"Trong dòng chảy nghìn năm lịch sử dân tộc Việt, có những triều đại như vì sao rực sáng giữa bầu trời, để lại dấu ấn bất diệt trong tâm khảm người đời. Triều Trần chính là một trong những thời kỳ như thế – một triều đại không chỉ nổi danh với ba lần đánh tan vó ngựa Mông Cổ hung hãn, mà còn để lại cho hậu thế những bậc hiền tài, những người thầy vĩ đại. ----------------- Kênh Ngẫm Radio được lập ra với mong muốn chia sẻ với quý khán giả những kiến thức mới mẻ từ nhiều góc độ về những chủ đề như: dự ngôn, bí ẩn, lịch sử, tâm linh huyền bí cùng những câu chuyện nhân sinh cảm ngộ, khám phá thế giới. Hy vọng sẽ mang đến cho quý vị những phút giây thư giãn đầy ý nghĩa, đồng thời được truyền cảm hứng để luôn sống tích cực và thiện lương.
Hoan nghênh quý vị chia sẻ ý kiến, trải nghiệm và những khám phá của mình ở phần bình luận bên dưới để giúp chúng tôi cùng xây dựng cộng đồng yêu thích khám phá và chia sẻ kiến thức!
Để không bỏ lỡ những nội dung thú vị khác, hãy kết nối với chúng tôi qua: ✿ YouTube: www.youtube.com/c/NgẫmRadio ✿ Liên hệ và góp ý qua hòm thư: [email protected]
Chân thành cảm ơn quý vị và các bạn đã luôn đồng hành và yêu mến Ngẫm Radio! Chúc mọi điều bình an và tốt lành đến với mọi người! #NgamRadio#bian#tientri"
Chiều Trần và những bậc thầy dạng danh sự Việt từ chiến tướng đến sư phó mình quân.
Trong dòng chảy nghìn năm lịch sử dân tộc Việt có những chiều đại như vì sao rực sáng giữa bầu trời,
để lại dấu ấn bất diệt trong thâm khảm người đời.
Chiều Trần chính là một trong những thời kỳ như thế.
Một chiều đại không chỉ đổi danh với ba lần đánh tan vó ngựa mông cổ hùng hãn
mà còn được lại cho hậu thế, những bậc hiền tài, những người thầy vĩ đại.
Họ là những ngôi sao lặng lẽ xoay sáng, âm thầm hôn đúc lên tâm hồn, trí tuệ và bản lĩnh của các bậc mình quân.
Mỗi câu chuyện về họ không chỉ là bài học sự học mà còn phàng phất màu sắc huyền bí.
Như thế có một sợi trì vô hình nối lên quá khứ và hiện tại.
Hãy cùng ngẫm ngược dòng thời gian để tìm lại hơi thở thương liềng của một thời đại quỳ hoàng.
Lê Phụ Trần Từ Dũng Tướng Đến Thầy Dạy Mình Quân
Lê Phụ Trần, tên thật là Lê Tần, người Ái Châu, Thanh Hóa, thuộc dòng dõi Lê Đại Hành.
Ông sinh năm nào không rõ, đã từng phụng sự hai đời hoàng đế là Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông.
Năm 1258, giặc Mông Nguyên xâm lược Đại Việt.
Hoàng đế Trần Thái Tông đích thần cầm quân chặn giặc tại Bình Lệ Nguyên, Vĩnh Phúc ngày nay.
Thế giặc quá mạnh, quân Trần sắp không được nổi.
Trần Thái Tông nhìn quanh chỉ thấy Lê Tần vẫn đang cưỡi ngựa một mình ra vào trận giặc sắc mặt như thường.
Đại Việt sự ký toàn thư chép lại rằng có người khuyên Thái Tông nên ở lại đánh trận.
Riêng Lê Tần một mực khuyên can hoàng đế mau lùi binh để chờ cơ hội phản công.
Khi Trần Thái Tông quyết định lùi quân, Lê Tần chỉ huy quân sĩ chặn hậu.
Quân giặc đuổi theo bắn tên như bưa.
Lê Tần phải lấy ván thuyền làm khiên che trở cho hoàng đế.
Sau trận này, ông được Thái Tông cho theo bên cạnh, được giữ bàn nhiều việc cơ mật.
Một thời gian sau, quân Trần tổng phản công, đánh bật quân Bông Nguyên ra khỏi nước ta, đất nước trở lại thanh bình.
Ngày mùng một tiết nguyên đá năm ấy, hoàng đế Trần Thái Tông tổ chức lễ mừng công, bán thường cho các tướng sĩ.
Thái Tông xúc động nói với Lê Tần.
Không có Khánh thì làm gì có ngày nay, Khánh nên cố gắng để cùng hưởng phúc về sau.
Lê Tần được phong làm nhập nội tại phù, chức quan có quyền can gián nhà vua,
tố cáo lỗi lầm của các quan và được ban tên mới là Lê Phụ Trần.
Người họ Lê có công giúp nhà Trần.
Sau đó, ông được cử làm tránh xứ sang Trung Quốc.
Ông đã khéo léo biện bạch khiến nhà Nguyên, kẻ vừa thua trận trước đó,
phải đồng ý cho nước ta dân cống phẩm một lần trong năm.
Năm ấy, Trần Thái Tông dường ngồi cho con để lên làm Thái Thượng Hoàng, tân quân là Trần Thánh Tông.
Vị vua này vì trọng dụng kinh nghiệm trần mạc mà khả năng huấn luyện binh sĩ của Lê Phụ Trần,
nên đã phong ông làm thủy quân đại tướng quân, nắm binh quyền trong tay.
Năm 1274, Trần Thánh Tông lập hoàng tử Trần Không làm thái tử.
Bước ngoặt cuộc đời của Lê Phụ Trần cũng bắt đầu từ đây.
Ông được thăng chức thiếu sư, kiềm chức sư cung giáo thụ,
chịu trách nhiệm trực tiếp dạy dỗ thái tử từ trong cung.
Khi chuyên sang lĩnh vực giáo dục, nhất là trực tiếp dạy bào dạy luyện người kế vị tương lai,
Lê Phụ Trần cho thấy ông là người văn võ toàn tài,
có đủ mô phạm và kiến thức để trở thành một nhà giáo mà triều đình tin tưởng.
Từ một dũng tướng trở thành nhà giáo, cổ kim hiếm ai được như ông.
Nhà giáo Lê Phụ Trần đã dốc lòng giáo dục thái tử Trần Không.
Về sau, người học trò ấy đã trở thành minh quân Trần Nhân Tông,
vị vua mà sự nghiệp và đức hạnh được xử sách đặc biệt ngợi ca.
Nhân Tông được tình hòa của Thánh Hiền, có tướng bạo thần tiên,
thể chất hồn hậu, nhân tử, hòa nhã, giảng dị.
Ông xuống chiếu cấp lương thực cho người nghèo với tấm lòng nhân ái.
Lựa chọn tướng doi chống dọc nguyên, dựng nên sự nghiệp hiền hách rực rỡ,
được coi là bậc minh quân hiếm có của triều Trần.
Trần Nhân Tông có được công nghiệp và đức nghiệp như vậy,
không thể không khi nhận công lao đào tạo to lớn của nhà sư phạm,
danh tướng Lê Phụ Trần.
Minh Đa Tài của Trần Minh Tông
Ông Trần Cụ, người tình hương yên ngày nay,
bốn sinh dưới triều Trần Anh Tông.
Ông giữ một chức hoa nhỏ, phẩm hàm thấp,
nhưng sớm được triều đình chú ý bởi các đức tính đáng quý
cùng sự thông minh đa tài.
Sách Đại Việt Sử ký Toàn Thư chép rằng,
ông là người khoan hậu, cẩn thận, thật thà,
có biệt tài đánh đàn, bắn nò và đá cầu.
Với mỗi món nghề, ông đều có những phát kiến
và quan điểm khá độc đáo.
Trần Cụ mỗi khi sắp đánh đàn,
thì trước hết cắt đầu dây,
buộc lại cho chặt dây rồi sau mới gạy.
Có người hỏi cớ làm sao, Trần Cụ trả lời,
nếu cúc đàn chưa hết,
thì dây đứt thì làm thế nào?
Trần Cụ làm cầu thì cân nhắc các múi ra,
cho 12 múi cân nhau.
Duy 3 múi ở miệng cầu lỗ
là chỗ bỏ cái bọng lợn vào thì hơi mỏng và nhẹ,
để cân với sức nặng ở đầu bong bóng.
Cho nên, khi đá cầu,
múi nào ở trên đến lúc rơi xuống đất lại nguyên như cũ,
không bao giờ chuyển khác.
Người đòi bắn nò, Trần đứng cũng như bắn cung,
tức là kiểu chữ đình không thành,
chữ bát không ngay.
Trần Cụ thì đứng ngay ngắn mà bắn,
và bảo mọi người.
Phạm bắn cung,
thì tay trái dơ ra phía trước nắm lấy thần cung,
tay phải kéo dây cung về phía sau.
Mình đã nghiêng,
thì chân cũng phải lệch,
còn bắn nò,
thì đưa cân băng ra phía trước.
Cho nên,
khi cầm nò mà bắn,
thân mình ngay ngắn,
thì cớ gì Trần lại phải đứng lệch.
Nhà ông ta ở và thuyền ông ta đi
đều có 2 cửa đối nhau,
xếp đặt,
bay biển các thứ cũng cân đối,
và phải ngay ngắn,
vì là bản tâm như vậy.
Cho nên,
biểu hiện ở mọi việc làm cũng như vậy.
Lê Hoàng đế Trần Anh Tông
rất tán thường phẩm chất và tài năng của Trần Cụ.
Anh Tông lập Hoàng tử Trần Mạnh làm thái tử.
Khi ấy, Trần Mạnh mới 5 tuổi,
vì thế anh Tông muốn tìm đủ người có tài
và đức độ để dạy cho thái tử.
Ông đã cất nhắc Trần Cụ vào hàng sư phó,
cùng các bậc thầy khác lo việc giáo dục thái tử.
Trần Cụ dốc hết tâm huyết
dạy bảo vị thái tử nhỏ tuổi đó.
Đây thực sự là quá trình đào tạo vô cùng công phu.
Thái tử sau này lên ngôi,
tức Trần Minh Tông,
đã trở thành một vị Hoàng đế khiêm tốn,
hòa nhã,
thông minh,
quyết đoán,
giỏi việc cầm quân,
có nhiều chính sách trị nước tích cực
và biết cách rèn rũa các Hoàng tử
thành những người hữu ích cho đất nước.
Bởi trí tuệ thông minh hơn người,
Trần Cụ đã dành hết tâm huyết
để dạy bảo vị thái tử nhỏ tuổi.
Do vậy,
sự kết tinh tài năng
và trí tuệ người Hoàng đế Trần Minh Tông
có phần đóng góp không nhỏ
của nhà giáo họ Trần.
Ngoài hai nhà giáo kể trên,
dưới các triều đại khác trong lịch sử
cũng đã ghi nhận và ca ngợi công lao
tài năng của những nhà giáo vĩ đại.
Họ chính là niềm tự hào của dân thộc,
để lại cho hậu thế nhiều bài học quý giá,
bởi đó là những bậc thầy lỗi lạc.
Chú Văn An
Nhắc đến những nhà giáo nổi tiếng thời Trần,
Bậc Vạn Thế Sư Biểu, Chú Văn An
là người được đòi biết đến nhiều hơn cả.
Nhân cách và đạo đức của Thầy Chú Văn An
không những là gương sáng cho người đường thời nói theo,
mà còn khiến quỷ thần kính trọng.
Trong những giai thoại nổi tiếng nhất về ông,
người ta kể rằng,
Tương truyền,
khi Chú Văn An mở trường dạy học ở quê nhà,
có rất nhiều đến đầy cửa xin học.
Trong số này,
có một người sáng nào cũng đến thật sớm nghe rằng.
Thầy khen là Trăm Trì,
nhưng không rõ tông tích ở đâu.
Ông bèn cho người dò xem,
thì cứ đến khu đầm lớn hình Vành Quyên,
nằm giữa các làng Đại Tử,
Tứ Kỳ, Huỳnh Cung,
thì biến mất.
Ông biết đó là thần nước.
Ngập lúc đại hạn kéo dài,
giang bài xong,
ông tụ tập các trò lại,
hỏi xem,
ai có tài,
thì làm mưa giúp dân,
giúp thầy.
Người học trò kỳ lạ,
chứ có vẻ ngần ngại,
sau đứng ra xin nhận,
và nói với thầy,
Con vâng lời thầy,
là trái lệnh thiên đình,
nhưng con cứ làm để giúp dân.
Mày kìa,
nếu có chuyện gì không hay,
mong thầy trù toàn cho.
Sau đó,
người này ra giữa sân,
lấy nghiên mài mực,
ngửa mặt lên trời khấn,
và lấy bút thấm mực vầy ra khắp nơi.
Vậy gần hết mực,
lại tung cà nghiên lẫn bút lên trời.
Lập tức,
mây đèn kéo đến,
trời đổ mưa một trận rất lớn.
Đêm hôm ấy,
có tiếng xét lớn.
Sáng hôm sau,
thấy có thầy thuồng luồng nổi lên ở đầm.
Chủ văn an được tin,
khóc thương luyến tiếc,
rồi sai học trò làm lễ an táng.
Nhân dân các làng lân cận,
cũng đến giúp sức.
Và sau,
nhớ công ơn bèn lập đền thờ.
Nay,
vẫn còn giấu vết mộ thần.
Theo truyền thuyết,
chỗ nghiên mực,
bị ném rơi xuống,
đã biến thành đầm nước lúc nào cũng đen.
Nên,
thành tên là đầm mực.
Quản bút,
rơi xuống làng Tà Thành Oai,
nay thuộc ngoại thành Hà Nội.
Biến làng này,
thành một làng văn học,
quê hương của Ngô Thì Sĩ,
Ngô Thì Nhâm.
Trong đền thờ thần,
còn đôi cầu đối ghi lại sự tích này.
Nghĩa là,
mây lành từ nghiên mực bay lên,
một ngọn bút ra công,
trời thuận theo lẽ phải.
Mưa tốt giữa sơn son đổ xuống,
nghiên cánh đồng đội nước,
đất nẻ trổ mùa hoa.
Vua Trần Binh Tông,
lên ngôi năm 1314,
đã giao cho Thầy Chú Văn An,
chức từ nghiệp quốc tử Giáng,
phụ trách chuyên môn đào tạo
và dạy học cho Thái tử Trần Mượng,
sau này là vua Trần Hiến Tông,
đào tạo một vị vua mới cho Đại Việt.
Quan Tề Tướng Trần Nguyên Đán,
ông ngoại của danh nhân Nguyễn Trãi,
cũng là ông nội của danh tướng Trần Nguyên Hãn,
rất quý mến tài đức của Chú Văn An.
Hãy tin, Thầy Chú đồng ý
về kinh thành Thăng Long dạy học,
nên đã hết lòng giúp đỡ.
Thành tiệu lớn nhất của Chú Văn An
khi dạy học tại đất Thăng Long
chính là Bộ Tứ Thư Thuyết ước,
bộ sách tóm lược nội dung
có 4 cuốn sách,
của nhò ra là Đại học,
Trung dung, Luận ngữ và Mạnh tử.
Đây chính là giáo trình dạy học
chính của Thầy Chú Văn An
tại quốc tử Giám.
Cũng phải nói thêm,
là kinh văn khổng tử
để lại cho hậu thế,
tuy chỉ gồm tứ thư, ngũ kinh,
nhưng toàn bộ nội dung rất đồ sộ
và nội hàm thâm sâu bằng chữ Hán.
Lúc này, Đại Việt
dù đã có hơn 200 năm trải qua đời lý
đến nhà Trần
dùng nhò giáo để quản lý chính quyền,
nhưng khả năng lý dài
và sử dụng kinh điển nhò ra
vẫn còn rất hạn chế.
Thật khó tìm được người hiểu được thâm sâu
và toàn diện về lý thuyết nhò ra.
Vì lẽ đó,
các nhà nhò tài năng như Chú Văn An
đã phải biên soạn lại
những phần tầm đắt nhất của mình
khi học kinh thư
thành những bộ sách ngắn gọn,
dễ hiểu và dễ áp dụng
dùng để dạy học cho hiệu quả hơn.
Để làm được điều này,
ngoại trừ tay học bác đại tình thâm gia
thì còn cần một tấm lòng son sát
với sự nghiệp dạy học mới làm được.
Nên quà thật,
các vị vua sau này của Việt Nam
đem Chú Văn An phối thờ với không từ
không phải là không có lý do.
Nhắc tới cụ Nguyễn Bình Khiêm
thì người Việt chúng ta nhớ ngay
từ những sấm ký trăm năm
đã ứng nghiệm qua rất nhiều sự kiện lịch sử.
Nhưng ông còn để
gửi đời mến phục nhờ vào chiết lý
thiện là dòng dõi của giáo dục.
Một cây đại thụ tòa dập bóng
ở thế kỷ 16
Nguyễn Bình Khiêm không chỉ là một danh nhân văn hóa
một nhà thư lớn
một bậc thầy hiền triết
một nhà tiên tri đại tài
mà còn là một nhà giáo vĩ đại
một bậc sư biểu được người đời tôn vinh
ngưỡng mộ.
Thầy Nguyễn Bình Khiêm
thì đỗ giải nguyên đời nhà mạc
làm quan được 8 năm
năm 1542
thầy dân xớ hạch tội 18 lộng thần
nhưng không được vua nghe
nên xin cáo quan về ở ẩn
lập am ngoại Bạch Vân Am
và hiệu Bạch Vân Cử Sĩ
mở trường dạy học.
Hơn 40 năm
đuôi về Bạch Vân Am dạy học
là hơn 40 năm thầy dồn hết
sức tâm huyết đào tạo nhiều
trí thức lớn cho đất nước.
Học cho cô thầy đều là những
nhân tài xuất trúng, văn võ
song toàn như Phùng Khắc Hoan
Lế Hữu Khánh, Nguyễn Quyển
danh tiếng và tài năng của thầy
và trưởng Bạch Vân
bên dòng tuyết giang vang dội khắp nơi.
Thầy được các môn sinh
tột là tuyết giang phụ tử
một danh sừng tôn kính
cho những bậc sử biểu đực độ.
Đồn rằng do được
truyền cho quyền thái ất thần kinh
đến thầy Nguyễn Bình Khiêm
tỉnh thồng về lý học, tướng số
có kỹ thể tiền đoán được biến cố trước
và sau 500 năm.
Với những câu sấm truyền
thầy được người đời suy tôn
là nhà tiên tri số một của Việt Nam.
Giải thoại
cùng với những lời sấm tiên tri của thầy
vẫn còn được truyền tụng
tận đến ngày hôm nay
và ứng nghiệp đến bất ngờ.
Lúc sinh thời, thầy đã dùng tay
lý số của mình cứu vãn triều mạc
tồn tại được một thời gian khá dài.
Tương truyền rằng
lúc nhà mạc sắp mất
lên sai người đến hỏi thầy
thầy đã đưa ra lời sấm cho nhà mạc rằng
cao bằng tang tại
nghĩa là nếu chạy lên cao bằng
thì sẽ tồn tại được ba đời.
Quả nhiên, nhà mạc lên cao bằng
thì tồn tại được thêm ba đời.
Thầy cũng đưa ra lời
sấm cho nhà Nguyễn
mà nhờ đó nhà Nguyễn mới tiến vào
Nam mờ rộng bờ cõi
để đất nước ta có hình thái như ngày hôm nay.
Còn với triều đại thứ ba
cùng tồn tại
khi ấy là nhà trịnh
thời điểm vua Lê Trung Tông mất
không có người nối dõi
trịnh Kiểm định xoán ngôi nhà Lê
nhưng chưa dám quyết
nên đã sai người tới hỏi Nguyễn Bình Khiêm
thầy cũng chỉ nói
giữ chùa thờ Phật
thì an toàn
ý nói giữ là bể tôi
của vua Lê thì lợi hơn
trịnh Kiểm nghe theo
lên sai người đi tìm tôn thất nhà Lê
đưa lên ngôi
họ trịnh mượn tiếng nhà Lê
nhưng thực chất nắm quyền điều hành chính sự
hai bên cùng tồn tại
tới hơn 200 năm
vì thế mà có cầu
Lê Tồn trịnh tại
tiếng tăm của thầy Nguyễn Bình Khiêm
không chỉ nổi ở trong nước
mà còn vang đến tận Trung Hoa
khiến số học giả ở đó
cũng ngưỡng mộ sưng tụng
à nam lấy số hữu trịnh tuyển
nhà giáo Lê Quý Đồn
thiên hạ vô trì
vẫn bảng đồn
thầy Lê Quý Đồn
Nguyên là Lê Danh Phương
tự doán hậu, hiệu Quế Đường
sinh trường trong một gia đình qua bàng
Chà là tiến sĩ Lê Trọng Thứ
quê ở Diền Hà
Trấn Sơn Nam Hạ
này là thôn Phú Hiếu
xã Độc Lập, huyện Hưng Hà
tỉnh Thái Bình
Ngày từ nhỏ thầy đã nổi tiếng thông minh
chăm học. Năm 14 tuổi
thầy theo cha lên học
ở kinh Đồ Thàng Long
lúc ấy thầy đã học xong toàn bộ kinh sách
sự cô nhỏ ra
18 tuổi thầy thi hương
đỗ giải nguyên
27 tuổi đỗ hội nguyên
rồi đỗ định nguyên bảng nhãn
sau khi đã đỗ đạt
thầy được bổ làm quan
và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng
của triều Lê Trịnh
thầy là người học rộng, tài cao
am thông nhiều lĩnh vực như
khoa học tự nhiên, địa lý
khoa học xã hội, văn trường, sự học
luôn được vua, quan
thầy Lê Quý Đôn
không chỉ là một nhà bác học
mà còn là người thầy xuất sắc
ở nước ta hồi thế kỷ 18
thầy từng mở trường dạy học
có nhiều học trò theo học
và còn lưu lại ân tình đàm thám
đối với học sinh
thầy phụ trách các kỳ thi
lo lắng quan tâm tới việc đào tạo
và tuyển dụng các nhân tài
thầy Lê Quý Đôn
không chỉ là một nhà bác học
mà còn là người thầy xuất sắc
ở nước ta hồi thế kỷ 18
chạy với những nhò sĩ
chỉ biết nhôi nhét những lý luận kinh điển
xa xôi mà coi thường
thậm chí không biết gì đến các môn học
khác thì thầy cho rằng
cần phải học tập toàn diện
thầy cũng đã nêu lên một số ý kiến
về phương châm học tập
chủ trường học phải biết nắm lấy cái chính
không thể vù vơ
theo việc ngọn ở ngoài mà không tìm
tòi đến chỗ gốc ở trong
nếu không thể mà cứ vật gì
cũng xét cho đến cùng
cho đủ cả thì chẳng hóa ra
vì đường có nhiều lối rẽ
mà đến nỗi lạc mất dê ư
thầy cũng căn dặn rằng
học hành phải có óc suy luận
không chỉ phụ thuộc vào sách vở
sách không hết lời
lời không hết ý
phải hiểu ngầm ý của thánh nhân
ở ngoài lời sách mới được
trích dịch kinh phù thuyết
thầy còn khuyên
dù ngô rốt đến đâu
cũng nên kính giấy, tiệt chữ
dù keo bẩn đến đâu
cũng tìm mua sách vở
thầy cho rằng biết học
thì không thể biện lẽ thiếu thi giờ
hình ảnh thầy Lê Quý Đôn
tận tụy truyền dạy phương pháp học tập
tiến bộ và kiến thức cho học trò
đã là tấm gương sáng
cho nhiều thế hệ nói theo
thầy giáo Lê Quý Đôn
thực sự xứng đáng với danh hiệu
người thầy mẫu mực mà luôn được
người đời tôn kính
vâng thưa quý vị
lịch sử đã kép lại bao triều đại
nhưng tiền tuổi của những bậc thầy hiện tại
hội tụ cả ba yếu tố
tầm, tầm và tài
vẫn gân vang qua 5 tháng
họ không chỉ truyền dạy trí thức
mà còn gieo vào lòng thế hệ mai sau
hạt giống của nhân nghĩa
trí thức và trí tuệ