Tin Học 11 - Bài 1: Hệ điều hành

IT-Master
1 Người theo dõi
50 Lượt xem video·28 thg 11, 2025
Các bạn có nhu cầu tải về file powerpoint của bài giảng vui lòng liên hệ Zalo 0905234348. Phí 30k/bài hoặc 500k/lớp.
Chào mừng các bạn đến với chương trình hướng dẫn học tiên học lớp 11. Chúng ta đi vào bài đầu tiên, bài 1 của chủ đề 1, hệ điều hành.
Bài học này chúng ta sẽ học những gì?
Thứ nhất là chúng ta sẽ tìm hiểu về lịch sử phát triển của hệ điều hành dành cho máy tính ca nhân.
Tiếp theo là chúng ta sẽ học về đặc điểm của hệ điều hành dành cho thiết bị di động
và mối quan hệ giữa 3 thành phần cơ bản trong một máy tính ca nhân, phần cứng, phần mềm ứng dụng và hệ điều hành.
Chúng ta đi vào bài học.
Thời buổi công nghệ phát triển thì cuộc sống của chúng ta không thể thiếu các thiết bị máy tính như laptop, máy tính để bàn, điện thoại thông minh, máy tính bản v.v.
Tất cả những thiết bị này gọi chung là thiết bị máy tính.
Chúng ta đã học về phần cứng của các thiết bị máy tính này rồi, đã sử dụng những phần mềm ứng dụng trên các thiết bị này.
Tuy nhiên trong các thiết bị máy tính này, nó còn có một thành phần rất là quan trọng nữa, đó chính là hệ điều hành.
Thế hệ điều hành là gì và tại sao chúng ta lại cần phải có hệ điều hành trên các thiết bị máy tính này?
Bài học này chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu hết.
Chúng ta đi vào nội dung của bài học.
Phần 1. Lịch sử phát triển của hệ điều hành máy tính ca nhân.
Hệ điều hành là gì?
Hệ điều hành tiếng Anh người ta gọi là Operating System.
Đó là một cái phần mềm quản lý và điều khiển máy tính nha.
Đây ha.
Cũng là một cái phần mềm máy tính.
Vậy cái hệ điều hành nó khác những cái phần mềm máy tính khác ở chỗ nào?
Nó khác ở cái chức năng nha.
Chức năng của hệ điều hành.
À, nó có gì đặc biệt?
Chức năng của hệ điều hành bao gồm quản lý tất cả các cái phần cứng của máy tính.
Người ta gọi chung là quản lý thiết bị.
Rồi quản lý những cái dữ liệu lưu trữ trên máy tính.
Quản lý giao diện, tức là tương tác giữa người dùng với máy tính.
Quản lý các cái phần mềm ứng dụng cài đặt trên máy tính.
Cũng như là cung cấp nhiều các cái tiền ít khác nữa ha.
Trước hết là quản lý thiết bị.
Quản lý thiết bị ở đây là các cái thiết bị máy tính như là bàn phím, chuột, ổ đĩa, CPU, bộ nhớ, bàn hình, các thiết bị vào ra, v.v.
Hệ điều hành nó quản lý bằng cách nào?
Ví dụ chúng ta muốn chạy một cái phần mềm như là phần mềm soạn thảo văn bản trên máy tính.
Thì hệ điều hành nó sẽ cấp tài nguyên bằng phím để chúng ta nhập các cái dòng văn bản vào.
Rồi nó sẽ cấp tài nguyên bộ nhớ để lưu trữ các cái dòng văn bản này.
Nó sẽ cấp tài nguyên bằng hình để mà hiển thị các cái dòng văn bản này ra, v.v.
Đây là cách cái hệ điều hành nó quản lý cái thiết bị phần cứng hết.
Thứ hai là quản lý dữ liệu.
Các cái dữ liệu được lưu trữ trong máy tính như là các cái dòng văn bản, các cái hình ảnh, các cái âm thanh, v.v.
Tất cả những cái dữ liệu này sẽ được lưu trữ trong máy tính dưới dạng các cái tẹp tiên nha.
Ví dụ như là dòng văn bản thì nó sẽ được lưu trữ trong các cái tẹp tiên văn bản.
Hình ảnh thì được lưu trữ trong các cái tẹp tiên hình ảnh.
Âm thanh thì được lưu trữ trong các cái tẹp tiên âm thanh.
Và các cái tẹp tiên này sẽ được chứa trong các cái thư mục nha.
Thì đây là cách mà hệ điều hành nó tổ chức và lưu trữ các cái dữ liệu.
Người ta gọi chung là quản lý dữ liệu.
Chức năng thứ ba là quản lý giao diện.
Giao diện ở đây tức là cái môi trường giao tiếp hay là cái cách thức con người giao tiếp với máy tính, cách thức con người ra lệ điều khiển máy tính.
Người ta gọi là giao diện.
Ví dụ hệ điều hành nó sẽ cung cấp cho chúng ta một cái môi trường như thế này.
Và để điều khiển máy tính, chúng ta chỉ cần gõ vào cái dòng lệ như thế này.
Thì đây là một cái giao diện.
Hay là hệ điều hành nó cung cấp cho chúng ta một cái cửa sổ này.
Và để giao tiếp với máy tính, chúng ta sẽ click chuột vào các cái biểu tượng ở đây.
Đây cũng là một cái giao diện.
Hoặc là giao diện trên cái thiết bị điện thoại thông minh.
Chúng ta muốn chạy các cái ứng dụng trên này, chúng ta chỉ cần chạm vào các cái biểu tượng đây.
Thì đây cũng là một dạng giao diện.
Hệ điều hành nó sẽ cung cấp cho chúng ta những cái giao diện như thế này để chúng ta giao tiếp với máy tính.
Thứ tư là quản lý phần mềm ứng dụng.
Ví dụ, cùng một lúc chúng ta có thể soạn thảo văn bản với cái phần mềm Word,
vừa truy cập Internet với cái trình duyệt Google Chrome, vừa nghe nhạc với phần mềm Windows Media Player.
Thế thì làm sao mà cùng một lúc máy tính nó có thể thực thi được 3 cái ứng dụng như thế này mà không gây ra xung đột hay là chồng lắng?
Đó là nhờ có hệ điều hành.
Hệ điều hành nó sẽ sắp xếp cái ứng dụng nào được chạy trước, ứng dụng nào chạy sau, ứng dụng nào được chạy song song cùng lúc.
Nó sẽ điều phối cái tài nguyên phần cứng mà được cung cấp cho các ứng dụng.
Đảm bảo là tất cả ứng dụng đều có được cái tài nguyên mà nó cần và khi nào sẽ được cấp.
Tất cả những công việc đó là do hệ điều hành nha.
Và công việc đó người ta gọi là quản lý phần mềm ứng dụng.
Ngoài những chức năng này thì bên trong hệ điều hành còn có một số các cái tiện ích giúp năng cao hiệu quả sử dụng máy tính như là tiện ích định dạng đĩa, nán tệt, kiểm tra lỗ ổ đĩa, cấu hình cái nối mạng v.v.
Như vậy là chúng ta đã hiểu được cái hệ điều hành là gì và các chức năng của nó.
Tiếp tục chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu các cái giai đoạn phát triển của hệ điều hành nha.
Bởi vì đây là cái máy tính cá nhân nên cái tiêu chí để xây dựng hệ điều hành là phải thân thiện và dễ sử dụng.
Do đó các cái giai đoạn phát triển của hệ điều hành đều xoay quanh cái tiêu chí này.
Giai đoạn đầu thì hệ điều hành được tạo ra nó có dạng như thế này.
Cái này người ta gọi là giao diện dòng lệ.
Tức là chúng ta muốn điều khiển hay là ra lệ cho máy tính thì chúng ta sẽ nhặt vào một cái dòng lệ như thế này.
Giai đoạn tiếp theo thì hệ điều hành sử dụng cái giao diện đồ họa.
Giao diện đồ họa nó như thế này, gồm có các cái cửa sổ và các cái biểu tượng.
Chúng ta muốn ra lệ hay điều khiển máy tính chúng ta sẽ dùng chuột và nháy chọn vào các cái biểu tượng này.
Chúng ta thấy cái giao diện đồ họa nó đẹp hơn, nó thân thiện hơn và dễ sử dụng hơn rất nhiều so với cái giao diện dòng lệ.
Đỉnh cao của cái giai đoạn phát triển của hệ điều hành chính là sự ra đời của một cái cơ chế gọi là cơ chế Plug & Play, tức là cắm vào là chạy.
Cắm vào là chạy có nghĩa là sao?
Những cái thiết bị ngọi vi như là bàn tiếng, chuột, máy in, máy ảnh, camera v.v.
Khi chúng ta cắm vào máy tính là chúng ta có thể sử dụng được các cái thiết bị đó ngay hết.
Rất dễ và rất thân thiện.
Bởi vì trước khi có cái cơ chế này thì các cái thiết bị ngọi vi khi kết nối vào máy tính muốn sử dụng chúng ta phải cài đặt cái phần mềm điều khiển thiết bị.
Người ta còn gọi là các driver hết.
Còn bây giờ khi có cái cơ chế này rồi thì các cái công việc đó hệ điều hành nó sẽ làm thay cho chúng ta.
Do đó chúng ta chỉ cần cắm vào là chạy hết.
Và cái hệ điều hành dành cho máy tính cá nhân được sử dụng phổ biến nhất hiện nay phải kể đến cái hệ điều hành Windows của hãng Microsoft.
Và các cái giai đoạn phát triển của hệ điều hành Windows nó sẽ gồm có các cái giai đoạn như sau.
Đầu tiên là phiên bản Windows 1 ra đời 1985.
Giao diện nó như thế này.
Đây là cái phiên bản Windows đầu tiên có cái giao diện đồ họa.
Tiếp theo là Windows 3 ra đời 1990.
Đây là giao diện của Windows 3.
Và cái đặc điểm nổi trội của Windows 3 là chế độ đa nhìn.
Tức là nhiều chương trình có thể chạy cùng một lúc.
Tiếp theo là Windows 95.
Giao diện nó như thế này.
Đặc điểm nổi bật của Windows 95 là có sự xuất hiện của cái menu start.
Menu start này ha.
Và cái cơ chế plug and play nó cũng ra đời ở cái phiên bản này.
Tiếp theo là phiên bản Windows XP.
Windows XP sử dụng cái bộ xử lý 64-bit.
Nó làm tăng cái tốc độ xử lý của máy tính lên đáng kể ha.
Sau đó là Windows 7.
Windows 7 thì chủ yếu tập trung vào cái tính an toàn và ổn định của hệ điều hành.
Sau Windows 7 là Windows 8.
Windows 8 nó có cái đặc điểm đặc biệt là nó có hỗ trợ màn hình cảm ứng nha.
Tiếp theo là Windows 10.
Windows 10 thì chủ yếu là giao diện đẹp và tối ưu.
Và cuối cùng là Windows 11.
Windows 11 nó có đặc điểm đặc biệt là có thể sử dụng cho cả máy tính và thiết bị di động nha.
Rồi như vậy là chúng ta đã đi sơ lược qua các cái giai đoạn phát triển cũng như là các cái phiên bản của hệ điều hành Windows.
Một cái hệ điều hành mà được sử dụng gần như là phổ biến nhất trên máy tính ca nhân ha.
Tiếp theo chúng ta sẽ tìm hiểu thêm một cái hệ điều hành nữa cũng được sử dụng khá phổ biến trên máy tính ca nhân.
Đó là hệ điều hành Linux.
Đặc điểm của hệ điều hành này là nó có nguồn gốc từ cái hệ điều hành Unix nha.
Do có nguồn gốc từ Unix nên Linux nó cũng thừa hưởng nhiều cái đặc điểm của hệ điều hành này.
Ví dụ như là đa nhiệm, đa người dùng.
Đa nhiệm tức là nhiều chương trình có thể chạy cùng một lúc.
Đa người dùng tức là nhiều người có thể sử dụng và làm việc trên cái hệ điều hành này cùng lúc.
Linux cũng là một cái hệ điều hành mã nguồn mỡ nha.
Hệ điều hành mã nguồn mỡ tức là hệ điều hành mà bất cứ ai cũng có thể vào đọc cái mã nguồn của hệ điều hành và có thể gốc sức xây dựng và phát triển cái hệ điều hành đó.
Linux thì được sử dụng nhiều trên các cái máy tính ca nhân. Nó cũng có thể được sử dụng trên máy chủ và thiết bị di động.
Và các cái phiên bản của Linux gồm có Red Hat ra đời năm 1994.
Đây, giảo diện của Red Hat ha.
SUSE ra đời năm 1996.
Ubuntu ra đời năm 2004. Đây là giảo diện của Ubuntu.
Ngoài ra thì còn có Android, một cái hệ điều hành được sử dụng rất là phổ biến trên thiết bị di động.
Android cũng được xây dựng từ Linux nha.
Bài tập của phần 1, câu 1, nêu các nhóm chức năng chính của hệ điều hành.
Theo như sách giốc khoa thì người ta chia ra làm 5 nhóm chức năng chính nha.
Thứ nhất là quản lý thiết bị.
Thứ 2 là quản lý lưu trữ dữ liệu. Dữ liệu ở đây gồm có tẹp và thư mục.
Thứ 3 là cung cấp tài nguyên để chạy các ứng dụng.
Thứ 4 là cung cấp môi trường giao tiếp với người sử dụng.
Và thứ 5 là cung cấp một số tiện ích, chức năng cao hiệu quả sử dụng máy tính.
Câu 2, nêu các đặc điểm cơ bản của hệ điều hành máy tính ca nhân.
Các đặc điểm cơ bản của hệ điều hành máy tính ca nhân.
Thứ nhất là thân thiện.
Ở đây, thân thiện nó thể hiện ở cái giao diện đồ họa tích hợp nhận dạng tiếng nói, v.v.
Đặc điểm thứ 2 là dễ sử dụng. Ví dụ như là cơ chế Plug & Play cắm vào là chạy.
Chúng ta sang nội dung thứ 2 của bài học, hệ điều hành cho thiết bị di động.
Các cái thiết bị di động như là điện thoại thông minh, máy tính bản, v.v.
Thực chất nó là các cái máy tính ca nhân nha.
Tuy nhiên, nó có một số đặc trưng riêng.
Thì các cái đặc trưng riêng của cái thiết bị di động chúng ta có thể kể ra như là
Thiết bị thì nhỏ gọn để mà giao tiếp cho nó tiện lợi.
Thiết bị di động thì thường nó sẽ có tính di động cao, tức là thường xuyên di chuyển.
Và thứ 3 là nó có nhiều cái tiền ít hỗ trợ ca nhân như là nghe, gọi, chụp ảnh, quay phim, v.v.
Và để đáp ứng được các cái đặc trưng này của thiết bị di động
Thì hệ điều hành được xây dựng cho thiết bị di động nó sẽ phải có những cái tính năng hỗ trợ các cái đặc trưng này nha.
Chúng ta có thể kể ra ví dụ như là bàn hình cảm ứng, bàn phím ảo, thao tác bút chạm, v.v.
Đây là những tính năng giúp cho cái giao diện của cái thiết bị di động nó thân thiện và dễ sử dụng.
Đặc biệt là những tính năng này nó sẽ thích hợp cho những cái thiết bị mà có cái thước nhỏ gọn và nó sẽ hỗ trợ cho cái việc giao tiếp được tiện lợi hơn.
Đặc biệt để hỗ trợ cái tính di động của thiết bị di động thì hệ điều hành cho thiết bị di động nó chú trọng đến các cái kết nối mạng như là kết nối wifi, bluetooth, NFC, 3G, 4G, v.v.
Do đó chúng ta thấy là thiết bị di động chúng ta đi đến bất cứ nơi nào, ở bất cứ vị trí nào chúng ta cũng có thể kết nối đến internet hết.
Và để hỗ trợ các cái tiện ít ngang gọi chụp ảnh, quay phim thì cái hệ điều hành cho thiết bị di động nó phải có chức năng là quản lý thêm các cái phần cứng, thực hiện các cái chức năng này như là phần cứng điện thoại, phần cứng camera, v.v.
Hệ điều hành cho thiết bị di động được sử dụng phổ biến nhất hiện nay có thể kể đến đó là hệ điều hành iOS của Apple dành cho các cái iPhone và iPad và hệ điều hành Android của Google dành cho các cái dòng điện thoại khác.
Bài tập của phần 2, câu 1, Vì sao hệ điều hành di động ưu tiên cao cho giao tiếp thân thiện và kết nối mạng di động? Chúng ta có thể kể ra cái lý do như sau.
Lý do thứ 2, Việc di chuyển theo người khiến cho thiết bị di động cần được kết nối đi internet ở bất cứ nơi đâu qua 3G, 4G, Wi-Fi hay Bluetooth v.v. Đây là lý do mà hệ điều hành di động cần phải ưu tiên cho kết nối mạng.
Câu 2, Kể tên 3 tiền ích thường có trên thiết bị di động và chức năng của nó.
Các cái tiền ích trên thiết bị di động thì có nhiều. Chúng ta sẽ kể ra 3 cái tiền ích được dùng cũng khá phổ biến.
Thứ nhất là máy tính. Máy tính thì chúng ta dùng để tính toán cho công việc hay là cho học tập.
Thứ 2 là đồng hồ. Đồng hồ thì chức năng là để quản lý thời gian.
Thứ 3 là camera. Camera dùng để quay phim và chụp ảnh. Đây là các cái tiền ích mà thường được dùng nhiều trên thiết bị di động.
Chúng ta sang nội dung thứ 3 của bài học. Quan hệ giữa hệ điều hành, phần cứng và phần mềm ứng dụng.
Các cái thiết bị điện tử thì thường người ta chia ra làm 2 loại. Thứ nhất là thiết bị chuyên dụng.
Thiết bị chuyên dụng tức là thiết bị chỉ có 1 chức năng hay là chỉ làm 1 việc.
Chúng ta lấy ví dụ hết. Ví dụ như là bộ đàm chẳng hạn, nó chỉ thực hiện 1 công việc là nghe gọi thôi.
Hay là máy ảnh, nó chỉ làm 1 công việc là chụp ảnh thôi hết.
Hoặc là lò vi sóng, nó chỉ có chức năng là nấu hoặc là hâm nóng thức ăn.
Với các cái thiết bị chuyên dụng này thì nó sẽ có phần cứng, tức là phần thiết bị và phần mềm điều khiển.
Cái phần mềm điều khiển nó được cài sẵn trong thiết bị luôn và chúng ta chỉ cần bật lên là sử dụng thôi.
Do đó, những cái thiết bị chuyên dụng này thì nó sẽ không cần có hệ điều hành nha.
Thứ 2 là thiết bị đa năng. Thiết bị đa năng là thiết bị nó có nhiều chức năng hay là nó thực hiện được nhiều công việc.
Chúng ta lấy ví dụ như là thiết bị di động, điện thoại thông minh, máy tính bản hay là máy tính ca nhân v.v.
Những thiết bị này thì nó cần phải có hệ điều hành nha.
Vì sao nó cần có hệ điều hành?
Bởi vì cái thiết bị đa năng nó thực hiện nhiều công việc và có thể các cái công việc đó được thực hiện cùng lúc nha.
Thì khi thực hiện cùng lúc có thể xảy ra xung đột về cái tài nguyên.
Chúng ta lấy ví dụ như là trên điện thoại thông minh, chúng ta muốn nghe nhạc, chúng ta sử dụng cái phần mềm nghe nhạc hết.
Thì lúc đó hệ điều hành nó sẽ cấp cái tài nguyên là loa để mà phát ra âm thanh chúng ta nghe.
Nhưng khi chúng ta đang nghe nhạc thì bỗng nhiên có cuộc gọi điện thoại đến.
Chúng ta cần phải sử dụng cái phần mềm gọi điện.
Thì phần mềm gọi điện thoại nó sẽ cần có cái phần cứng là micro để nói và loa để nghe.
Trong khi loa đang được sử dụng cho cái phần mềm nghe nhạc.
Thì lúc đó hệ điều hành nó sẽ dừng cái phần mềm nghe nhạc lại, nó lấy lại cái tài nguyên loa đó, nó cấp cho phần mềm gọi điện thoại.
Và chúng ta sử dụng cái loa đó để mà nghe người ta nói hết.
Sau khi chúng ta nói chuyện xong trên điện thoại thì cái hệ điều hành nó sẽ lấy lại cái tài nguyên đó và nó cấp lại cho cái phần mềm nghe nhạc.
Và lúc đó chúng ta mới tiếp tục nghe nhạc được.
Thì đó là lý do chúng ta thấy là cần phải có hệ điều hành.
Nó điều phối cái tài nguyên trên thiết bị.
Qua cái ví dụ vừa rồi thì chúng ta thấy là một cái thiết bị đa năng như là máy tính bản, điện thoại thông minh, máy tính cá nhân v.v.
Nó sẽ cần phải có phần mềm ứng dụng, hệ điều hành và phần cứng.
Phần mềm ứng dụng muốn chạy được thì nó phải có phần cứng và phần cứng này là do hệ điều hành cung cấp.
Do đó hệ điều hành này được xem như là cái môi trường trung gian giữa phần mềm ứng dụng và phần cứng nha.
Chúng ta lấy thêm ví dụ để hiểu cho rõ hơn ha.
Ví dụ chúng ta muốn sử dụng cái phần mềm chụp ảnh trên điện thoại thông minh thì hệ điều hành nó sẽ cấp cho chúng ta cái tài nguyên phần cứng là camera để mà chúng ta chụp ảnh.
Khi chụp ảnh được rồi thì hệ điều hành nó sẽ cấp cho chúng ta cái tài nguyên là màn hình để mà hiển thị cái bức ảnh ra cho chúng ta xem.
Rồi cấp cho chúng ta cái tài nguyên bộ nhớ để lưu bức ảnh vào trong điện thoại.
Hoặc chúng ta muốn sử dụng cái phần mềm gọi điện thoại thì hệ điều hành nó sẽ cấp cho chúng ta micro để chúng ta nói, cấp loa để chúng ta nghe, cấp antenna để mà thu phát sóng.
Như vậy chúng ta thấy là mối quan hệ giữa 3 cái thành phần này được tóm gọn như sau.
Hệ điều hành là chính là cái môi trường trung gian giúp phần mềm ứng dụng khai thác cái phần cứng.
Bài tập của phần 3, câu 1. Nếu lý do thiết bị xử lý đa năng cần có hệ điều hành.
Lý do thiết bị xử lý đa năng cần có hệ điều hành chúng ta có thể kể ra.
Thứ nhất là do trên thiết bị đa năng nó có nhiều phần mềm khác nhau.
Do đó chúng ta cần phải có cái phương tiện để quản lý, lưu trữ các phần mềm và dữ liệu trên thiết bị đa năng.
Thì cái phương tiện quản lý lưu trữ đó chính là hệ điều hành.
Lý do thứ 2 là khi mà chúng ta chạy nhiều cái phần mềm đồng thời cùng lúc trên thiết bị đa năng thì cần phải điều phối cái phần cứng một cách hiệu quả.
Thì chức năng điều phối phần cứng này cũng là hệ điều hành.
Câu 2. Nêu mối quan hệ giữa phần cứng, phần mềm ứng dụng và hệ điều hành.
Hệ điều hành thì sẽ cung cấp cái phần cứng cho phần mềm ứng dụng, còn phần mềm ứng dụng thì khai thác phần cứng thông qua hệ điều hành.
Nói cách khác, hệ điều hành chính là cái môi trường trung gian giúp phần mềm ứng dụng khai thác phần cứng.
Đây là mối quan hệ giữa 3 cái thành phần này.
Tiếp tục bài học chúng ta sang phần luyện tập.
Câu 1 của phần luyện tập. Em hiểu thế nào về tính thân thiện của hệ điều hành?
Tính thân thiện của hệ điều hành nó thể hiện ở cái sự phù hợp, dễ thích nghi, dễ thao tác.
Ví dụ như là các ứng dụng thì được thể hiện bằng biểu tượng.
Còn muốn xóa tẹp, chúng ta có thể dùng các thao tác kéo thả.
Người dùng phổ thông, tức là không cần biết nhiều về công nghệ, cũng chỉ cần nhìn vào là biết sử dụng ngay.
Thì đây là các cái ví dụ về cái tính thân thiện của hệ điều hành.
Câu 2. Hệ điều hành cung cấp môi trường giao tiếp với người sử dụng như thế nào?
Ở đây hệ điều hành nó sẽ cung cấp các phương tiện để mà chúng ta có thể giao tiếp với máy tính, với thiết bị di động.
Chúng ta lấy ví dụ với cái hệ điều hành Windows nha.
Thì trong hệ điều hành Windows thì nó có các cái biểu tượng, cửa sổ, rồi con trỏ điều khiển được bằng chuột để mà chỉ định các đối tượng làm việc.
Lưu trữ dữ liệu hay phần mềm thì được lưu trữ trong các thư mục.
Tìm kiếm xem danh mục đối tượng thì chúng ta có các cái biểu tượng trong các cái thư mục.
Rồi khởi động các ứng dụng thì chúng ta nháy đấp chuột vào các cái biểu tượng.
Vâng vâng.
Thì đây chính là các cái cách mà chúng ta giao tiếp với máy tính.
Và các cái cách thức giao tiếp này nó được cung cấp bởi cái hệ điều hành Windows.
Chúng ta sang phần vận dụng.
Câu 1. Em hãy tìm hiểu xem ngồi máy tính còn có thiết bị điện gia dụng nào sử dụng hệ điều hành không?
Chúng ta có thể kể một vài ví dụ về thiết bị gia dụng có sử dụng hệ điều hành.
Ví dụ như là TV thông minh chẳng hạn.
Với TV thông minh chúng ta có thể xem truyền hình, kết nối Internet, tra cứu thông tin trên mạng,
chạy các cái ứng dụng như Youtube, Netflix, v.v.
Hay là đồng hồ thông minh.
Với đồng hồ thông minh chúng ta có thể xem giờ, nghe gọi, kết nối Internet, định vị,
theo dõi sức khỏe, quay phim, chụp ảnh, v.v.
Chúng ta thấy những cái thiết bị này nó có nhiều chức năng,
thực hiện được nhiều công việc, do đó nó cần phải có hệ điều hành hết.
Câu 2. Thực ra Linux là hệ điều hành có nguồn gốc từ hệ điều hành Unix.
Hãy tìm hiểu lịch sử của hệ điều hành Linux để biết thêm về hệ điều hành Unix.
Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu cái lịch sử của Linux để xem thử nó có quan hệ như thế nào với Unix nha.
Hệ điều hành Unix ra đời vào đầu những năm 1970 bởi Bell Labs.
Chúng ta lưu ý là Unix là một cái hệ điều hành mã nguồn mở,
do đó bất cứ ai cũng có thể sử dụng cái mã nguồn này và góp phần phát triển thêm cho cái hệ điều hành hết.
Do đó sau khi Unix ra đời thì có nhiều biến thể của Unix mới bắt đầu xuất hiện, trong đó có Linux nha.
Năm 1983 thì Richard Stoneman mới khởi xứng một cái dự án có tên là GNU.
Mục đích của dự án này là tạo ra một cái hệ điều hành tương tự như Unix.
Và năm 1991 thì Linus Torvalds mới viết cái nhân Linux cho dự án GNU, từ đó cái hệ điều hành GNU Linux ra đời.
Như vậy, Linux chính là một biến thể của Unix, nhưng mà cái mã thì được viết lại, chứ nó không lấy từ Unix.
Và ngày nay thì Unix được sử dụng trên các máy chủ, máy tính lớn,
còn Linux thì được dùng chủ yếu cho các máy tính ca nhân, các điện thoại di động, hệ thống nhúng, v.v.
Như vậy là chúng ta đã hoàn thành xong cái bài 1 hệ điều hành.
Chúng ta kết thúc bài học tại đây nha.
Cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe bài học.
Nếu các bạn có bất cứ thắc mắc hay câu hỏi gì liên quan đến bài học thì hãy để lại comment ở bên dưới.
Nếu các bạn thấy thích video này thì hãy like, share hoặc là subscribe, đăng ký kênh để ủng hộ chương trình nha.
Xin chào và hẹn gặp lại.
