12 THÀNH PHỐ CỔ NHẤT THẾ GIỚI CÒN TỒN TẠI: CỔ HƠN KIM TỰ THÁP, X.ÁC ƯỚP| Ghiền Địa Lý

ĐỒNG NAI TƯƠI ĐẸP
2K Người theo dõi
123 Lượt xem video·4 thg 11, 2025
Mời các bạn đến với hành trình khám phá những đô thị lâu đời nhất hành tinh, tại đó du khách có thể gọi taxi, uống cà phê, và dạo chơi ngay trên nền di sản của hàng ngàn năm lịch sử.
Và để bắt đầu chuyến phiêu lưu ấy, đừng vội nghĩ đến Rome hay Athens. Thành phố đầu tiên trong danh sách sẽ khiến bạn bất ngờ.
Cùng đón xem các bạn nhé!
Hãy nhìn quanh, thế giới hôm nay rực rỡ trong những công trình bằng thép, kính và ánh đèn neon.
Những siêu đồ thị mọc lên chỉ trong vài thập kỷ, cao ngút trời, như muốn thách thức cả vĩnh hàng.
Chúng ta thường nghĩ rằng chúng sẽ tồn tại mãi mãi, nhưng lịch sử thì không khoan nhượng đến vậy.
Những đế chế từng hùng mạnh giờ chỉ còn là cát bụi.
Những thủ đô từng sầm út bị dưng dậm nuốt chửng, bị sa mạc chôn vùi, chỉ còn lại tên trong sách sử.
Hầu hết các thành phố dù vĩ đại đến đâu đều có ngày tàn.
Tuy nhiên, có một nhóm thành phố đặc biệt đã phá vỡ quy luật đó.
Chúng không chết đi mà tiếp tục sống, thở và phát triển.
Quá khứ và hiện tại đan xen trong từng con phố, từng viên đá lát đường.
Hôm nay, tôi sẽ không giới thiệu những tàn tích lạnh lẽo mà mời các bạn đến với hành trình khám phá những đồ thị lâu đời nhất hành tinh.
Tại đó, du khách có thể gọi taxi, uống cà phê và dạo chơi ngay trên nền di sản của hàng ngàn năm lịch sử.
Và để bắt đầu chuyến phiêu lưu ấy, đừng vội nghĩ đến Rome hay Athens.
Thành phố đầu tiên trong danh sách sẽ khiến bạn bất ngờ ẩn mình giữa khu rừng rậm xanh mướt của Guatemala.
12. Flores, Guatemala, khoảng 900 năm trước công nguyên
Ẩn giữa mặt nước xanh thẳm của hồ Petén Itzá là một hòn đảo nhỏ, dịu dàng như bước ra từ bức tranh.
Đó là Flores, những con đường lác đá cuội, những ngôi nhà sơn màu pastel phản chiếu xuống là nước tĩnh lặng.
Bạn có thể đi bộ hết đảo chỉ trong 10 phút, đủ để tin rằng đây là một nơi sinh ra chỉ để nghỉ ngơi và ngắm hoàng hôn.
Nhưng bên dưới lớp sơn hiện đại kia là cả một pháo đài.
Trong lịch sử, nơi này mang tên Noche Petén là thủ đô kiên cố và là pháo đài cuối cùng của người Maya.
Hãy tua ngược thời gian về thế kỷ 16, khi quân đội Tây Ban Nha mang theo súng ống và ngựa chiến đã chinh phục gần như toàn bộ châu Mỹ,
đế chế Aztec sụp đổ, đế chế Inca tan rã. Nhưng vẫn còn một điểm sáng cuối cùng trên bản đồ là Noche Petén,
nơi mà những chiến binh Maya Itzá kháng cự đến cùng.
Được che trở bởi hồ nước sâu và rừng rậm dày đặc, họ đã trụ vững suốt gần 2 thế kỷ.
Chỉ đến năm 1697, pháo đài này mới thất thủ.
Gần 200 năm sau khi phần lớn châu Mỹ đã khuất phục, nơi đây vẫn kiều hãnh đứng vững, bức tường thành cuối cùng của nền văn minh Maya.
Ngày nay, du khách thường đến Flores như một trạm dừng chân trên đường đến kim tự tháp tì cao.
Nhưng nếu tĩnh ý, bạn sẽ nhận ra chính hòn đảo này mới là viên ngọc ẩn dấu.
Trên đỉnh đồi, nhà thờ công giáo được xây dựng ngay trên nền của một kim tự tháp Maya cổ.
Dưới những quán cà phê ven hồ, người dân nói rằng vẫn còn đó những nền móng của các đền đài xưa.
Và khi hoàng hôn đổ xuống mặt hồ, bạn đang ngắm cùng một khung cảnh mà các vị vua chiến binh Maya đã nhìn thấy gần bàng hình năm trước.
Từ một pháo đài ẩn trong rừng rậm, giờ hãy cùng tôi vượt qua đại dương, đến một pháo đài khác, lần này đối mặt với biển cả.
Số 11, Cadiz, Tây Ban Nha khoảng 1.100 năm trước công nguyên, cực nam của Tây Ban Nha, nơi địa chung hải gặp đại tây dương.
Hơn 3.000 năm trước, người Phoenicia từ vùng Lebanon ngày nay đã được mệnh danh là những nhà hàng hải vĩ đại nhất thời cổ đại.
Họ đã đong buồm đến tận đây, nhìn thấy giải đất mảnh mai vươn ra biển và lập tức hiểu đây là vị trí chiến lược của cả thế giới.
Họ đặt tên nơi này là Gardia, nghĩa là pháo đài, và kiểm soát toàn bộ lối ra vào những cây cột của Hercules, tức eo biển Gibraltar.
Kể từ đó, Cadiz chưa bao giờ ngủ. Suốt hơn 3.000 năm, nơi này vẫn là trái tim thương mại và hàng hải của Tây Ban Nha.
Đi rào ở Cadiz giống như bạn đang đào xuyên qua các lớp lịch sử.
Trên mặt đất, bạn thấy tường thành ven biển khổng lồ, từng chống cướp biển Barbary và hạp đội Anh.
Nhưng chỉ cần bước sâu xuống lỏng đất, bạn sẽ gặp một nhà hát La Mã Vĩ Đại bị quên lãng suốt hàng thế kỷ, chỉ được phát hiện tình cờ sau một vụ cháy vào năm 1980.
Điều đáng kinh ngạc nhất, người dân Cadiz không quá bận tâm về quá khứ ấy. Họ sống cùng lịch sử, trẻ em chơi bóng ngay dưới chân tường thành 2.000 năm tuổi.
Ngư dân vá lưới ở đúng nơi mà những con tàu Phoenicia từng rỡ bạc, thiếc và hương liệu.
Thành phố cảng sau 3.000 năm vẫn nhuộn nhịp, vẫn kiều hãnh và vẫn sống động như ngày đầu tiên.
Số 10. Lạc Dương, Trung Quốc
Khoảng 1.600 năm trước công nguyên, khi chúng ta nghĩ về các kinh đô cổ của Trung Quốc, tâm trí chúng ta thường nhảy ngay đến Bắc Kinh với Tử Cấm Thành hoặc Tây An với đội quân Đất Nung.
Nhưng Lạc Dương là một thành phố thường bị bỏ qua, lại có một lịch sử lâu đời và có lẽ còn mang một trọng trách nặng nẻ hơn.
Hãy nhìn vào bản đồ, Lạc Dương nằm ở đâu? Không phải bên biển mà ở chính giữa bản đồ, tại giao điểm quan trọng của sông Lạc và con sông Hoàng Hà vĩ đại.
Đối với các nhà địa lý và chất gia Trung Quốc cổ đại, vị trí chiến lược này là thiên hạ chi trung hay trung tâm của thế giới.
Đây là đồng bằng trung tâm, cái nơi tuyệt đối của nền văn minh Trung Hoa. Và các Hoàng đế biết điều đó,
quyền lực không chỉ đến Lạc Dương một lần mà là 13 triệu đại khác nhau đã chọn Lạc Dương làm kinh đô của họ.
Lịch sử của nó với tư cách là một trung tâm quyền lực bắt đầu một cách nghiêm túc vào khoảng năm 770 trước công nguyên với Nhà Đông Chu,
nhưng khu vực này đã là một khu định cư lớn của nhà thương từ 1.600 trước công nguyên.
Điều này có ý nghĩa gì? Nó có nghĩa là khi một triều đại sụp đổ thì triều đại tiếp theo,
sau khi thống nhất đất nước sẽ nhìn vào bản đồ và đi đến cùng một kết luận, quyền lực phải được đặt ở đây.
Họ sẽ xây dựng lại một kinh đô mới ngay trên đống cho tàn của cái cũ.
Qua hàng ngàn năm, các lớp thành phố trồng chất lên nhau tạo ra một gò đất khảo cổ khổng lồ,
một minh chứng vật chất cho sức hút địa lý không thể cưỡng lại của nơi này.
Lạc Dương đã là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của Trung Quốc trong phần lớn lịch sử cổ đại của nó.
Nó giống như việc London, Rome và Washington DC cùng tồn tại ở một nơi, được lựa chọn lặp đi lặp lại.
Nhưng quyền lực của đế quốc không chỉ được thể hiện bằng các cung điện, vốn đã bị phá hủy từ lâu.
Nó được thể hiện bằng một thứ còn bền vững hơn, đức tin.
Ngay bên ngoài thành phố hiện đại, dọc theo bờ sông Y là một trong những cảnh tượng ngoạn mục nhất trên trái đất, hang đá Long Mon.
Bắt đầu từ năm 493 s.c. khi Lạc Dương một lần nữa trở thành kinh đô dưới thời nhà Bắc Nghị,
các hoàng đế đã ra lệnh chạm khắc đức tin của họ trực tiếp vào vách đá vôi.
Công việc này tiếp tục trong 400 năm.
Kết quả, hơn 100.000 tượng Phật và các môn đệ của Ngài được tạc vào 1.400 hang đậu, quy mô của nó thật khó tin.
Một số bức tượng nhỏ bằng ngón tay cái của bạn, những bức khác thì khổng lồ.
Bức tượng vĩ đại nhất, đức Phật Vairocana, cao tới 17m, sừng sững nhìn xuống dòng sông với một nụ cười thanh thản bí ẩn.
Người ta nói rằng khuôn mặt của bức tượng này được mô phỏng theo nữ hoàng đế duy nhất của Trung Quốc, Võ Tắc Thiên, người đã tài trợ cho công trình.
Lạc Dương ngày nay là một đô thị công nghiệp hiện đại với hơn 7 triệu dân, diện tích 15.000 km2.
Thành phố nổi bật với các ngành sản xuất máy kéo, pin mặt trời và công nghiệp nặng.
Lạc Dương kết hợp hài hòa giữa di sản văn hóa cổ kính và phát triển đô thị hiện đại với hệ thống tàu cao tốc, tàu điện ngầm.
9. Varanasi, Ấn Độ, khoảng 1.000 năm trước công nguyên
Hãy chuẩn bị tinh thần, vì không có nơi nào trên trái đất giống như Varanasi, nằm bên bờ Tây của sông Hằng ở bang Uttar Pradesh.
Đây là một trong những nơi mãnh liệt, hỗn loạn và choáng ngợp nhất mà bạn có thể trải nghiệm.
Nhà văn Mark Twain đã từng viết một câu nổi tiếng,
Varanasi già hơn lịch sử, già hơn truyền thống, thậm chí còn già hơn cả truyền thuyết, và trong còn già gấp đôi tất cả cộng lại.
Mặc dù băng chứng khảo cổ vững chắc nhất cho thấy sự định cư liên tục ở đây bắt đầu từ khoảng 1.000 trước công nguyên,
khi bạn đứng ở đây bạn sẽ cảm thấy Mark Twain đã nói đúng.
Thành phố này còn được gọi là Kashi hay Banaras không hoạt động theo lịch của con người, nó hoạt động theo lịch của vũ trụ.
Nơi sự sống và cái chết gặp nhau là dòng sông Hằng thiêng liêng.
Đối với hàng trăm triệu tín đồ Hindu, sông Hằng là nữ thần Ganga và Varanasi.
Họ tin rằng là thành phố được sáng lập bởi chính thần Shiva, đây là nơi linh thiêng nhất trên trái đất.
Mục tiêu cuối cùng của nhiều tín đồ Hindu là được đến đây một lần trong đời.
Họ đến để tắm mình trong dòng sông Hằng linh thiêng, một hành động mà họ tin rằng sẽ gột rửa mọi tội lỗi của kiếp này và nhiều kiếp trước.
Và quan trọng hơn, họ đến đây để chết.
Tín ngưỡng Hindu cho rằng nếu một người được hỏa táng tại Varanasi và cho cốt của họ được giải xuống sông Hằng, họ sẽ đạt được Moksha, nghĩa là sự giải thoát.
Họ sẽ phá vỡ vòng luân hồi sinh tử bất tận. Điều này tạo ra một cảnh tượng không giống bất cứ nơi nào khác.
Cách tốt nhất để trải nghiệm nó là đi thuyền trên sông vào lúc bình minh.
Mặt trời mọc nhuộm đỏ dòng sông, dọc theo các gát, tức là hàng dặm bậc thang bằng đá dẫn xuống mặt nước.
Toàn bộ vòng đời của con người diễn ra một cách công khai.
Ở một gát, bạn sẽ thấy các tín đồ hành hương đang ngâm mình, cầu nguyện và tụng kinh.
Ở một gát khác, bạn thấy các nhà tu hành đang thiền định trong những tư thế phức tạp.
Người dân địa phương đang giặt rũ, trẻ em đang chơi đùa, trâu đang tắm.
Đó là một lễ hội ồn ào, rực rỡ của sự sống. Và chỉ cách đó vài bước chân là các giàn thiêu.
Rời khỏi bờ sông, thành phố cổ phía sau là một mê cung đúng nghĩa.
Đó là một mạng lưới say đặc, gồm những con hẻm hẹp, đến mức bạn có thể giang tay chạm vào cả hai bức tường, uốn lượn và xoắn suýt, dường như không có mục đích.
Bạn sẽ phải né một con bò thần đang đi lang thang, tránh một đám rước tàng lễ và lạc vào giữa hơn 2.000 ngôi đền.
Nổi bật nhất là đền Kashi Vishwanath, với mái vòm được mạ vàng thật dành riêng cho thần Shiva.
Varanasi không cố gắng để trở nên xinh đẹp hay thoải mái theo nghĩa du lịch thông thường.
Nó ồn ào và ô nhiếm, thành phố phô bày những khía cạnh cơ bản và nguyên thủy nhất của sự tồn tại, sự sống, cái chết và đức tin ngay trước mắt bạn.
Không có gì ngạc nhiên khi một thành phố này lại có thể tồn tại bền bỉ đến vậy.
Nếu Lạc Dương là biểu tượng cho quyền lực của con người, được xây nên bởi bàn tay và ý chí trần thế,
thì Varanasi lại là biểu tượng của niềm tin, nơi con người tìm thấy sự vĩnh cửu trong linh hồn.
Và giờ, hãy tưởng tượng một thành phố nơi hai sức mạnh ấy, quyền lực và đức tin va chạm, hòa quyện rồi bùng nổ với cường độ không tưởng.
Một thành phố bị chinh phục, phá hủy, tái sinh hàng chục lần mà vẫn kiên cường tồn tại.
Chào mừng đến với số 8, Jerusalem, Israel, khoảng 3.000 năm trước công nguyên.
Một thành phố ở sai chỗ, nhưng đúng thời đại.
Nhìn trên bản đồ, Jerusalem chẳng có gì đặc biệt, không nằm bên sông lớn như Ninh hay Hoàng Hà,
cũng không nằm trên tuyến thương mại sầm ốt ven biển.
Thế mà suốt 5.000 năm, con người vẫn liên tục chiến đấu, hy sinh, xây dựng và tái thiết nơi này.
Vì sao? Câu trả lời nằm ở một khái niệm rất đặc biệt, vùng đất tâm linh.
Jerusalem là mảnh đất thiêng đắt giá nhất hành tinh, nơi mà ba tôn giáo độc thần lớn nhất thế giới
là Do Thái Giáo, Kỳ Tô Giáo và Hồi Giáo cùng tuyên bố là trung tâm của vũ trụ mình.
Đây là nơi trời và đất gặp nhau, nơi niềm tin và quyền lực cùng tồn tại trong một không gian chỉ chưa đầy một cây số vuông.
Bên trong thành cổ có tường bao quanh, bạn như đang bước vào bảo tàng sống của lịch sử và đức tin.
Chỉ cần vài phút đi bộ, bạn đã có thể đứng trước bức tường phía tây,
tán tích còn xót lại của ngôi đền thứ hai của người Do Thái bị La Mã phá hủy năm 70 sau công nguyên.
Trong suốt hai thiên niên kỷ, nơi đây là điểm gần nhất với nơi trí thánh, nơi người Do Thái đến cầu nguyện,
đặt những mảnh giấy nhỏ ghi lời nguyện vọng vào các ké đá tin rằng tiếng nói của họ sẽ chạm tới Thượng Đế.
Từ đó dễ qua vài con ngõ chật hẹp, bạn sẽ bước lên con đường thương khó Via Dolorosa,
nơi các tín đồ tin rằng Chúa Giê-xu từng vác thập giá.
Con đường giờ là khu chợ Ả Rập nhộn nhịp, dẫn đến nhà thờ mộ thánh,
một nơi linh thiêng đến mức sáu nhánh kỳ tô giáo khác nhau cùng chia sẻ quyền kiểm soát
và cũng tranh cãi suốt hàng thế kỷ về từng viên đá, từng ngọn nến.
Rồi chỉ vài bước chân nữa, anh vàng rực rỡ sẽ đập vào mắt bạn là vòng đá.
Dome of the Rock, mái vòng bằng vàng lấp lánh trên đỉnh đồi, cạnh đó là nhà thờ Hồi giáo Al-Aqsa.
Với người Hồi giáo, khu vực Haram al-Sharif là nơi linh thiêng thứ ba trong Hồi giáo,
nơi nhà tiên tri Muhammad thăng thiên trong đêm huyền diệu.
Nhưng chính tại đây, theo truyền thống do Thái, cũng là núi đèn Temple Mount,
nơi từng đứng ngôi đền đầu tiên của Solomon và ngôi đền thứ hai của Herod.
Hai đức tin, cùng hướng về một nền máu duy nhất,
chính là tâm điểm địa lý của xung đột tôn giáo kéo dài hàng thiên niên kỷ.
Giê-ru-sa-lem đã bị phá hủy hoàn toàn ít nhất hai lần, bao vây 23 lần,
tấn công 52 lần, chiếm và tái chiếm 44 lần. Vậy mà kỳ diệu thay, thành phố vẫn tồn tại.
Chính sức nặng tâm linh khiến thành phố không thể bình yên, lại cũng chính là lý do khiến nó bất tử.
Từ người La-mã, Ba-tư, Ả-rập, Thập-tự-chinh, Út-tô-man cho đến Anh,
mọi đế chế đều muốn sở hữu thành phố, và không một tôn giáo nào có thể tư bỏ nó.
Giê-ru-sa-lem quá thiêng liêng để bị lãng quên, quá quan trọng để biến mất.
Và giờ, khi rời Giê-ru-sa-lem, thành phố của niềm tin và xung đột,
hãy cùng tiến về phía nam, đến một thành phố không bị tranh giành, vì đó nó chính là nơi thống trị.
Người Hy Lạp cổ đại gọi nơi này là Tepes, người Ai Cập hiện đại gọi là Luxor,
còn chúng ta có lẽ nên gọi nó là cỗ máy thời gian bằng đá lớn nhất thế giới.
Dọc theo dòng sông Ni màu mỡ, con người đã sinh sống ở đây liên tục hơn 4.000 năm.
Và vào thời kỳ Hoàng Kim của Ai Cập cổ đại, thời Tân Vương quốc từ năm 1550 đến 1070 trước công nguyên,
Tepes chính là trái tim của một đế chế toàn cầu. Từ nơi này, các pharaoh vĩ đại như Ramses II,
Tutankhamun và nữ hoàng Hatshepsut đã cai trị lãnh thổ trải dài từ Sudan đến tận Syria.
Sông Ni đối với người Ai Cập cổ đại là ranh giới giữa hai thế giới,
và thành phố Tepes được chia đôi bởi chính ranh giới ấy.
Bờ đông, nơi mặt trời mọc, là vùng đất của sự sống.
Đây là nơi các pharaoh trị vì, nơi thành phố Luxor hiện đại đứng sừng sững hôm nay.
Tại đây, họ xây dựng những ngôi đền khổng lồ để tôn vinh các vị thần và chính mình từ khi vẫn còn sống.
Trung tâm của thế giới đó là quân thể đền Karnak, thật khó để gọi nó là ngôi đền.
Đó là một thành phố linh thiêng, rộng hơn 100 hectare, được mở rộng bởi 30 pharaoh trong suốt 2.000 năm.
Và nếu bờ đông là nơi của sự sống, thì bờ Tây, nơi mặt trời lặn, lại là vùng đất của cái chết.
Khi các pharaoh ngừng xây kim tự tháp vì quá dễ bị cướp bóc, họ bắt đầu đào sâu vào núi đá xa thạch,
tạo nên một nghĩa trang bí mật trong thùng lũng khô cằn, đó chính là thùng lũng các vua.
Suốt hàng trăm năm, nơi này là nơi yên nghỉ của các pharaoh, ẩn mình dưới lòng đất.
Gần đó, thùng lũng các nữ hoàng và đền tàng lễ Hatshepsut đứng sừng sững giữa núi đá vừa uy nghi vừa tĩnh mịch như lời nhắn gửi của quá khứ.
Lúc so hiện đại là nơi quá khứ, và hiện tại sống cùng nhau, bạn có thể thấy một chiếc đĩa vệ tinh gắn trên mái nhà có khắc chữ tượng hình.
Hoặc một người nông dân mặc áo gala bea truyền thống, cưỡi lừa đi qua cánh đồng mía,
nơi hai bức tượng khổng lồ mem non 3.400 năm tuổi vẫn đứng trông chừng như những người gác đền của thời gian.
Lúc so tồn tại vì di sản của nó quá lớn để có thể biến mất.
6. Damascus, Syria khoảng 3.000 trước công nguyên.
Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi một thành phố không có các di tích vĩ đại như Lúc so hay các địa điểm thánh địa tối cao như Jerusalem?
Điều gì sẽ xảy ra nếu sự bất tử của nó chỉ đơn giản đến từ một thứ thực dụng hơn nhiều, vị trí, vị trí và vị trí?
Chào mừng đến với Damascus!
Cùng với Aleppo và Jericho, Damascus luôn là một trong những ứng cử viên nặng ký nhất cho danh hiệu thành phố được định cư liên tục lâu đời nhất trên thế giới.
Bằng chứng khảo cổ cho thấy, một thành phố thực sự đã tồn tại ở đây từ khoảng thiên niên kỷ thứ ba trước công nguyên,
nghĩa là nó đã chứng kiến 5.000 năm lịch sử không gián đoạn.
Hãy nhìn vào bản đồ.
Damascus nằm trên một cao nguyên, ngay dìa của san mạc Syria rộng lớn và khắc nghiệt.
Theo lô dịch thông thường, một thành phố lớn không nên tồn tại ở đây.
Thế nhưng, Damascus là một ốc đảo xanh tươi, màu mỡ một cách kỳ diệu và vị trí của ốc đảo này là một sự sắp đặt thiên tài của địa lý.
Trong hàng thiên niên kỷ, Damascus là một điểm ngẽn chiến lược cho thương mại.
Nếu đóng vai một thương nhân cổ đại, bạn muốn đi từ Ai Cập ở phía nam đến Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay ở phía bắc con đường an toàn nhất có nước uống sẽ dẫn bạn đi qua Damascus.
Nếu bạn muốn đi từ các đế chế lưỡng hạ Iraq ngày nay và Batu ở phía đông đến các cảng địa trung hải như Byblos hay Tire ở phía tây, bạn phải băng qua san mạc.
Và điểm dừng chân quan trọng nhất, nơi có nước, thức ăn và sự an toàn cũng chính là Damascus.
Mọi đoàn lựa hành đều phải đi qua đây. Nếu bạn muốn buồn bán, bạn phải trả phí ở Damascus.
Điều này biến nó thành một trong những thành phố thương mại giàu có và quan trọng nhất của thế giới cổ đại, một vị trí mà nó nắm giữ không phải trong vài thế kỷ mà là vài thiên nhiên kỷ.
Tất nhiên, sự giàu có đó thu hút những kẻ trình phục. Lịch sử của Damascus là một danh sách của những ai đã cai trị thế giới.
Người Aramean, người Assyria, người Babylon, người Ba Tư, Alexander Đại Đế, người La Mã, người Byzantine, tất cả họ đều đã chiếm hữu thành phố này.
Tất nhiên, chúng ta không thể nói về Damascus mà không nhắc đến bi kịch của cuộc nội chiến Syria gần đây.
Cuộc xung đột đã tàn phá nặng nề các vùng ngoại ô và gây ra sự tàn phá không thể kể xiết.
Du lịch gần như không thể thực hiện được trong nhiều năm và nhiều di sản đã bị đe dọa.
Tuy nhiên, linh hồn của Damascus, đặc biệt là khu thành cổ, vẫn kiên cường.
Bởi vì đây là một thành phố đã chứng kiến tất cả, bị người Mông Cổ dưới thời Tamerlane san bằng vào năm 1400,
bị các đội quân thập tự trinh bao vây, nơi đây đã sống sót qua mọi đế chế và luôn luôn hồi sinh.
Lý do rất đơn giản, con sông Barada vẫn chảy, ốc đảo Guta vẫn còn đó và vị trí chiến lược của thành phố trên bản đồ thế giới vẫn không thay đổi.
Chừng nào con người còn cần nước giữa sa mạc và một con đường để kết nối các châu lục, chừng đó Damascus vẫn sẽ tồn tại.
Số 5. Plovdiv, Bulgaria, khoảng 4.000 trước công nguyên
Nếu bạn nghĩ 3.000 năm của Damascus đã là cổ, thì Plovdiv sẽ khiến bạn troáng váng.
Nơi đây có người sinh sống từ 8.000 năm trước và đã là một thành phố liên tục có người ở suốt hơn 6.000 năm.
Điều đó khiến Plovdiv trở thành thành phố cổ nhất châu Âu còn tồn tại đến nay, già hơn Rome, Athens và cả Constantinople.
Vì sao lại là Plovdiv? Câu trả lời nằm ngay trên bản đồ.
Thành phố này được xây trên bảy ngọn đồi đá granite giữa đồng băng Terec-Chu-Phú và sông Maritsa-Hien Hoa,
vị trí mà thiên nhiên dường như tạo ra chỉ để trở thành ngã tư của thế giới.
Từ thời cậu đại, Plovdiv đã là pháo đài và điểm giao thương chiến lược,
nằm ngay trên tuyến Via Militaris, con đường La Mã huyền thoại nối châu Âu với châu Á.
Trong hàng ngàn năm, mọi đạo quân, thương nhân và nhà chuyên giáo muốn vượt từ Tây sang Đông đều phải đi qua đây.
Lịch sử của Plovdiv vì thế không trôi theo dòng, mà trồng lên nhau như một chiếc bánh ngàn lớp.
Từ người Trazian đầu tiên dựng thành cổ, đến Philip II của Macedon, cha của Alexander, đại đế, đổi tên nó thành Philippopolis.
Rồi người La Mã biến nơi đây thành đô thị tráng lệ với nhà hát La Mã tuyệt đẹp,
nơi giờ đây vẫn vàng lên tiếng opera và nhạc rock giữa những bậc đá 2.000 năm tuổi.
Sau đó là Byzantine, Bulgaria, Ottoman, rồi thời kỳ phục hương dân tộc Bulgaria rực rỡ sắc màu.
Ở Plovdiv, bạn không chỉ nghe kể về lịch sử, mà bước đi ngay trên đó.
Trên phố mua sắm hiện đại, chỉ cần nhìn xuống, bạn sẽ thấy sân vận động La Mã nằm sâu dưới chân.
Rẽ vào khu nghệ thuật Karpana, giữa những quán cà phê và xưởng thủ công, bạn đang đứng trên nền chợ Ottoman xưa,
mà bên dưới nữa là di tích của người Trazian.
Plovdiv là một cuốn sách lịch sử sống, mỗi trang sách lật sang một thời đại khác.
Sau hàng thiên niên kỷ, cuối cùng thế giới cũng công nhận điều đó, khi nó được vinh danh là thủ đô văn hóa châu Âu năm 2019.
Giống như Damascus, Plovdiv tồn tại bởi vì nó quá quan trọng để bị lãng quên, nằm ở ngã tư mà mọi đế chế đều phải đi qua.
Nhưng bây giờ, hãy cùng tôi đi xa hơn nữa, đến những thành phố mà tên của chúng còn cổ xưa hơn cả các đế chế,
những nơi tồn tại không nhờ quân đội hay thương mại mà nhờ phát minh đã thay đổi cả lịch sử loài người.
Số bốn, Argos, Hy Lạp khoảng 5.000 trước công nguyên.
Khi nhắc đến Hy Lạp cổ đại, bạn nghĩ đến đâu trước tiên?
Có lẽ là Athen, cái nôi của dân chủ, nơi chiết học tỏa sáng dưới bóng đền Parthenon.
Hoặc Sparta, vùng đất của những chiến binh thép, kỳ luật nghiêm ngặt và tinh thần không khuất phục.
Nhưng có một thành phố khác, ít được nhắc đến, lạng lẽ đứng bên lề lịch sử và tồn tại lâu hơn tất cả.
Chào mừng bạn đến với Argos.
Nằm giữa đồng bằng Argolis Phi Nhiêu ở bán đảo Peloponnese, Argos đã có người sinh sống liên tục suốt hơn 7.000 năm.
Khi những cư dân đầu tiên dựng nhà ở đây, kim tự tháp ghi ra còn chưa ra đời,
còn Athens và Sparta chỉ mới là ý niệm trong tương lai xa.
Argos trong thần thoại là quê hương của nữ thần Hera, của anh hùng Perseus, người chém đầu quái vật Medusa.
Nhà thơ Homer đã căng ngợi Argos trong Iliad gọi đây là một trung tâm quyền lực tư thù ở chiến tranh thành Toroa,
nghĩa là ngay cả thời cổ đại của người Hy Lạp, Argos đã là cổ đại rồi.
Tại sao Argos vẫn sống, trong khi Athens và Sparta đã tàn lui? Câu trả lời nằm ở sự vừa đủ của nó.
Argos giàu có, được bảo vệ tự nhiên nhưng không quá hùng mạnh để trở thành mục tiêu bị tiêu diệt, nó không thống trị cũng không bị hủy diệt.
Từng đế chế như Lama, Byzantine, Ottoman đều đi qua nhưng Argos vẫn còn đó kiên cường và hữu dụng.
Ngày nay, Argos trông quá đổi bình thường, người dân vẫn uống cà phê frappé trong quảng trường,
than phiền về kinh tế và hái cam, ép dầu ô liu như bao thế hệ trước.
Nhưng nếu bạn ngẩn đầu lên, pháo đài Larissa vẫn xứng xứng,
từng lớp tường của Mycena, Byzantine, Frank và Ottoman trồng lên nhau.
Ngay dưới chân đồi là nhà hát cổ chứa được 20.000 người làm minh chứng cho thời Hoàng Kim đã qua.
Và giờ, từ vùng đất của thần thoại và sự kiên cường ấy, hãy cùng tôi ra khơi đến một thành phố nhỏ ven biển,
nơi một ý tưởng duy nhất đã thay đổi mãi mãi lịch sử nhân loại.
Số 3. Byblos, Libang, khoảng 5.000 trước công nguyên.
Hãy thử phóng tầm mắt ra bờ biển hẹp của Libang nơi những ngọn sóng địa trung hải vỗ vào vách đá bạc màu thời gian.
Ngay phía bắc thủ đô Beirut, bạn sẽ gặp Byblos hay Djebei theo tiếng Ả Rập, một thị trấn càng nhỏ đẹp như tranh vẽ,
một trong những ứng cử viên sáng giá nhất cho danh hiệu thành phố lâu đời nhất thế giới.
Các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu tích của cư dân đầu tiên sinh sống ở đây cách nay 7.000 năm,
và điều kỳ diệu là Byblos chưa từng bị bỏ hoang kể từ đó.
Vì sao một nơi nhỏ bé như vậy lại trường tồn qua hàng thiên niên kỷ?
Câu trả lời nằm ở hai báu vật mà thiên nhiên ban tặng, gỗ tuyết tùng và vị trí địa lý hoàn hảo.
Libang xưa kia được bao phủ bởi những rừng tuyết tùng hùng vĩ.
Trong thế giới cổ đại, đây là loại gỗ quý nhất, bền, nhẹ, thơm và không mục nát.
Những pharaoh ở Luxor thuộc Ai Cập cổ đại từng khao khát gỗ tuyết tùng để đóng tàu, xây đền và chứng minh quyền lực.
Và Byblos chính là câu nối giữa hai nền văn minh.
Nhờ vị trí nằm sát biển, đây trở thành cảng quốc tế đầu tiên trong lịch sử,
nơi những khúc gỗ tuyết tùng được chết lên tàu và trôi về phương Nam,
còn những món hàng kỳ lạ từ Ai Cập lại cập đến phương Bắc.
Trong đó, quý giá nhất là dây cói papyrus, công nghệ viết tiên tiến nhất của thời ấy.
Người Ai Cập độc quyền sản xuất dây cói, còn Byblos lại là trạm trung truyền lớn nhất của địa trung hải.
Người Hy Lạp mua nhiều đến mức họ gọi chính vật liệu đó là Byblos.
Và khi những cuộn giấy cói ấy được đóng lại thành sách, chúng được gọi là Biblia hoặc Bible.
Nói cách khác, Kinh Thánh nghĩa là cuốn sách đến từ Byblos.
Khoảng năm một nghìn trước công nguyên, nếu bạn là một thương nhân ở Byblos,
bạn đang sống giữa ngã tư của các nền văn minh.
Người Ai Cập dùng chữ tượng hình, người Lưỡng Hà dùng chữ hình nêm, cả hai đều cực kỳ phức tạp.
Bạn không thể mất cả thập kỷ để học viết hợp đồng hay ghi hóa đơn gỗ.
Thế là người Phoenicia ở Byblos đã tạo ra một cuộc cách mạng.
Thay vì mỗi ký hiệu cho một từ, họ dùng một ký hiệu cho một âm thanh.
Chỉ với 22 ký hiệu, họ có thể ghi lại mọi thứ.
Đó chính là bảng chữ cái đầu tiên trên thế giới, tổ tiên của chữ Hy Lạp, chữ Latin
và cả bảng chữ cái bạn đang đọc hôm nay.
Một phát minh dân chủ hóa trí thức, mở đường cho thương mại, khoa học và văn minh hiện đại.
Ngày nay, Byblos là nơi quá khứ và hiện tại giao hòa.
Cảng cổ vẫn sôi động, nhưng thay vì tàu buồn gỗ tuyết tùng,
bạn sẽ thấy du thuyền trắng muốt và nhà hàng hải sản.
Trên đồi, lâu đài thập tự trình sừng sững giữa những lớp tản tích Ba Tư, La Mã và Ai Cập cổ.
Chỉ cần đứng một chỗ, bạn có thể nhìn thấy 5.000 năm lịch sử xếp trồng lên nhau.
Số 2, Aleppo, Syria, khoảng 5.000 năm trước công nguyên.
Nếu Damascus là trái tim hành chính của Syria cổ thì Aleppo hay Halab chính là linh hồn thương mại của phương Bắc.
Các nhà khảo cổ phát hiện dấu vết cư trú liên tục ở đây suốt 7.000 năm
và Aleppo trở thành một trong những thành phố lâu đời nhất thế giới.
Vị trí của Aleppo là định mệnh, hãy nhìn bản đồ vùng lưỡi liềm màu mỡ, cái nôi của văn minh nhân loại.
Aleppo nằm đúng điểm giao giữa hai tuyến thương mại vĩ đại kéo dài từ Bắc đến Nam, từ Thổ Nhĩ Kỳ xuống Lưỡng Hà.
Và quan trọng hơn, điểm cuối của con đường tơ lụa.
Những đoàn lữ hành từ Ba Tư, Trung Á sau khi vượt qua sa mạc khắc nghiệt đều dưng chân ở Aleppo,
thành phố giàu có, an toàn và nhộn nhịp đầu tiên trước khi hàng hóa được chuyển tới địa trung hải.
Nếu Damascus là ốc đảo của sa mạc thì Aleppo là cánh cổng thương mại của thế giới.
Nổi bật nhất là thanh cổ Aleppo, một pháo đài hùng vĩ sừng sững trên ngọn đồi cao gần 50 mét,
dưới lớp tường thành Hồi giáo Trung Cổ là đền La Mã, sâu hơn nữa là pháo đài Hy Lạp, rồi đến ngôi đền Aramean cổ xưa.
Mỗi lớp đất, mỗi viên đá ở đây đều kể một chương khác nhau trong cuốn biên niên sử kéo dài hàng nghìn năm.
Không xa đó là khu chợ có mái tre lớn nhất và cổ nhất thế giới, Souq al-Madinah.
Suốt nhiều thế kỷ, nơi đây từng là ngã tư thương mại của toàn cầu, luộn từ Trung Hoa,
gia vị từ Ấn Độ và bạc từ châu Âu cùng hội tụ.
Giữa mê cung hẹp của những con hẻm, tiếng mặc cả rộn rã, mùi xà phòng ô lưu thoang thoảng
và tiếng búa đập vào kim loại vang lên lanh canh,
tất cả hòa quyện thành nhịp tim của Aleppo đã đập suốt hàng ngàn năm không ngừng nghỉ.
Rồi bi kịch đến, cuộc nội chiến Syria biến Aleppo thành biểu tượng của nỗi đau.
Từ năm 2012 đến 2016, thành phố hứng chịu những trận giao tranh khốc liệt,
thành cổ bị phá hủy, tháp nghìn năm của đại thánh đường Umayyad sụp đổ, khu chợ Sokan Madina cháy rụi.
Nhưng nếu nghĩ rằng Aleppo đã chết, thì đó là sai lầm.
Suốt lịch sử, thành phố này đã nhiều lần bị xóa sổ và tái sinh.
Người Mông Cổ, Tamerlane, động đất không gì có thể dập tắt được nó.
Chắc chắn giữa đống đổ nát, những người thợ thủ công lại quay về,
quét dọn, mở lại từng cửa hàng, từng xưởng nhỏ.
Bởi linh hồn thương mại 7.000 năm của Aleppo chưa bao giờ rời bỏ nơi này.
Và giờ, hãy chuẩn bị cho bước nhảy ngược thời gian vĩ đại nhất,
đến nơi mà ý tưởng về thành phố lần đầu tiên ra đời.
1. Jericho, bờ Tây khoảng 9.000 năm trước công nguyên.
Đây chính là thành phố cổ nhất thế giới vẫn còn người sinh sống liên tục cho đến ngày nay.
Jericho nằm ở bờ Tây West Bank, vùng đất giữa Israel và Jordan gần biển chết.
Dù ngày nay khu vực này thuộc lãnh thổ Palestine,
nhưng nó vẫn là một vùng tranh chấp phức tạp.
Nhưng vượt lên mọi danh giới, Jericho là biểu tượng của sự khởi đầu.
Hãy thử tưởng tượng, khi những người đầu tiên dựng nhà ở đây khoảng 9.000 năm trước công nguyên,
thì kim tự tháp ghi ra còn chưa được nghĩ tới, chữ viết Sumer chưa ra đời,
và phần lớn nhân loại vẫn đang săn vòi ma mút giữa kỷ bang Hà vừa kết thúc.
Thế mà, giữa vùng sa mạc Judea khô cháy,
một nhóm người đã quyết định xây dựng bức tường bảo vệ đầu tiên trong lịch sử loài người.
Đó là tuyên ngôn của một xã hội có tổ chức, nơi có người lãnh đạo, có thợ xây,
có thẳng dư và quan trọng hơn hết, có ý niệm về chúng ta bên trong tường thành,
đối lập với thế giới hoang dã bên ngoài.
Cùng lúc, họ còn dựng nên một tháp đá cao gần 9 mét, được coi là tòa cao ốc đầu tiên của nhân loại,
xuất hiện hàng thiên niên kỷ trước Stonehenge.
Dù các nhà khảo cổ vẫn tranh cãi về mục đích thật sự của nó là phòng thủ, thiên văn hay tôn giáo,
thì thông điệp đã rõ, con người biết hợp tác để tạo ra những điều vượt lên chính mình.
Khi Kinh Thánh kể về Joshua và bức tường Jericho sụp đổ khoảng 1.400 trước công nguyên,
thì thành phố này đã 7.000 năm tuổi.
Những bức tường đồ đá ban đầu đã bị trôn vùi dưới vô số lớp cư trú mới
như những trang sách trồng chất lên nhau qua thời gian.
Jericho, nói cách khác, đã cổ xưa ngay cả trong ký ức của người cổ đại.
Ngày nay, nếu bạn đứng trên tu viện cắm rỗ nhìn xuống từ vách đá,
một bên là Jericho hiện đại, bên kia là Tel Es Sutan,
gò đất tưởng trưng tâm thương nhưng ẩn chứa 11.000 năm lịch sử loài người.
Jericho không chỉ là thành phố đầu tiên, nó là nơi con người học cách hợp tác, xây dựng, bảo vệ và mơ ước.
Từ một ốc đảo nhỏ giữa sạ mạc, Jericho đã trở thành chứng nhân của toàn bộ hành trình nhân loại
từ săn bắt hái lượm đến đồng nghiệp, từ ngôi làng đầu tiên đến ý niệm về xã hội.
Và đó là hành trình khám phá 12 thành phố cổ xưa nhất thế giới,
những nơi mà quá khứ vẫn song hành cùng hiện tại, nơi con người sống ngay trên nền của hàng nghìn năm lịch sử.
Nếu bạn cũng yêu những hành trình như thế, hãy để lại bình luận chia sẻ cảm nhận của mình.
Nhấn like và subscribe để cùng khám phá thế giới với từng câu chuyện, từng thành phố, từng dấu vết của thời gian.
Xin chào và hẹn gặp lại!
