nước
như thách thức bất cứ ai muốn chặn vào quá khứ thật sự của nó.
Quan tài đen Alexandria, bí ẩn dưới lòng thành phố cổ
Mùa hè năm 2018, trong lúc đào móng
trong một công trình ở Alexandria, Ai Cập,
các công nhân đã phát hiện một khối đá granite đen khổng lồ
nằm sâu gần 5m dưới đất.
Chiếc quất này dài 2,7m, rộng 1,5m,
cao gần 1,8m và nặng tới 30 tấn,
lớn hơn hầu hết mọi quan tài từng tìm thấy trong khu vực.
Bên cạnh nó là một bức tượng bản thân bị mài mòn,
không đủ chi tiết để nhận dạng chủ nhân.
Điều gây tò mò nhất là khác với thông đệ trôn cất hoàng gia,
chiếc quất hoàn toàn không có chữ khác hay hoa văn.
Sự im lặng này lập tức thổi bùng xả thuyết
để có thể là nơi an tăng bí mật của một nhân vật tầm cỡ
thậm chí là Alexander Đại Đế.
Khi mở nắp, các chuyên gia không tìm thấy cao báo,
cũng không thấy sát ướt nguyên vẹn,
mà chỉ là 3 bộ 2 cốt ngâm trong chất lòng màu nâu đỏ
do nước thấm vào qua hàng nghìn năm.
Sanh tính của họ vẫn chưa được xác định,
nhưng điền đại khảo sát cho thấy
họ sống vào khoảng thế kỷ thứ 4 trước cầu Nguyệt.
Tại sao một quan tài đồ sổ như vậy
lại được dùng cho 3 cá nhân bình thường?
Câu hồi này vẫn treo lơ lửng,
biến trước quách đen thành một trong những phát hiện
gây tranh luận nhất của khảo cổ Ai Cập hiện đại.
Bản đồ Piri Re, tấm bản đồ vượt thời gian
Năm 1513, Đô Đốc, Ottoman Piri Re
đã vẽ một bản đồ thế giới trên Sa Linh Dương
ghi lại bờ biển Tây Phi, Nam Mỹ
và đáng kinh ngạc nhất, một phần Nam Cực chưa bị băng bao phủ.
Điều khó tin là Nam Cực
chỉ được chính thức khám phá hơn 300 năm sau đó.
Piri Re ghi chú rằng
ông đã sửa vào hơn 20 bản đồ cổ
bao gồm cả những tấm từ thời Hy Lạp, La Mã
và có thể cả của Christopher Columbus.
Nhưng ngay cả như vậy,
độ chính xác của đường bờ và chi tiết địa lý
vẫn mượt xa khả năng đo đạt của thế kỷ thứ 16.
Phân bí ẩn nhất là hình ảnh Nam Cực không băng xá
gợi ý rằng tác giả Nguồn đã nhìn thấy nó
từ thời tiền xử trước khi bị bao phủ hoàn toàn.
Điều này dẫn tới nhiều giả thuyết,
một nền phát minh cổ xưa có kỹ thuật hàng thái tiên tiến,
kiến thức được chuyên qua nhiều thế hệ
hoặc đơn giản là sự trùng hợp hiếm có.
Ngày nay, chỉ còn lại khoảng 1 phần 3 bản gốc
của tấm bản đồ được lưu lại
tại Bảo tàng Topkapi ở Istanbul.
Dù đã hơn 500 năm trôi qua,
nó vẫn là minh chứng cho câu hỏi lớn
liệu lịch sử hàng thái của nhất loại
có sâu hơn nhiều so với những gì chúng ta biết.
Người Glovis, nền văn hóa biến mất
Khoảng 13.000 năm trước,
trên vùng đất ngay thuộc Bắc Mỹ
tồn tại một cộng đồng thợ săn
chế tác công cụ bậc thầy
mà các nhà khảo cổ gọi là Glovis Country.
Họ nổi tiếng với những mũi ráo đá dài
sắc bén và tinh xào đến mức
ngay cả công nghệ hiện đại cũng khó tái tạo hoàn hảo.
Những công cụ này được tìm thấy
từ Canada đến Mexico
cho thấy phạm vi sinh sống rộng lớn.
Người Glovis, săn vào ma mút,
lạc đà Bắc Mỹ
và nhiều loài thú lớn khác.
Họ thích nghi với môi trường khắc nghiệp
cuối kỷ băng Hà
bằng kỹ năng chế tác và săn bắt vượt trội.
Rồi đột ngột số vết của họ
biến mất khỏi hồ sơ khảo cổ
chỉ trong vài trăm năm.
Nguyên nhân vẫn là một câu hỏi bào ngọ
một số giả thuyết cho rằng
khí hậu ấm lên nhanh chóng đã làm biến đổi khôi trường
xóa sổ huồn thức ăn chính.
Số khác tin rằng họ rời vào lục địa
hoặc bị cuốn bằng những biến động
chưa từng ghi nhận.
Dù nguyên nhân là gì, khoảng trống Glovis
vẫn là lời nhắc rằng
ngay cả những cộng đồng thịnh vượng nhất
cũng có thể biến mất.
Để lại phía sau chỉ là những mũi giáo
im điểm dưới lớp đất như lời thì thầm
về một chương sửu đã khép lại từ sắt đầu.
Những năm 1930
gần thị trấn Glovis
thuộc bang New Mexico nước Mỹ
các nhà khảo cổ phát hiện
những mũi giáo bằng đá tiên xảo
với kỹ thuật chế tác vượt xa thời đại.
Niên đại xác định khoảng
13.000 năm trước, đây được coi là
dấu tích của nền văn hóa Glovis
một trong những cộng đồng săn bắt sớm nhất
và tiên tiến nhất ở Bắc Mỹ.
Người Glovis nổi tiếng
với kỹ thuật chế tác mũi giáo rãnh
đặc trưng cho phép vũ khí
sắc bén và bền hơn
giúp họ săn những loài thú khổng lồ như
Họ di chuyển theo đàn thú
sống nhờ săn bắt hái lượm
và để lại dấu ấn văn hóa trài dài khắp lục địa.
Thế nhưng, chỉ trong vài trăm năm
dấu vết của họ biến mất
khỏi hồ sơ khảo cổ.
Người giáo thuyết được đưa ra
khí hậu ấm đen nhanh chóng
khiến môi trường thay đổi, nguồn thức ăn cạn kiệt
một sự kiện thiết thạch cây trái rừng trên rợi rộng
hoặc họ hòa nhập
vào các cộng đồng khác
và mất đi bản sắc riêng.
Dù nguyên nhân là gì,
sự biến mất của người Clovis
là lời nhắc rằng
ngay cả những nền văn hóa thịnh vượng nhất
cũng có thể tan biến trước sức mạnh thiên nhiên
và biến động thời gian.
Rohongkodek
Bản thảo không ai giải mã
Tại một thư viện nhỏ ở Hungary
lưu giữ một cuốn sách bí ẩn
được biết đến với tên
Rohongkodek
Được phát hiện vào đầu thế kỷ thứ 19
Bản thảo này gồm hơn 400 trang
chứa hàng nghìn ký tự lạ
không giống bất kỳ một hệ thống
chữ viết nào từng biết đến.
Bên trong, ngoài văn bản
là hơn 80 hình minh họa
mô tả cảnh sinh hoạt như lễ tôn giáo
và chiến trận.
Đặc biệt, nhiều hình ảnh kết hợp biểu tượng
của ghi tôn giáo, hồi giáo
và cả tiếng ngữ ngoại giáo
khiến nguồn gốc càng thêm khó đoán.
Hàng trăm nhà nghiên cứu
từ ngôn ngữ học đến mật mã học
đã thử giải mã nhưng thất bại.
Một số cho rằng
đây là sách cầu nguyện
của một giáo phái bí mật.
Số khác nghi ngờ nó chỉ là trò đánh đối
tinh phi từ thế kỷ thứ 19.
Dù thật hay giả,
Rohongkodek
vẫn từ chối tiết lộ ý nghĩa của mình.
Nó trở thành một biểu tượng
của những bí ẩn vượt ngoài tầm phới
của chi thức hiện tại.
Một lời nhắc rằng, không phải cuốn sách nào
cũng được viết để các người thời nay có thể đọc.
Quả cầu đá
Kotarica, những khối hoàn hảo
giữa rừng nhiệt đới.
Giữa những khu rừng xanh thẳm
và đồng bằng phía nam Kotarica,
hàng trăm quả cầu đá
bí ẩn nằm dài rác
như những dấu chấm câu khổng lồ
của lịch sử.
Chúng có kích thước từ vài chục cm
đến hơn 2m đường kính, nặng tới 16 tấn,
được chạm khắp từ đá
granodiorite,
một loại đá cực kỳ cứng.
Những quả cầu này được phát hiện
vào thập niên 1930
khi công nhân khai khoang cất
trồng chuối cho
United Fruit Company.
Không có văn bản cổ
hay truyền thuyết địa phương nào
ghi chép về chúng, khiến nguồn gốc
ở mục đích hoàn toàn là ẩn số.
Một số giả thuyết cho rằng
chúng tượng trưng cho các hành tinh
được sắp xếp như một bản đồ
sao cổ tại.
Số khác tin rằng đây là biểu tượng quyền lực
đặt trước nhà các thủ lĩnh
hoặc dùng trong nghi lễ tâm linh.
Các nghiên cứu khảo cổ xác định
niên đại từ khoảng năm 600
đến thế kỷ 16 thuộc về
nền văn hóa Dickies
đã biến mất trước khi người Tây Ban Nha tới.
Ngày nay,
nhiều quả cầu đã bị di chuyển,
hư hại hoặc mất tích.
Tuy vậy, những khối đáo hoàn hảo còn sót lại
vẫn nằm im giữa thiên nhiên,
thách thức các nhà nghiên cứu tìm đời dài.
Chúng không chỉ là tác phẩm nghệ thuật
mà còn là lời nhắn
từ một nền văn minh đã chìm vào quá khứ.
Doggerland,
lục địa biến mất dưới biển Tắc.
Hàng ngàn năm trước,
vùng biển Tắc ngày nay
không hề ngập nước.
Thay vào đó, nơi đây là một vùng đất rộng lớn
nối liền nước Anh
với lục địa châu Âu.
Các nhà khảo cổ gọi nó là Doggerland,
một thiên trường
thời tiền sự với đồng cỏ sông ngòi rùng rậm
và vùng đất ngập nước chủ phú.
Doggerland
từng là nơi sinh sống
của những tội đồng săn bắt hái lượm.
Họ săn qua ma mút, toàn lộc hưu đỏ
và đánh cá ở các hồ nước ngọt.
Nhưng khoảng 8.200 năm trước,
băng tan sau kỳ Bắc Hà
và một trận sóng thần khổng lồ
từ vùng biển Na Uy
đã nhấn chim phân đớn vùng đất này.
Đến khoảng 5.500 trước công nguyên,
toàn bộ Doggerland
biến mất dưới mặt biển.
Những bằng chứng về sự tồn tại của nó
được tìm thấy tình cờ.
Ngà vai ma mút, công cụ bằng đá lửa
thậm chí dấu chân khóa thạch
được kéo lên từ đáy biển
bởi các tàu đánh cá
hoặc trong quá trình khảo sát dầu khí.
Ngày nay, Doggerland
không chỉ là một bí ẩn khảo cổ
mà còn là lời cảnh báo
về sức mạnh của thiên nhiên
và biến đổi khí hậu.
Dưới là nước lạnh xa kia,
có lẽ vẫn còn những ngôi nàng, công cụ
và câu chuyện của con người cổ đại
chờ đợi được tìm thấy
để nối lại một chương bị mất
của lịch sử châu Âu.
