Cảnh Giới Cao Nhất Của Không Tranh Đấu: Không Tranh mà Đại Tranh | Vô Dụng mà Đại Dụng

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Cảnh Giới Cao Nhất Của Không Tranh Đấu: Không Tranh mà Đại Tranh | Vô Dụng mà Đại DụngTrong lịch sử cổ kim, có biết bao người, từ bậc đế vương, lương tướng cho đến những kẻ áo vải ẩn dật, dường như bản thân chẳng làm nên việc gì to tát, vậy mà lại đạt được những thành tựu phi thường. Ấy là bởi họ thấu hiểu đạo lý "vô dụng chi tài hữu đại dụng" của Lão Trang. Lấy tấm lòng hư không mà làm việc thực tế, bao dung vạn sự vạn vật, biến tất cả thành công cụ cho mình, đó mới chính là cái "đại dụng" đích thực mà Đạo gia đề xướng...
#toiyeubinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun #vanhoatruyenthong
Đạo ra sử thế, trong vô dụng có đại dụng, kẻ giỏi tranh lấy không tranh làm thắng.
Thưa quý vị và các bạn, Lão Tử nói 30 nan hoa cùng chung một phòng trụng, chính như khoảng trống ở giữa mà xe có thể sử dụng được.
Lão Tử dùng lối so sánh để giảng giải cho mọi người đạo lý.
Chỗ trống rỗng vô dụng lại có công dụng rất lớn.
Thông qua quy luật tự nhiên của bánh xe, có thể hiểu được yếu quyết tu thân để thành tựu.
Chính là trống rỗng không vật chất, tùy duyên ứng biến giữa có và không, khiêm tốn hư tâm, hợp sức mọi người để tạo nên sức mạnh to lớn.
Thuổt xưa, khi chế tạo xe ngựa, bánh xe đóng vai trò tối quan trọng.
Vòng trục bánh xe hay thuật ngữ chuyên ngành ngày nay gọi là Mai-ơ hay là Mai-ơ.
Trung tâm của Mai-ơ là một lỗ tròn nhỏ, từ đó tỏa ra 30 nan hoa xe.
Bao quanh bởi một vòng tròn lớn tạo thành một bánh xe với kết cấu 2 vòng tròn đồng tâm.
Trong bánh xe ấy không có nan hoa xe nào là trọng yếu nhất, bởi cả 30 nan hoa đều chịu lực đồng đều.
Mỗi nan hoa đều phát huy công năng riêng để bánh xe vận hành.
Thế nhưng điểm mấu chốt lại nằm ở chính giữa, nơi trống rỗng không có vật chất nào.
Nó không thiên vị hay cố định bất kỳ nan hoa xe nào.
Nhờ vậy mà bánh xe mới chuyển động linh hoạt, không ngừng nghỉ.
Trong trang tử có ghi chép lại một câu chuyện thú vị và đầy ẩn ý
nói về mối quan hệ tình tế giữa cái tài lớn và tài nhỏ, giữa cái hiếu dụng và cái vô dụng.
Trang tử dạo chơi trong núi, thấy một cây đại thụ được người dân tôn làm thần cây.
Cây to lớn đến mức có thể che bóng cả ngàn con trâu.
Thần cây phải đến trăm thước vòng ôm.
Ngọn cây cao vút như đỉnh núi.
Thần cây cao mấy trượng, mấy phần nhánh.
Nhiều cành lớn đến nỗi có thể làm thuyền.
Thế nhưng những người tiều phu chỉ đứng nhìn mà không hề động đến cây.
Hỏi ra mới biết họ cho rằng, đó là thứ gỗ tạp vô dụng.
Làm thuyền thì chìm, làm quan tài thì mau mục.
Mà làm đồ dùng thì dễ hỏng, làm cửa sổ thì chảy nhựa, làm cột nhà thì mối mọt.
Chính vì chẳng dùng được vào việc gì nên nó mới sống đầu đến vậy.
Trang tử nghe song thuốc lên.
Chính vì không thành tài mà cây mới được an hưởng tuổi trời.
Rời khỏi núi, trang tử đến nhà một người bạn nghỉ trọ.
Người bạn vui mừng, say người nhà làm thịt ngỗng để thiết đãi.
Người nhà bên hỏi, có một con biết kêu và một con không biết kêu.
Xin hỏi nên làm thịt con nào?
Chủ nhà đáp, làm thịt con không biết kêu ấy.
Hôm sau, học trò hỏi trang tử.
Hôm qua con thấy cây đẩy thụ trong núi, vì không thành tài mà sống lâu.
Nay con ngỗng của nhà bạn thầy vì không thành tài mà bị giết.
Thầy nghĩ thế nào ạ?
Trang tử mỉm cười.
Ta sẽ sống giữa cách thành tài và cách không thành tài.
Sống giữa cách thành tài và không thành tài dường như hợp với đảo,
mà lại không thật sự hợp với đảo,
nên vẫn không tránh khỏi ràng buộc và lao nhọc.
Dám mà thuận theo tự nhiên, ung dung tự tại,
mà vui sống thì chẳng đã như thế.
Không khen chê, khi thì như rồng bay lên,
khi thì như rắn ẩn mình.
Tùy thời mà biến hóa, không muốn thiên lệnh về một phía nào.
Lúc tiến lúc thoái, lấy sự hai hoa làm chưng mực.
Ung dung tự tại sống trong trạng thái nguyên thủy của vạn vật.
Sai khiến ngoại vật chứ không bị ngoại vật sai khiến.
Như thế thì làm sao bị ngoại vật ràng buộc, lao nhọc được?
Đó chính là phép sự thế của thân nông, hoàng đế.
Còn cái tình thật của vạn vật,
cái học tập chuyên thụ của con người thì không như thế.
Có tụ hợp thì có ly tán,
có thành công thì có hủy hoại,
cạnh sắc bén thì bị tổn thương,
tôn quý thì bị lạc đổ,
hiểu vi thì bị thiệt hại,
hiền năng thì bị mơ tính,
mà bất tai thì bị ức hiếp.
Sao cứ phải thiên lệnh về một phía nào đó?
Thàn ơi, các con hãy ghi nhớ,
e rằng chỉ có quay về với tự nhiên mà thôi.
Đối với cây đại thụ thiêng liêng,
vô dụng chính là phương cách để bảo toàn sinh mệnh.
Cố gắng trở nên vô dụng,
nhưng rốt cuộc,
cái vô dụng ấy lại mang đến cho chúng ta công dụng lớn lào.
Vô dụng nhưng thực chất lại là người trí tuệ siêu phạm,
mô lược hơn người.
Chính là cái vô dụng mà sinh ra đại dụng.
Thật là tuyệt diệu!
Trí tuệ của người xưa thật khiến người ta phải cảm thán.
Lão Tử lấy ví dụ về bánh xe và đồ lựng,
cho rằng trục bánh xe có thể gánh vác trọng trách nặng nề,
vận hành không ngừng nghỉ,
là bởi vì có một lỗ tròn nhỏ ở giữa
để hỗ trợ sức mạnh tổng hợp của toàn bộ.
Lỗ tròn trống rỗng,
nhờ vậy mà có thể chịu đựng được lực từ nhiều phía,
xoay chuyển vô tận.
Đó chính là cái đại dụng sinh ra từ cái vô dụng.
Cái diệu kỳ của vô vi nhì vô bất vi,
không làm mà không gì không làm.
Thông qua quy luật tự nhiên của bánh xe,
con người có thể thấu hiểu được yếu quyết tu thân để thành tựu,
chính là tâm hồn trống rỗng,
không vững bận vật chất,
tùy duyên ứng biến giữa có và không,
khiêm tốn hư tâm,
hợp sức mọi người để tạo nên sức mạnh to lớn.
Nhào lạn đất xét để làm đồ lựng,
chính nhờ chỗ trống không ở giữa
mới có công dụng của đồ lựng.
Khi chế tác đồ gốm,
phải tạo hình đất xét thành một khối kín,
không để nước thấm vào trong hay ra ngoài.
Đồng thời phải làm cho bên trong trống rỗng,
như vậy khi sử dụng mới có thể đựng được đầy,
tùy ý, đạt được hiệu quả bằng muốn.
Điển cố lịch sử kể lại rằng,
năm thứ hai sau khi Hán Huệ Đế lên ngồi,
Thưa tướng Tiêu Hà tuổi cao sự yếu,
lầm ảnh nặng.
Hán Huệ Đế đích thân đến thăm,
ban đến việc lựa chọn người kế nhậm.
Khi Huệ Đế nhắc đến Tảo Tham,
Tiêu Hà vốn không đưa ra ý kiến về người kế nhậm,
nay cũng gật đầu, đồng ý.
Tảo Tham vốn là một vị tướng tài,
khi Cao Tổ Lưu Bang phong cho con trưởng là Đô Phì làm Tề Vương,
liên cử Tảo Tham làm Tề Tướng.
Lúc bây giờ, thiên hạ mới được bình định,
dân chúng ở đất Tề xảo trá,
nhiều thay đổi,
lại thêm nhiều năm chiến tranh tàn phá,
kinh tế kệt quệ,
dân tình khốn khổ.
Tảo Tham bèn áp dụng học thuyết hoàng lão của ẩn sĩ Cái Công,
trị đạo quý ở thanh tịnh,
dân tự khắc, àn định.
Cai trị bằng cách thanh tịnh vô vi,
khiến Bách Tính được an cư lạc nghiệp.
Tiêu Hà vừa mất,
hán Huệ Đế lập tức triệu Tảo Tham vào trưởng An,
kế nhậm chức thử tướng.
Tảo Tham vẫn dùng phương pháp thanh tịnh vô vi,
mọi việc đều làm theo quy chế do Tiêu Hà đặt ra trước đó,
không tự ý thay đổi.
Huệ Đế thấy vậy có phần không hài lòng,
bèn sai con trai của Tảo Tham là Tào Trử đến Giọt Xét.
Tào Trử theo lời Huệ Đế hỏi cha,
Cao Tổ Bang Hà,
hoang thượng con trẻ tuổi,
việc nước đều trông cậy vào cha.
Thế mà cha ngày ngày chỉ uống rượu,
không hỏi đến chính sự,
cứ thế này thì làm sao trị lý thiên hạ được?
Tào Tham nghe vậy nổi giận,
sai người lấy roi ra đánh con một trận.
Hôm sau, Tào Tham vào triều,
Huệ Đế hỏi chuyện này.
Tào Tham bèn hỏi lại,
Bệ hạ so với Cao Tổ,
ai anh minh hơn?
Hán Huệ Đế đáp,
con phải nói sao,
trẫm làm sao sánh bằng Tiên Đế?
Tào Tham lại hỏi,
Hán Huệ Đế mỉm cười,
Khanh hình như không bằng Tiêu Thừa Tướng.
Tào Tham nói,
Bệ hạ nói rất đúng,
Bệ hạ không bằng Cao Tổ Hoàng Đế,
thần lại không bằng Tiêu Thừa Tướng.
Cao Tổ Hoàng Đế và Tiêu Thừa Tướng đã bình định thiên hạ,
lại đặt ra cho chúng ta một bộ khuy chế,
chúng ta chỉ cần theo đó mà làm,
không làm trái là được rồi.
Hán Huệ Đế nghe xong bỗng nhiên tỉnh ngộ,
vô dụng mà sinh ra hữu dụng,
vô tài mà hóa thành đại tài.
Trong lịch sử,
những ai vận dụng được điều này một cách khéo léo,
át hẳn đều có sự nghiệp lẫy lửng.
Và Tào Tham,
thời Hán,
chính là một bậc thầy trong số đó.
Đôi khi,
vô vi không phải là không làm gì,
mà là biết thừa kế và phát huy những thành quả đã có,
không chủ quan,
không nóng bội,
để mọi việc vận hành một cách ổn định và bền vững.
Biết bao nhiêu nhà lãnh đạo,
vì muốn thể hiện bản thân,
mà thay đổi mọi thứ,
cuối cùng lại gây ra hậu quả khôn lưỡng.
Tào Tham,
đã chọn con đường vô vi,
nhưng lại đạt được hữu vi,
để lại cho hậu thế một bài học quý giá về nghệ thuật lãnh đạo.
Thực vậy,
nhiều khi chúng ta không cần phải cố chấp
theo đuổi hữu vi hay đại dụng.
Trong lịch sử cổ kim,
có biết bao nhiêu người,
từ bậc đế vương,
lương tướng,
cho đến những kẻ áo vải,
ẩn giật,
dường như bản thân chẳng làm nên việc gì to tát.
Vậy mà,
Ấy là bởi họ thấu hiểu đạo lý,
vô dụng,
chi tài,
hữu đại dụng.
Trong vô dụng,
có đại dụng,
của lão chàng.
Lấy tâm lòng hư không mà làm việc thực tế,
bao dung vạn vật,
vạn sự,
biến tất cả thành công cụ cho mình.
Đó mới chính là cái đại dụng đích thực
và đạo gia đầy sướng.
Kẻ giỏi tranh,
lấy không tranh làm thắng.
Kẻ giỏi tranh,
chiến thắng bằng cách không tranh giảnh hơn thua.
Trong trang tử Sơn Mộc,
có kể về loài chim ý đãi,
luôn tren trúc sống tạm bỡ giữa bầy đàn.
Khi bay không dám lên trước,
cũng chẳng dám tuột lại phía sau.
Nụ ăn không tranh giành,
chỉ nhặt những thức ăn thừa.
Chính vì vậy,
nó không bị những loài khác bên ngoài bầy đàn hãm hại,
cũng không bị đồng loại bài xích,
giữ được thân mình,
tránh xa tai họa.
Nếu nó ý không đãi,
chắc chắn sẽ không chọn cách sống như vậy.
Không tranh trong tư tưởng của trang tử,
ý nghĩa ban đầu là sáng suốt bảo toàn bản thân,
tránh xa tai họa.
Ngày nay người ta mượn ý này,
nhưng lại dùng theo nghĩa ngược lại,
hiểu theo nghĩa là khoan dung độ lượng.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhớ rằng,
vừa khêm nhường,
vừa dám làm dám chịu,
thuận theo tự nhiên,
lúc mềm mỏng thì mềm mỏng,
lúc cần tranh đấu thì phải tranh đấu.
Chỉ một mực không tranh nhún nhường là điều không nên.
Không tranh thật sự là để giành chiến thắng tốt hơn.
Lão tử nói,
chính vì không tranh,
nên thiên hạ không ai tranh nổi với mình.
Cầu nói,
uốn mình thì được vẹn toàn của ngày xưa.
Há chẳng phải là lời nói xuông sao?
Thật là vẹn toàn mà trả vé với chính mình.
Làm thế nào để không tranh?
Chính là không mong cầu điều gì cả.
Con người sở dĩ có tai họa,
có đau khổ,
có phiền não,
là bởi vì cứ muốn nắm mắt thứ gì đó.
Nếu có thể buông bỏ tất cả,
tự nhiên sẽ không còn tranh rành.
Thiền sư Bách Âm thời nhà Thành
đã viết cho một cụ già tên là Tiền Tương Linh
ở núi Ngu, một câu đối như thế này.
Danh đầy thiên hạ mà chưa từng bước chân ra khỏi cửa.
Lời vang khắp thế gian mà chưa từng thốt ra một lời.
Không giận mà tự uy,
không nói mà tự trọng,
không cầu danh mà danh tự đến,
không tranh rành mà lại là tranh.
Đó là một tầng cảm ngộ cao siêu về sự sống,
một lối sống đại trí như ngu,
trí lớn như ngu ngốc,
là một sự trải nghiệm và thấu hiểu sâu sắc của văn hóa, đạo giả.
Khác biệt hoàn toàn với chủ nghĩa văn hóa để có cái tôi,
lấy sự thể hiện bản thân làm trung tâm.
Thật là vẹn toàn mà trở về với chính mình.
Một mặt chúng ta nói phải là một người quân tử không tranh,
mặt khác cũng cần nê sướng tinh thần,
đừng nhần bất nhượng.
Tức là tinh thần thấy việc nhân đức,
nghĩa hiệp thì không nhầng ai.
Người có ý thức cạnh tranh đều rất giỏi nắm bắt cơ hội,
tự tiến cử, tự quảng bá bản thân.
Đó chính là đừng nhần bất nhượng.
Tuy nhiên, đừng nhần bất nhượng không phải chỉ là lời nói xuông,
không có bản lĩnh thực sự thì không được.
Khi đừng nhần bất nhượng,
cũng cần phải có chiến lược, có nghệ thuật.
Đó chính là trí tuệ không tranh đích thực của đạo giả.
Không tranh thì thôi, đã tranh là phải thắng.
Có một câu chuyện ngụ ngôn kể về ngọn lời nhỏ,
nói về cây lý tự trúc lấy giật vong vì quá ham tranh tranh,
rất đáng để suy ngẫm như thế này.
Có một ngọn lời nhỏ le lói vài tiên sáng đỏ trong trò ấm.
Nó không cam tâm lụi tàn trong trò tàn màu xám dịt,
nên cố gắng chui sâu vào trong,
để giảm bớt sự tỏa nhiệt của bản thân.
Đến giờ thổi cơm,
người ta lại nhét thêm cành khô và củi vào bếp lò,
đang dần ngồi lại.
Que riêng và quẹp,
đống củi dưới đáy nồi sắt đựng canh nóng bùng cháy,
ngọn lời nhỏ sắp tàn lại được hồi sinh.
Bếp lò bỗng chốc được chất đầy củi khô,
ngọn lửa vui mừng khôn siết.
Nó cháy càng lúc càng mạnh,
dần dần đẩy không khí ra khỏi bếp lò.
Ngọn lửa tinh nghịch không ngừng đùa giỡn với củi,
nhảy nhót không yên, cháy hơn ngực.
Lửa liếm qua từng thanh củi,
bắn ra tiên lời nhỏ ly ti như pháo hòa.
Bóng tối trong bếp nhảy múa vui vẻ,
xoay tròn không ngừng trên mả đất.
Ngọn lửa tinh nghịch gieo hỏ tí tách,
cố gắng chui qua nắp lò để thoát ra ngoài.
Bếp lò kêu vo vo,
khi thì huyết xáo lanh lành,
khi thì gầm rũ vang dội.
Tiếng hát ru rương vang vọng,
khiến căn bếp vẫn tối tâm lạnh lẽo,
bỗng chốc trở nên sáng sủa và ấm áp.
Thấy những thanh củi ngoan ngoãn nghe theo sự điều khiển của mình.
Ngọn lửa đặc ý, tự mãn,
đầu óc chứa đầy những ý nghĩ kêu căng ngạo mạn.
Nó không muốn ở trong bếp lò nữa,
chỉ thấy nơi này trật trội, bé nhỏ,
không thể dung chứa nổi một nhân vật phi thường như nó.
Thế là, ngọn lửa kêu ngạo phát ra những tiếng kêu răng rắc,
đầy vẻ đe dọa,
bắn những tiên lửa trói lòa vào bốn phía lò.
Hòng thoát ra khỏi cái lò tù túng ấy,
ra ngoài kia để phô trường tài năng.
Nó xông xáo khắp nơi,
cuối cùng cũng tìm thấy một khe hở.
Ngọn lửa mừng rỡ, vênh váo, lao ra ngoài.
Kết quả thì có thể tưởng tượng được,
ngọn lửa kêu căng hóa thành một làn khói xanh,
biến mất không giấu bếp.
Ngọn lửa đáng thương đến chết cũng không hiểu rằng,
rời khỏi sự trợ giúp của củi,
nó sẽ chẳng làm nên trò chống gì.
Đôi khi, chúng ta cũng giống như ngọn lửa kia,
vừa đạt được một chút thành tựu đã kêu căng tự mãn,
ảo tưởng rằng mình là toàn năng.
Mà nào biết rằng, để có được thành công ấy,
ta đã nhận được biết bao sức mạnh và trí tuệ của nhiều người.
Rời xa sự giúp đỡ của họ,
dù có ba đầu sáu tay, ta cũng không thể thành công.
Đáng tiếc là, thường thì phải đến khi thực sự vấp ngã,
nhận thất bại thảm hại, chúng ta mới nhận ra được điều này.
Không tranh mà là đại tranh,
cảnh giới cao nhất của sự tranh đấu.
Thực ra, người ta sống trên đời,
tranh giành là vì điều gì?
Chẳng qua cũng chỉ là hai thứ,
một là tranh giành về khí phách,
hai là tranh giành về lợi ích.
Khí phách, đó là cái chỉ phẩm chất tinh thần mạnh mẽ,
dũng cảm và kiên định của con người.
Người có khí phách thường có sự quyết đoán, tự tin,
giám đương đầu với khó khăn, nguy hiểm
và giữ vững lập trường của mình,
dù gặp phải, gian khó, chở ngại.
Bởi vậy, tranh giành khí phách là việc đáng làm,
vì thực chất đó là sự nỗ lực để đạt được
và duy trì những giá trị tinh thần cao đẹp,
để cá nhân phát triển toàn diện,
cũng như để đóng góp vào sự phát triển của một cộng đồng,
xã hội vào mình và có đảo đức.
Ngược lại, việc tranh giành lợi ích
chẳng những ngàn lần vạn lần không đáng làm,
mà lại còn bị người đời khinh rẻ.
Muốn giữ được chữ nhu,
cần phải như người xưa đã nói,
gặp lợi thì nhận lợi,
gặp danh thì nhận danh.
Danh lợi gì cũng vậy,
đều chỉ là vật ngoài thân,
sinh không mang đến, chết không mang đi.
Chỉ bằng sống một cuộc đời thân trần đi về không vững bận,
thật là thoải mái biết bào.
Lý bạch, đào tiềm
đều là những bậc tiền bối yêu rượu không hiểu danh.
Một người say nhìn thế gian hát vang bên chén rượu.
Một người tìm về cõi đào nguyên thoát tục.
Không biết có nhà Hán,
huống chi là thời nguy tấn.
Không tranh với đời, tự tìm giải thoát.
Vậy nên, không tranh là một trong những nguyên tắc tu thân sự thế.
Không tranh mà tranh,
chính là cảnh giới cao nhất của sự tranh đấu.
Làm người không nên quá hiếu thắng.
Lão đàm quý trữ nhu
đạo ra đề cao khiêm tốn không tranh
và dùng cách sống của loài chim ý đãi
để giải thích cho khiêm tố này.
Nếu mọi người đều làm được không tranh
trong điều kiện danh ngạch, lợi ích có hạn,
mọi việc sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.
Vì thế, làm người nên thoát tục một chút,
tâm hồn khoan dung,
thậm chí cam tâm nhận mình là cái yếu,
đối với bản thân chẳng mất mát gì,
lại còn tránh được những cuộc tranh đấu vổ nghĩa
mà còn có thể giành chiến thắng
trong những thời khắc quan trọng nhất.
Cho nên, người giỏi tranh phải biết không tranh.
Chỉ có người biết không tranh
mới có thể giành được chiến thắng cuối cùng.
Như đã nói, 30 nan hoa
chung một vòng trục bánh xe
chính nhờ chỗ trống rỗng ở giữa
mới có công dụng của bánh xe.
Lão tử đã dùng hình ảnh ẩn dụ dàn dị mà sâu sắc
để khai mở cho người đời đạo lý
trong cái hư không vô dụng
lại ẩn chứa công dụng to lớn.
Nhìn vào bánh xe ta thấy
30 nan hoa tựa như 30 con người
với các tính và sức mạnh riêng biệt.
Nhưng chúng không tranh giành,
không phô trương mà hòa quyện vào nhau
cùng chịu lực, cùng xoay chuyển
tạo nên sự vận động hài hòa cho bánh xe.
Và điểm mấu chốt nằm ở chính giữa
nơi trống rỗng, không vướng bẩn vật chất
tựa như một trái tim độ lượng
bao dùng tất cả.
Chính sự vô ví ấy, sự buông bỏ
không cố chấp mới có thể kết nối
và phát huy sức mạnh của từng nan hoa xe.
Giúp bánh xe lăn vẻ phía trước.
Con người cũng vậy.
Sở dĩ có tai ương, khổ đau, viền não.
Chính là vì vô sở bất vi,
không việc gì không làm.
Cái gì cũng muốn nắm bắt.
Nhưng cuộc sống như một bánh xe
cần có những quảng trống, cần có sự vô vi
mới có thể vận hành trơn tru.
Hãy học cách trở nên trống rỗng
như mai ơ bánh xe,
khiêm tốn, không tranh giành,
để tâm hồn được tự do,
để cuộc sống luôn chuyển động và phát triển không ngừng.
Chúng tôi xin kết thúc bài chia sẻ của mình tại đây.
Xin chân thành cảm ơn quý vị và các bạn
đã dành ra thời gian quý báu của mình
để lắng nghe bài chia sẻ này.
Một lần nữa xin kính chúc quý vị và các bạn cùng gia đình
luôn luôn được hạnh phúc, thành công
và bình an trong cuộc sống.
Xin chân trọng, kính chào và hẹn gặp lại.
