HITLER, STALIN, MAO TRẠCH ĐÔNG - AI LÀ NGƯỜI ÁC NHẤT? | HÀNG TRĂM TRIỆU NGƯỜI ĐÃ RA ĐI DƯỚI TAY HỌ| Map Story - Những Vấn Đề

ĐỒNG NAI TƯƠI ĐẸP
2K người theo dõi
705 Lượt xem video·23 thg 9, 2025
HITLER, STALIN, MAO TRẠCH ĐÔNG - AI LÀ NGƯỜI ÁC NHẤT? | HÀNG TRĂM TRIỆU NGƯỜI ĐÃ RA ĐI DƯỚI TAY HỌ| Map Story - Những Vấn Đề
Lịch sử không chỉ được viết bằng chiến thắng, mà còn được khắc sâu bằng nỗi đau
trong dòng chảy đầy biến động của thế kỷ 20.
Thế kỷ của chiến tranh, cách mạng và những cuộc thử nghiệm khốc liệt về quyền lực.
Có 3 cái tên luôn hiện lên như những bóng đen khổng lồ phủ kín thời đại.
Đó là Adolf Hitler, Iosif Stalin và Mao Trạch Đông.
Họ là 3 nhà lãnh đạo từng làm thay đổi thế giới,
nhưng cũng là những người để lại các trương xử nhuốm máu.
Họ được tôn vinh bởi hàng triệu người,
nhưng cũng bị nguyền rùa bởi hàng triệu sinh mạng đã ngã xuống.
Họ là biểu tượng của quyền lực tuyệt đối
và cũng là minh chứng cho cái giá khủng khiếp khi quyền lực không bị giới hạn.
Vậy giữa 3 nhân vật từng làm cả nhân loại rúng động ấy,
ai là người để lại di sản tàn khốc nhất?
Các bạn hãy cùng 5 phút thôi tìm hiểu ngay bây giờ nhé!
Tiểu sử của những nhà độc tài
Thế kỷ 20 đã chứng kiến những thời khắc rực cháy của hy vọng và tiến bộ,
nhưng cũng từng run rảy dưới gót rảy của bạo lực và khủng bố chính trị.
Ở đó, 3 nhân vật gây trấn động toàn cầu không chỉ thay đổi số phận của quốc gia mình,
mà còn làm rung chuyển trật tự thế giới bằng máu, sắt thép và nỗi sợ hãi.
Trong đó, Adolf Hitler có lẽ là người thổi bùng lên ngọn lửa chiến tranh khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người.
Ông sinh ngày 20 tháng 4 năm 1889 tại Braunau-Am-In, một thị trấn nhỏ thuộc đế quốc Áo-Hung.
Lớn lên trong gia đình có người cha nghiêm khắc và người mẹ dịu dàng,
Hitler đã nuôi khát vọng với nghệ thuật, nhưng cả 2 lần thi vào Học viện Mỹ thuật Vienna đều bị từ chối.
Điều này có thể đã để lại nhiều ấm ức trong lòng chàng trai trẻ.
Trong những năm sống lang bạc tại Vienna từ 1908 đến 1913,
thì cậu thanh niên trải qua cuộc sống nghèo khó và bắt đầu bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cực đoan,
nhất là phong trào bài do thái, vốn lan truyền mạnh mẽ trong xã hội lúc bấy giờ.
Đây cũng là giai đoạn quan trọng trong việc định hình lại hệ tư tưởng cũng như đường hướng chính trị sau này.
Khi Thế chiến thứ nhất nổ ra, Hitler đã tỉnh nguyện gia nhập quân đội Đức.
Sau khi chuyển đến Munich vào năm 1913, chàng trai trẻ nhiệt tình phục vụ cho quân đội Bavaria
với tư cách là người đưa tin tại mặt trận phía Tây.
Nhờ tinh thần quả cảm, Hitler đã nhận được cả hôn trương chữ thập sát hạng nhì
và sau đó là hôn trương chữ thập sát hạng nhất.
Anh phục vụ trong quân đội Đức gần như trong suốt cuộc chiến,
cho đến khi bị mù tạm thời do một cuộc tấn công bằng khí động vào tháng 10 năm 1918.
Sau chiến tranh, chàng thanh niên quay về Munich trong bối cảnh nước Đức đang rơi vào hỗn loạn vì thất bại,
khủng hoảng kinh tế và chính trị.
Tại đây, Hitler tham gia Đảng Công nhân Đức, một nhóm nhỏ theo tư tưởng dân tộc cực đoan
và sau này được đổi tên thành Đảng Quốc xã.
Với tài hùng biện và khả năng lôi quân đám đông, anh anh chóng vươn lên làm lãnh đạo của Đảng.
Cuộc đời chính trị của nhân vật này trở nên khởi sắc
từ vụ đảo chính nhà Beer tại Munich vào năm 1923.
Dù nó nhanh chóng tan vỡ và bản thân Hitler cũng bị bắt,
nhưng đây lại là một bước ngoặt quan trọng.
Trong 9 tháng bị giam tại nhà tù Landsberg,
Hitler đã viết quấn hồi ký cuộc đấu tranh của tôi để phác thảo hệ tư tưởng của mình.
Sau khi ra tù, ông đã tái xây dựng lại Đảng Quốc xã
và lợi dụng cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 để vươn lên.
Đến năm 1933, ông được bổ nhiệm làm thủ tướng Đức,
từ đó mở ra một kỷ nguyện đen tối cho châu Âu.
Khác với Hitler, Joseph Stalin sinh năm 1878
và xuất thân trong một gia đình nghèo khó ở Georgia,
một vùng đất thuộc đế quốc Nga thời bấy giờ.
Cha ông là thợ đóng giày, thường xuyên rượu chè và có xu hướng bạo lực.
Mẹ ông là một người phụ nữ sùng đạo với hy vọng con trai sẽ trở thành linh mục.
Stalin từng được học tại chủng viện Tiflis
nhưng nhanh chóng bị lôi cuốn bởi tư tưởng cách mạng Marxist
và từ bỏ con đường tôn giáo.
Ông gia nhập Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga từ rất sớm
và trở thành người theo chân tận tụy của Vladimir Lenin
sau khi đảng này bị chia thành hai phe là Bolshevik và Menshevik vào năm 1903.
Trong thời kỳ đế quốc Nga còn tồn tại,
ông hoạt động cách mạng với các bí danh khác nhau
và là người chuyên tổ chức các vụ cướp ngân hàng cũng như vận chuyển tài liệu cách mạng.
Dù không phải là nhà lý luận xuất sắc như Vladimir Lenin hay Leon Trotsky
nhưng Stalin lại tỏ ra có bản năng chính trị mạnh mẽ và sự kiên nhẫn hiếm thấy.
Sau cách mạng tháng 10 năm 1917,
ông giữ nhiều chức vụ trong bộ máy của chính quyền Soviet mới thành lập,
đặc biệt là vai trò tổng bí thư đảng Cộng sản từ năm 1922,
vị trí tưởng như thuần hành chính nhưng sau này đã trở thành bàn đạp quyền lực tối cao.
Sau khi Lenin qua đời vào năm 1924,
Stalin tiến hành một quá trình củng cố quyền lực kéo dài với quy mô lớn
khi lần lượt vô hiệu hóa các đối thủ chính trị,
bao gồm cả những nhân vật sáng giá như Trotsky, Bukharin hay Zinoviev.
Đến cuối thập niên 1920, ông đã kiểm soát gần như toàn bộ bộ máy nhà nước và đảng.
Dưới thời của Stalin, Liên bang Soviet tiến hành công nghiệp hóa quy mô lớn và tập thể hóa nông nghiệp.
Điều này đã gây ra nạn đói khủng khiếp và khiến hàng triệu người chết.
Theo sau đó là đại thanh trừng với quy mô và ảnh hưởng vượt xa tưởng tượng
khi nhiều tướng lĩnh và sĩ quan Hồng quân cũng bị thiệt mạng oan uổng.
Tính đến năm 1933, công nghiệp nặng đã vượt qua các mục tiêu đã đề ra
và tỉ trọng công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân tăng mạnh.
Mặc dù những cải tổ này góp phần đưa Liên Xô trở thành một thế lực công nghiệp và quân sự,
nhưng cái giá phải trả là cực kỳ lớn đối với xã hội Soviet nói chung.
Trong khi Mao Trạch Đông sinh năm 1893 tại làng Thiều Sơn tỉnh Hồ Nam,
lúc bấy giờ thuộc đại thanh.
Ông sinh ra cho một gia đình nông dân khá giả và tuổi nhỏ đã học chữ nhò,
nhưng lại bị hấp dẫn bởi những tư tưởng cải cách mới mẻ
sau cuộc cách mạng tân hợi năm 1911.
Mao cũng từng học tại trường sư phạm Hồ Nam,
nơi giúp ông tiếp cận các học thuyết chính trị hiện đại,
nhất là tư tưởng Marx và chủ nghĩa cộng sản.
Ban đầu ông là một cán bộ địa phương,
rồi từng bước vươn lên thông qua các chiến dịch tổ chức nông dân
và xây dựng căn cứ cách mạng ở nông thôn,
đều đi ngược lại với quan điểm cách mạng đô thị
của nhiều lãnh đạo cộng sản thời kỳ đầu.
Mao còn tham gia thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1921
và dần trở thành gương mặt trung tâm sau những biến cô lớn,
như cuộc vạn lý Trường Trinh từ năm 1934 đến năm 1935,
một cuộc rút lui mang tính sinh tử của lực lượng Hồng quân.
Sau đó, trong kháng chiến chống Nhật Bản,
nhân vật này đã tận dụng thời cơ mở rộng ảnh hưởng
và củng cố lực lượng ở các vùng nông thôn rộng lớn.
Đến khi thế chiến thứ hai kết thúc,
cuộc nội chiến quốc cộng lại bùng nổ
với chiến thắng thuộc về phe cộng sản.
Và vào năm 1949,
Mao tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
tại quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh.
Là chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc,
ông đóng vai trò quyết định trong nhiều chính sách
và chiến dịch làm thay đổi toàn bộ cấu trúc xã hội đại lục.
Đầu tiên là phong trào đại nhảy vọt
với mục tiêu công nghiệp hóa nông thôn
nhưng gặp thất bại nặng nề.
Sau khi gặp nhiều chỉ trích, Mao chạy đông tạm thời im lặng
và chờ thời cơ để phát động cách mạng văn hóa.
Đây là một thời kỳ cực kỳ hỗn loạn
gây ra những thảm cảnh khủng khiếp với người dân Trung Quốc.
Trong suốt sự nghiệp chính trị của mình,
ông luôn nhấn mạnh vai trò quần chúng nhân dân
và xem cách mạng là một quá trình liên tục.
Điều đó đã khiến cho không ít chính sách của nhà lãnh đạo này
mang tính cực đoan và gây tranh cãi sâu rộng.
Có thể thấy, mỗi người trong ba nhân vật khét tiếng kể trên
đều bước ra từ những hoàn cảnh khác biệt
mang theo dấu ấn sâu đậm của thời đại
và xã hội mà họ sống.
Nhưng dù mỗi người đi theo một con đường riêng
thì tất cả đều góp phần làm thay đổi cục diện thế giới
bằng máu và bạo lực.
Trong số đó, Adolf Hitler là người đặt
toàn bộ dự án chính trị của mình
lên một hệ thống phân loại chủng tộc rất khắt khe.
Trong thế giới quan của ông,
nhân loại không phải là một khối đồng nhất
mà bị chia thành những nước thang rõ ràng
với người Aryan, đặc biệt là người Đức
ở vị trí cao nhất.
Hệ tư tưởng này không phải là do ông sáng tạo ra
mà nó đã có sẵn trong không khí chính trị
xã hội châu Âu từ thế kỷ 19
với sự phát triển của thuyết yêu sinh,
học thuyết Darwin
và những chủ nghĩa bài Do Thái truyền thống.
Nhưng Hitler đã nâng nó lên
thành một hệ thống lý luận chính trị
kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc cực đoan
với niềm tin vào một chủng tộc thuần khiết.
Trong quan mắt của ông,
thế giới là chiến trường sinh tồn của các sống loài
và để dân tộc Đức sống còn
thì phải tiêu diệt những kẻ bị xem
là ký sinh trùng hay kẻ thù truyền kiếp.
Theo đó, người Do Thái
vừa bị xem là đối thủ tôn giáo và chính trị
vừa là căn nguyên cho mọi thảm họa
của nước Đức.
Từ thất bại trong thế chiến thứ nhất,
lạm phát, thất nghiệp cho đến
khủng hoảng đạo Đức.
Cùng với đó là hàng loạt nhóm khác đã bị liệt
vào danh sách cần xóa sổ như là
người Zigan, người Slaver,
người khuyết tật, đồng tính và cả những
trí thức, nhà hoạt động hay bất kỳ
ai có tư tưởng đối lập.
Tư tưởng chủng tộc của Hitler còn được
phản ánh trong tham vọng mở rộng lãnh thổ.
Ông tin rằng người Đức cần
không gian sống và vùng đất lý tưởng
nằm ở phía đông, nơi cư dân Slaver
bị coi là chủng tộc hạ đẳng.
Vì thế cuộc xâm lược Liên Xô năm 1941
bằng chiến dịch Barbarossa
vừa thể hiện tính toán chiến lược,
vừa là bước đi mang màu sắc thanh lọc chủng tộc
nhằm biến khu vực này thành vùng đất thuần
chủng cho dân tộc Đức. Trong thế giới
quan của Hitler, cái ác không được nhìn nhận
là điều cần tránh mà nó được biện minh
như một sự cần thiết của lịch sử.
Trái ngược với Hitler, Joseph Stalin
lại đặt niềm tin tuyệt đối vào
lý thuyết giai cấp.
Xô thân từ một đất nước phòng kiến sâu nặng,
ông đã tiếp cận chủ nghĩa Mark Lenin
không chỉ như lý luận, mà còn như một công cụ
để cải tạo xã hội tận gốc dễ.
Nhưng khác với Lenin còn để lại dư địa
cho sự thỏa hiệp, thì Stalin đã
chọn con đường cứng rán hơn, đó là
thanh chừng và kiểm soát.
Trong tư duy của nhà lãnh đạo này,
xã hội phải được thanh lọc khỏi mọi
tàn dư tư sản, mọi xu hướng hoài nghi
và mọi dấu hiệu phản bội tiềm tàng,
ngay cả khi chưa có bằng chứng rõ ràng.
Với ông, đấu tranh giai cấp
là cuộc chiến không hồi kết, mà bất cứ
ai có tư tưởng lệch khỏi đường lối
thì đều bị coi là kẻ thù.
Đây là lý do khiến Stalin tiến hành
cuộc đại thanh chừng từ năm 1936
đến năm 1938.
Từ chí thức đến tướng lĩnh,
từ đảng viên đến nông dân khá giả,
tất cả đều bị sử tử, bị đầy ải
hoặc bị biến mất không giấu vết.
Họ không phải kẻ thù theo kiểu truyền thống,
mà là kẻ thù giai cấp, những người lên tiếng
phản đối ông, trong đó có cả
Leon Trotsky, một đồng minh của Lenin
và là người có ảnh hưởng ở Liên Xô.
Chưa dừng lại ở đó,
Stalin còn thúc đẩy công nghiệp
hóa siêu tốc và tập thể hóa nông nghiệp
với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
vào năm 1928.
Về mặt hình thức thì những chính sách này là để
bảo vệ thành quả cách mạng, nhưng trên thực tế
chúng lại đẩy hàng triệu người vào tình cảnh
thiếu thốn, mất đất và thậm chí
là bỏ mạng.
Trường hợp của Mao Trạch Đông
lại là một diễn biến đặc biệt hơn.
Ông không bị ám ảnh bởi chủng tộc như
Hitler, cũng không theo đuổi mô hình giai cấp
cứng nhắc như Stalin, mà mang cho
mình một khát vọng thay máu toàn xã hội
Trung Hoa. Ông muốn đưa một đất nước
nạng truyền thống trở thành một hệ thống hoàn toàn
mới, nơi mọi thứ được sắp xếp lại từ
đầu, từ đất đai, cấu trúc gia đình
đến văn hóa, tư tưởng và
cả ký ức lịch sử.
Trong mắt của Mao, cải cách không phải là quá trình
chậm rãi từng bước, mà là những đợt
sống cách mạng liên tục, với mỗi đợt
đều có khả năng gột rửa và thay đổi tận gốc.
Ý tưởng
cải tạo xã hội được thể hiện rõ nét nhất
qua chủ nghĩa Mao thông qua phong trào
Đại nhảy vọt từ năm 1958
đến năm 1962, và
sau đó là cách mạng văn hóa từ năm
1966 đến năm 1976.
Trong Đại nhảy vọt,
Mao kỳ vọng biến Trung Quốc từ một
quốc gia nông nghiệp thành một nước công nghiệp hiện đại
chỉ trong vài năm. Đây là một tầm nhìn
lớn, nhưng lại dựa trên mô hình
tổ chức xã hội cực kỳ lạ thường
vì nó tiến hành hợp tác khóa hoàn toàn
luyện thép trong sân nhà, tổ chức
sản xuất tập thể mà bỏ qua nhiều yếu tố
thực tế. Không
dừng lại ở cải cách kinh tế, Mao
còn muốn cải tạo tư tưởng con người.
Ông tin rằng những tầng lớp như trí thức,
giáo viên và cả đảng viên lâu năm
nếu có biểu hiện tư sản, đều cần
được cải tạo thông qua đấu tranh. Đồng
thời, cách mạng văn hóa với mục đích xóa
bỏ 4 cái cũ đã trở thành một chiến dịch
lớn nhằm tẩy dừa ký ức cũ
và thay vào đó là sự trong sáng
của cách mạng mới.
Quy mô và cách thức tổ chức bạo lực
Trong thế kỷ 20,
Adolf Hitler, Joseph Stalin
và Mao Trạch Đông không chỉ định hình
lịch sử bằng quyền lực tuyệt đối, mà
còn gieo rắc những bi kịch nhân loại chưa
từng có về quy mô và tổ chức.
Đầu tiên, dưới sự lãnh đạo của
Adolf Hitler, chế độ quốc xã
tại Đức đã thực hiện một trong những cuộc diệt chủng
với quy mô lớn nhất trong lịch sử hiện đại
Ngay từ khi mới lên ám quyền
năm 1933, ông đã ban hành
hàng loạt sắc lệnh nhằm tước quyền công dân
của người Do Thái và các nhóm thiểu số khác.
Nổi bật nhất là đạo luật
Nuremberg ban hành vào năm 1935
nhằm phục vụ cho lý tưởng
về sự thuần khiết chủng tộc mà
Hitler theo đuổi.
Theo ước tính của Bảo tàng tưởng niệm nạn nhân
diệt chủng Mỹ, có khoảng 6 triệu người Do Thái
đã bị sát hại, bên cạnh hàng triệu
người Gigan, người khuyết tật, người đồng tính,
tù binh Liên Xô
và các nhà chính trị đối lập.
Họ bị sát hại trong các trại tập trung như Auschwitz,
Treblinka và Dachau.
Hơn nữa, đây còn là nơi thử nghiệm
công nghệ hóa việc giết người
với khí độc Zyklon B,
lò thiêu và dây chuyển xử lý thi thể.
Ngoài ra, nhà độc tài này
còn khởi xướng thế chiến thứ hai
Cuộc chiến đã cướp đi sinh mạng của 70-85 triệu người trên toàn cầu.
Trong đó, Fascist Đức đã gây ra
cái chết trực tiếp của khoảng 17 triệu người.
Cùng với đó,
chính sách không gian sống mà Hitler theo đuổi
cũng gây ra hàng loạt vụ thảm sát dân thường
ở các vùng như Ba Lan, Ukraine và Nga
với các đội biệt kích chuyên xử lý
bằng các cuộc hành quyết quy mô lớn.
Các chiến dịch như vụ thảm sát
Intelligent Aktion
và chiến dịch bình định đặc biệt AB
đã khiến hàng triệu người thiệt mạng.
Dù rất tàn bạo và để lại hậu quả nặng nề,
nhưng thời gian Hitler cầm quyền
chỉ kéo dài 12 năm
và bạo lực chủ yếu dồn vào thời kỳ chiến tranh
nên về mặt quy mô tổng thể
thì vẫn bị giới hạn so với những chế độ kéo dài lâu hơn.
Nếu bạo lực của Hitler thiên về thanh lọc sắc tộc
với cơ chế công nghiệp hóa
thì bạo lực dưới thời Joseph Stalin
lại mang một hình thức khác.
Đó là cuộc đại thanh trừng
thông qua bạo lực hành chính và chính trị.
Stalin tổ chức bạo lực
thông qua một mạng lưới kiểm soát chính trị
và hành pháp trải dài khắp Liên bang Soviet.
Một mặt, ông sử dụng công cụ pháp lý
như các chỉ thị của Bộ Chính trị
và xác lệnh của Ủy ban Nội vụ Nhân dân
gọi tắt là NKVD
đây là cơ quan tiền thân của Ủy ban Nhân dân
về an ninh quốc gia.
Mặt khác là các chiến dịch tuyên truyền định hướng
để huy động xã hội tham gia vào việc xác định
và xử lý phần tử nguy hiểm.
Theo các ước tính
tổng số nạn nhân của các chính sách dưới thời Stalin
giao động từ 7 triệu đến 20 triệu người
bao gồm những người ra đi trong các cuộc thanh trừng
nạn đói nhân tạo
và các trại lao động khổ dai.
Một trong những thảm kịch lớn nhất
là nạn đói Holodomor
làm cho 3,5 triệu đến 5 triệu người chết.
Nó kéo dài từ năm 1932
đến năm 1933 ở Ukraine
và là hệ quả của chính sách
tập thể hóa nông nghiệp
buộc nông dân phải giao nộp đất đai và sản phẩm
từ năm 1927.
Ngoài ra cuộc đại thanh trừng
cũng dẫn đến việc hành quyết
hoặc bỏ tù hàng triệu người
bao gồm các đảng viên cộng sản, sĩ quan quân đội, trí thức
và dân thường bị nghi ngờ
là kẻ thù của nhân dân.
Đáng chú ý là
bạo lực dưới thời Stalin
được tổ chức theo kiểu rất chặt chẽ
mang đậm tính quan liêu và tập trung quyền lực.
Cơ quan an ninh như NKVD
đóng vai trò trung tâm trong việc theo dõi,
bắt giữ và xử lý những ai bị xem là
đe dọa đến trật tự chính trị lúc bấy giờ.
Một phần quan trọng khác
là hệ thống trại lao động
không đơn thuần là để giam giữ
mà còn trở thành một phần trong guồng quay kinh tế của Liên Xô
nơi sức lao động được huy động đến mức tối đa.
Đặc biệt, Stalin
không chỉ nhắm đến việc loại trừ đối thủ chính trị
mà còn tạo ra một bầu không khí rẻ trừng
lan rộng khắp xã hội.
Nói về Mao Zedong,
trong bối cảnh Trung Quốc rộng lớn,
dân cư đông đúc và đa dạng văn hóa,
ông đã tổ chức bạo lực dưới hình thức
cách mạng quần chúng và sau đó
mở rộng sang các chiến dịch như phong trào tam phản
và ngũ phản.
Ở đây, bạo lực không đến từ cảnh sát bí mật
hay binh lính được lệnh mà từ chính người dân
khi họ bị khích lệ, dẫn dắt
và thậm chí ép buộc phải tham gia
vào các phong trào đấu tố, cải cách
và cách mạng.
Theo các ước tính của một số nhà sử học,
tổng số người ra đi dưới thời Mao có thể đạt
từ 40 triệu đến 55 triệu người,
phần lớn là do nạn đói trong cuộc đại nhảy vọt
và các cuộc thanh trừng trong cách mạng văn hóa.
Đầu tiên là trong phong trào cải cách dụng đất,
diễn ra vào cuối thập niên 1940 và đầu 1950,
với mục tiêu là thịch thu đất đai
từ địa chủ để chia lại cho nông dân nghèo,
thì hàng triệu địa chủ
và những người bị gán là phản động
đã bị đấu tố công khai, cha tấn,
thậm chí xử bán trước đám đông.
Theo nhiều tài liệu, số người thiệt mạng có thể lên
đến 5 triệu người cùng hàng triệu người khác
bị đưa đến các trại lao động.
Đến thời kỳ đại nhảy vọt,
một chiến dịch nhằm nhanh chóng công nghiệp hóa
và hiện đại hóa Trung Quốc đã dẫn đến
nạn đói tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại.
Bạo lực không diễn ra dưới dạng cưỡng bức cá nhân
mà mang tính hệ thống hóa chính sách,
khi người dân bị yêu cầu hợp tác hóa,
bỏ nhà cửa, đưa tài sản vào công xã,
nấu ăn tập thể và làm việc tập thể.
Do các chính sách kinh tế thiếu thực tế,
báo cáo sản lượng giả mạo
và việc trưng thu lương thực quá mức
đã khiến từ 20 triệu
đến 45 triệu người bỏ mạng vì đói
hoặc các bệnh liên quan.
Đỉnh cao của tổ chức bạo lực thời Mao
là cách mạng văn hóa.
Khi ông huy động cả một thế hệ thanh niên được gọi là
hồng vệ binh để thanh trường xã hội
Họ có thể tấn công các trí thức,
quan chức và bất kỳ ai bị coi là
đi ngược lại tư tưởng Mao chạch đông.
Hàng triệu người đã bị tra tấn,
bỏ tù, sát hại và hàng chục triệu
người khác bị bôi nhọ hoặc lưu đời.
Số liệu chính xác về nạn nhân
của cách mạng văn hóa rất khó xác định,
nhưng các ước tính cho rằng có từ 1 triệu
đến 2 triệu người đã thiệt mạng trong các vụ thảm sát
như Tháng 8 đỏ ở Bắc Kinh,
cũng như ở nhiều khu vực khác,
bao gồm Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam,
Hồ Nam, Nội Mông và Thanh Hải.
Tóm lại,
Hitler là người góp phần lớn nhất
trong việc khởi xương Thế chiến thứ 2,
mà trong đó, Fascist Đức đã gây ra
cái chết trực tiếp của khoảng 17 triệu người.
Con số này còn chưa tính đến xung đột,
nạn đói và bệnh tật.
Còn về Stalin,
thì đây là người gây nên những cái chết
thông qua đàn áp chính trị và thể chế xã hội,
khiến từ 7 triệu đến 20 triệu người
phải ra đi mãi mãi.
Cuối cùng là Mao chạch đông,
người chủ trương những chính sách kinh tế,
xã hội cực đoan đã tạo ra sự bất mát
lớn trong xã hội Trung Quốc với khoảng
40 triệu đến 55 triệu người thiệt mạng.
Cần phải lưu ý là
các số liệu thống kê này vẫn chỉ là ước tính
vì gần như không có hồ sơ nào
giải quyết được câu hỏi rằng chính xác
có bao nhiêu người chết dưới bàn tay sắt
của 3 nhân vật trên. Dù vậy,
xem trên góc độ phổ quát, nó vẫn phản ánh
những bất mát to lớn mà nhân loại phải chịu đựng
trong thế kỷ 20.
Hơn nữa, giữa mỗi người lại có
những chính sách khác biệt.
Ở nước Đức, Hitler quan tâm đến vấn đề sắc tộc
phát động chiến tranh để giành lãnh thổ
và thực hiện các hành vi diệt chủng.
Trong khi Stalin và Mao chạch đông
dành sự chú ý đến câu chuyện giai cấp
thay đổi hoàn toàn cơ cấu sản xuất
và cấu trúc xã hội trong nước,
từ đó dẫn đến nạn đói và rồi phải thanh trường hàng loạt
để củng cố nội bộ.
Nhưng dù thế nào đi chăng nữa thì không ai
có thể biện minh cho những hành vi bạo lực
chống lại người vô tội, bởi vì tất cả
các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng.
Dân tộc nào cũng có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Di sản và nhận thức hiện đại
Dù đã qua nhiều thập kỷ,
di sản và cách nhìn nhận về Adolf Hitler,
Josef Stalin và Mao chạch đông
vẫn là chủ đề được bàn luận sôi nổi trên toàn cầu.
Với Hitler thì thế giới có lẽ đã hình thành
một sự đồng thuận rõ rệt vì ông được coi như
biểu tượng tuyệt đối của cái ác.
Từ tội ác diệt chủng Holocaust,
chủ nghĩa fascist và chiến tranh xâm lược,
tất cả đều như những bản cáo chặng đanh thép
về lòng hận thù, chủng tộc cực đoan
và bạo lực hệ thống.
Không một chính phủ phương Tây nào công khai
bảo vệ di sản của đệ tam đế chế
và các biểu tượng quốc giã còn bị cấm
ở nhiều quốc gia châu Âu.
Còn Đức, trong suốt hàng chục năm sau
Thế chiến thứ 2 đã tiến hành các chương trình
giáo dục lịch sử nghiêm túc, đối diện thẳng thắn
với quá khứ và bồi thường cho các nạn nhân.
Ngoài ra, các phiên tòa Nuremberg
năm 1945 đến năm 1946
không chỉ xét xử các cá nhân
mà còn thiết lập nền tảng pháp lý
cho khái niệm tội ác chống lại loài người.
Kể từ đó đến nay, hàng loạt bộ phim,
sách báo và tài liệu đã không ngừng bóc trần
bản chất tàn bạo của chế độ quốc xã,
khiến di sản của Hitler mãi mãi trở thành
lời cảnh tỉnh nghiêm khắc nhất
của thế kỷ 20.
Ngược lại thì nhận thức về Joseph Stalin
lại phức tạp và đầy mâu thuẫn.
Trong giới học thuật quốc tế,
ông thường được mô tả là một nhà động tài sắt đá
gắn liền với những trang sử đẫm máu.
Nhưng tại nước Nga ngày nay,
hình ảnh của Stalin lại không chỉ như
một ác nhân lịch sử.
Nhiều người dân, đặc biệt là thế hệ lớn tuổi
vẫn nhớ đến ông như một vị lãnh tụ cứng rắn
người đã dẫn dắt Liên Xô vượt qua Thế chiến II
và biến đất nước thành một siêu cường công nghiệp.
Thay vì chỉ gắn với bạo lực và đàn áp,
Stalin trong ký ức của họ
còn là biểu tượng của kỷ luật,
sức mạnh quốc gia và niềm tự hào chiến thắng.
Theo một cuộc khảo sát năm 2019 của Trung tâm Levada,
một tổ chức thăm dò độc lập tại Nga,
thì có đến 70% người được khỏi cho biết
họ cảm thấy ngưỡng mộ
hoặc tôn trọng Stalin.
Còn Mao Trách Đông,
nhân vật để lại di sản tranh cãi nhất
cũng là trường hợp đầy nghịch lý.
Với việc khởi xướng các chiến dịch quy mô lớn
như đại nhảy vọt và cách mạng văn hóa,
Mao bị cho là đã gián tiếp hoặc trực tiếp
gây ra cái chết của hàng chục triệu người.
Tuy vậy, tại Trung Quốc hiện nay,
hình ảnh của ông không bị phủ nhận hoàn toàn
mà lại được định hình bởi một kết luận chính thức rằng
70% trong đó là công lao
và 30% là sai lầm.
Đây là một nỗ lực nhằm cân bằng
giữa việc bảo vệ tính chính danh của chế độ
và thừa nhận những tổn thất lịch sử.
Theo nghiên cứu đăng trên The China Quarterly
số tháng 6 năm 2016,
mặc dù nhiều người Trung Quốc hiện nay biết đến
những sai lầm trong cách mạng văn hóa,
nhưng phần lớn những nhận thức đó vẫn bị mang tính giới hạn.
Tác giả Patricia Thornton cho biết
ký ức về thời kỳ này là
ký ức có điều kiện,
tức là được phép nhớ trong phạm vi không đe dọa
tính chính danh của hệ thống hiện đại.
Còn trong giáo dục chính thống,
học sinh được dạy rằng, đại nhảy vọt
từng mắc phải một số thiếu sót,
nhưng Mao Trạch Đông vẫn là người đặt nền móng
cho một quốc gia độc lập, tự chủ và phát triển.
Điều này tạo ra một kiểu kể chuyện lịch sử
vừa thừa nhận tổn thất, vừa khẳng định thành quả,
từ đó giúp hàn gắn quá khứ
Nếu Adolf Hitler bị cộng đồng quốc tế
lên án một cách tuyệt đối và trở thành
biểu tượng vĩnh viễn của tội ác,
thì Joseph Stalin và Mao Trạch Đông
vẫn được một bộ phận không nhỏ dân chúng trong nước
nhìn bằng ánh mắt dung thứ, thậm chí là tôn dùng.
Sự khác biệt ấy không đơn thuần
là về vấn đề thông tin mà nằm ở chỗ.
Ai kiểm soát được lịch sử
thì sẽ kiểm soát được cách người ta nghĩ về quá khứ.
Và nếu như ở Đức,
có một tiến trình gọi là vượt qua quá khứ
với sự thành thật và dám đối mặt với quá khứ
thì ở Nga và Trung Quốc
quá khứ lại được tái nhìn nhận theo một cách khác.
Vậy theo các bạn, ai là người ác nhất trong thế kỷ 20?
Hãy để lại câu trả lời
ở phần bình luận bên dưới nhé!
Xin chào và hẹn gặp lại!
