Tin Học 11 - Bài 3. Phần mềm nguồn mở và phần mềm chạy trên Internet

IT-Master
1 Người theo dõi
23 Lượt xem video·28 thg 11, 2025
Các bạn có nhu cầu tải về file powerpoint của bài giảng vui lòng liên hệ Zalo 0905234348. Phí 30k/bài hoặc 500k/lớp.
Chào mừng các bạn đến với chương trình Hướng dẫn học tinh học lớp 11, sách giáo khoa kết nối tri thức với cuộc sống.
Chúng ta sang bài số 3 của chủ đề 1, Phần mềm nguồn mỡ và phần mềm chạy trên Internet.
Đến với bài học này, chúng ta sẽ làm quen với một số loại phần mềm như là phần mềm thương mại, phần mềm nguồn mỡ, phần mềm chạy trên Internet,
đồng thời cũng tìm hiểu cái vai trò của các loại phần mềm này đối với sự phát triển của công nghệ thông tin.
Ở lớp 10, chúng ta đã học ngôn ngữ lập trình Python và bây giờ chúng ta sẽ thử sử dụng Python để viết một chương trình đơn giản.
Chương trình đơn giản của chúng ta là đây.
Đây là những câu lệ viết bằng Python.
Những câu lệ này khi chạy nó sẽ tạo ra một chiếc đồng hồ điện tử, một chương trình khá là đơn giản.
Chúng ta chạy thử nha.
Đây là chiếc đồng hồ điện tử mà chúng ta vừa tạo ra sử dụng một số các câu lệ Python mà chúng ta vừa viết.
Kèm theo chiếc đồng hồ là có tên tác giả.
Bây giờ chúng ta sẽ thử thay đổi chương trình một chút nha.
Giả sử ở đây chúng ta thay tên tác giả bằng một lời chào chẳng hạn.
Rồi chúng ta lưu lại và chạy lại chương trình nha.
Đây là chiếc đồng hồ của chúng ta, chương trình của chúng ta chạy lại sau khi chúng ta đã chỉnh sửa.
Đây là những dòng lệ Python mà chúng ta đã viết ra để tạo nên một chương trình đơn giản, một chiếc đồng hồ điện tử.
Chiếc đồng hồ điện tử là một chương trình hay là một ứng dụng đơn giản.
Những ứng dụng hay là phần mềm phức tạp hơn cũng được viết ra theo cách tương tự nha.
Tức là người ta sẽ viết ra các dòng lệ bằng ngôn ngữ lập trình như thế này.
Chạy chương trình và tạo ra các ứng dụng, các phần mềm.
Những câu lệ như thế này người ta gọi là mã nguồn nha.
Nhưng chúng ta đã biết là những dòng lệ này được viết bằng ngôn ngữ tự nhiên.
Ngôn ngữ này thì máy tính không hiểu được đâu nha.
Ngôn ngữ duy nhất mà máy tính hiểu được là ngôn ngữ máy tức là các dòng ký hiệu 0110.
Do đó để cho máy tính có thể hiểu được thì các dòng lệ này phải được chuyển đổi thành ngôn ngữ máy tức là các dòng ký hiệu 0110 như thế này nha.
Đây chính là ngôn ngữ máy hay người ta còn gọi là mã máy nha.
Thì đây là cái ngôn ngữ duy nhất mà máy tính nó có thể hiểu được.
Do đó cái chương trình của chúng ta để mà cài đặt lên máy tính, chạy trên máy tính và máy tính hiểu thực thi được.
Thì cái chương trình của chúng ta hay là những cái dòng lệ Python của chúng ta phải được chuyển đổi thành cái mã máy trước khi được đưa vào máy tính.
Và chạy trên máy tính để mà tạo ra cái ứng dụng hay là cái phần mềm như thế này ha.
Như vậy thường thì những cái phần mềm mà chúng ta mua về cài đặt lên máy hay là tải từ Internet về máy và cài đặt thì nó sẽ có dạng như thế này.
Những cái dòng lệ theo cái dạng ngôn ngữ máy hay là mã máy những cái dòng 0110 đây ha.
Chúng ta chạy những cái dòng lệ này thì nó sẽ tạo ra được cái chương trình cho chúng ta đây ha.
Chúng ta thấy là cái phần mềm mà nó gồm có chỉ những cái mã máy này thôi thì chúng ta không thể đọc, không thể hiểu, không thể thay đổi, chỉnh sửa gì được ha.
Do đó cái phần mềm này người ta gọi là phần mềm nguồn đóng nha.
Tuy nhiên một số trường hợp khi chia sẻ phần mềm thì người ta cung cấp luôn cả cái mã nguồn của cái phần mềm luôn ha.
Thì cái phần mềm khi được chia sẻ, khi được cung cấp nó có cả cái mã nguồn đi theo như thế này.
Phần mềm này người ta gọi là phần mềm nguồn mỡ nha.
Khác với cái phần mềm nguồn đóng, phần mềm nguồn mỡ thì chúng ta có thể đọc được cái mã nguồn ở đây.
Do đó chúng ta có thể thay đổi, chỉnh sửa hay là phát triển cái phần mềm này bằng cách là thay đổi, chỉnh sửa cái mã nguồn đây ha.
Như vậy là chúng ta đã hiểu được sơ lược cái khái niệm phần mềm nguồn đóng, phần mềm nguồn mỡ.
Đi vào bài học này chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn đặc điểm của các loại phần mềm này nha.
Và ngoài các loại phần mềm này thì chúng ta còn có những loại phần mềm nào nữa.
Vai trò của các loại phần mềm này là sao?
Các phần mềm chúng ta đang dùng là phần mềm nguồn đóng hay nguồn mỡ?
Tất tầng tập những kiến thức đó chúng ta sẽ tìm hiểu rõ trong cái bài học này ha.
Chúng ta đi vào nội dung của bài học, phần thứ nhất, phần một, phần mềm nguồn mỡ.
Như chúng ta đã biết khi mà tạo ra được một sản phẩm phần mềm thì người làm phần mềm phải cung cấp cái sản phẩm phần mềm đó cho người dùng để người dùng sử dụng.
Hay người ta còn gọi là chuyển giao phần mềm.
Thì chuyển giao phần mềm người ta có 3 cái cách.
Thứ nhất là bán phần mềm.
Bán phần mềm thì cái phần mềm được bán nó sẽ ở dưới dạng mã máy nha.
Trường hợp thứ 2 là cho sử dụng miễn phí.
Và trường hợp thứ 3 là cho sử dụng miễn phí đồng thời cung cấp luôn cả cái mã nguồn nữa.
Thì đây là 3 cái cách phổ biến mà người ta thường dùng để mà chuyển giao cái phần mềm hay là cung cấp cái phần mềm đến cho người dùng.
Và dựa trên các cái cách chuyển giao phần mềm này người ta chia cái phần mềm ra thành 3 loại tương ứng với 3 cách chuyển giao ở đây nha.
Với cái cách chuyển giao là bán phần mềm thì chúng ta sẽ có cái phần mềm thương mại.
Tiếng Anh gọi là Commercial Software.
Với cái cách chuyển giao là cho sử dụng miễn phí thì chúng ta sẽ có cái phần mềm tự do gọi là Free Software.
Và với cách chuyển giao là cho sử dụng miễn phí đồng thời cung cấp luôn cả mã nguồn thì chúng ta sẽ có cái phần mềm gọi là phần mềm nguồn mỡ.
Tiếng Anh là Open Source Software.
Chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu từng loại phần mềm nha.
Thứ nhất là phần mềm thương mại.
Phần mềm thương mại là phần mềm thế nào?
Phần mềm thương mại là phần mềm dùng để bán.
Và người dùng phải mua mới được quyền sử dụng.
Do đó phần mềm thương mại thì thường được bán ở dạng má máy nên nó còn gọi là phần mềm nguồn đóng.
Chúng ta lưu ý các phần mềm thương mại là các phần mềm nguồn đóng nha.
Ví dụ về phần mềm thương mại chúng ta có phần mềm soạn thảo văn bản Word của Microsoft.
Chúng ta muốn sử dụng phần mềm này chúng ta phải mua.
Hay là Adopt Photoshop phần mềm trên xứ ảnh.
Muốn sử dụng chúng ta cũng phải mua.
Thứ 2 là phần mềm tự do.
Phần mềm tự do là phần mềm miễn phí được tự do sử dụng mà không phải xin phép.
Có thể ở dạng mã máy hoặc mã nguồn.
Chúng ta lấy ví dụ như là phần mềm Acrobat Reader.
Đây là phần mềm đọc file PDF.
Hay là trình duyệt web Google Chrome.
Những phần mềm này là phần mềm tự do hay là phần mềm miễn phí.
Chúng ta có thể tải từ Internet về máy và sử dụng.
Không cần phải trả phí, không phải xin phép.
Thứ 3 là phần mềm nguồn mở.
Phần mềm nguồn mở trước hết là một phần mềm tự do.
Tức là đây cũng là một phần mềm miễn phí.
Thứ 2 là khi cung cấp, người ta cung cấp thêm cả mã nguồn đi theo nữa.
Để mà người dùng có thể tự sửa đổi, cải tiến, phát triển.
Tức là người dùng có thể sử dụng phần mềm này.
Rồi có thể thay đổi, chỉnh sửa, nâng cấp nó.
Và phân phối lại nếu có giấy phép.
Có nghĩa là nếu có giấy phép thì người dùng có thể cung cấp lại bản sửa đổi bản nâng cấp của mình cho người khác dùng.
Ví dụ về phần mềm nguồn mở chúng ta có ngôn ngữ lập trình Python,
hay là hệ quản trị cơ sở dữ liệu MySQL,
hoặc là phần mềm đồ họa InScape.
Đây là những ví dụ về phần mềm nguồn mở.
Với phần mềm nguồn mở thì chúng ta có cái khái niệm giấy phép.
Tiếng Anh là License đây.
Thì cái giấy phép trong phần mềm nguồn mở nó như thế nào?
Để hiểu được cái giấy phép nó có ý nghĩa như thế nào,
đối với phần mềm nguồn mở thì chúng ta sẽ phải phân biệt được 2 cái khái niệm,
bản quyền và giấy phép nguồn mở.
Phân biệt được 2 cái khái niệm này chúng ta sẽ biết được lý do tại sao chúng ta cần và có giấy phép cho phần mềm nguồn mở.
Và chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu 1 cái loại giấy phép nguồn mở được dùng khá là phổ biến,
đó là giấy phép GNU GPL.
Trước hết là bản quyền và giấy phép nguồn mở nó khác nhau như thế nào?
Chúng ta đã biết bản quyền tức là cái quyền sở hữu của 1 cái sản phẩm nào đó,
ví dụ sản phẩm phần mềm chẳng hạn,
thì cái bản quyền ra đời nhằm mục đích là để hạn chế cái quyền sử dụng,
sửa đổi và chia sẻ các cái sản phẩm phần mềm mà không được sự cho phép của chủ sở hữu.
Với cái mục đích này thì chúng ta thấy là cái bản quyền nó sẽ mâu thuẫn với cái phần mềm nguồn mở.
Bởi vì phần mềm nguồn mở ra đời mục đích là để cho mọi người sao chế thay đổi,
chỉnh sửa, thậm chí phân phối lại.
Như vậy là để giải quyết cái mâu thuẫn này thì người ta mới đưa ra 1 cái gọi là giấy phép nguồn mở.
Tức là nếu có được cái giấy phép này thì người dùng có thể tự do sử dụng,
sửa đổi, phân phối lại các cái sản phẩm phần mềm,
thậm chí là tạo ra các sản phẩm fashion.
Sản phẩm fashion tức là mình tạo ra 1 cái sản phẩm mới dựa trên cái sản phẩm gốc,
người ta gọi là sản phẩm fashion.
Như vậy, cái lý do mà chúng ta cần phải có giấy phép cho phần mềm nguồn mở là giấy phép nó sẽ cung cấp cho người dùng
các quyền vốn bị cấm bởi các quy định bản quyền.
Ví dụ, bản quyền cấm sao chếp thì giấy phép nó sẽ cho phép chúng ta sao chếp.
Bản quyền cấm thay đổi, chỉnh sửa thì nếu có giấy phép chúng ta có thể thay đổi, chỉnh sửa cái phần mềm.
Thì đó là lý do mà chúng ta cần phải có giấy phép cho cái phần mềm nguồn mở.
Rồi, tiếp tục chúng ta sẽ tìm hiểu một cái giấy phép nguồn mở được sử dụng rất là phổ biến hiện nay.
Đó là giấy phép GNU-GPL.
Xem thử cái giấy phép này nó quy định những gì nhé.
Giấy phép nguồn mở GNU-GPL, viết tắt của từ General Public License.
Nó sẽ quy định những điều như sau.
Thứ nhất là đảm bảo quyền tiếp cận của người sử dụng đối với mã nguồn để dùng, thay đổi hoặc phân phối lại.
Tức là nếu như mà có cái giấy phép này, thì người dùng có thể sử dụng cái phần mềm, có thể thay đổi, chỉnh sửa, thậm chí có thể phân phối lại, tức là cung cấp lại cho những người khác.
Thứ hai là đảm bảo quyền miễn trừ của tác giả về hậu quả sử dụng phần mềm.
Chúng ta đã biết là cái phần mềm nguồn mở là phần mềm không có bảo hành nha.
Do đó, khi chúng ta sử dụng cái phần mềm nguồn mở, nếu nó xảy ra cái vấn đề gì, thì tác giả của cái phần mềm sẽ không chịu trách nhiệm nha.
Do đó ở đây người ta nói là đảm bảo quyền miễn trừ của tác giả.
Thứ ba là đảm bảo quyền đứng tên của tác giả tham gia phát triển, tức là những ai mà tham gia vào thay đổi, chỉnh sửa, nâng cấp cái phần mềm nguồn mở thì đều có quyền đứng tên trong cái phần mềm.
Và cuối cùng là đảm bảo sự phát triển bền vững của phần mềm nguồn mở, bao gồm là công bố rõ ràng các thay đổi của các phiên bản.
Tức là chúng ta tham gia vào, chúng ta thay đổi, chỉnh sửa những gì thì chúng ta phải công bố rõ cho mọi người biết những cái thay đổi, chỉnh sửa đó hết.
Rồi các phiên bản phát triển của phần mềm nguồn mở phải là phần mềm nguồn mở.
Tức là những cái phiên bản mà chúng ta đã thay đổi, nâng cấp thì chúng ta phải cung cấp lại cho những người khác để những người khác sử dụng, những người khác có thể thay đổi, chỉnh sửa cái phần nâng cấp của chúng ta nha.
Do đó người ta gọi là các cái phiên bản phát triển của phần mềm nguồn mở phải là phần mềm nguồn mở là như vậy.
Có như vậy thì cái phần mềm nguồn mở nó mới liên tục phát triển nha.
Câu hỏi của phần 1, câu 1 em hãy cho biết ý nghĩa của yêu cầu người sửa đổi nâng cấp phần mềm nguồn mở phải công bố rõ ràng phần nào đã sửa sửa thế nào so với bản gốc.
Ý nghĩa của cái yêu cầu này là để đảm bảo tính minh bạch về sự đóng góp của mỗi thành viên phát triển phần mềm nguồn mở và để người sử dụng sau dễ nắm bắt được cái phần phát triển để sử dụng.
Tức là mình thay đổi chỉnh sự những gì mình công bố rõ ra thì cái người sau người ta sẽ dễ nắm bắt được và người ta tiếp tục phát triển khác.
Đồng thời cái việc công bố đó nó cũng đảm bảo là những cái thay đổi của mình là nó minh bạch nha.
Câu 2, ý nghĩa của yêu cầu phần mềm sửa đổi một phần mềm nguồn mở theo GPL cũng phải mở theo giấy phép của GPL là gì?
Ý nghĩa của cái yêu cầu này là để đảm bảo sự phát triển bền vững của cộng đồng phần mềm nguồn mở.
Khi mà có quyền sử dụng phần mềm nguồn mở để phát triển thì cũng có nghĩa vụ đóng góp để cộng đồng được sử dụng cái phần mà mình phát triển dựa trên cái phần mềm nguồn mở.
Tức là chúng ta sử dụng cái phần mềm nguồn mở chúng ta tham gia thay đổi chỉnh sự phát triển cái phần mềm đó.
Nhưng mà sau khi thay đổi chỉnh sự phát triển xong chúng ta không thể giữ cái phần mềm mà chúng ta đã thay đổi năng cấp đó làm của riêng được.
Chúng ta phải cung cấp cái phần năng cấp, phần thay đổi chỉnh sữa đó cho nhiều người khác nữa.
Và những người khác sẽ tiếp tục sử dụng, tiếp tục thay đổi chỉnh sữa năng cấp.
Cứ như vậy nó sẽ đảm bảo cho cái phần mềm nguồn mở nó liên tục được phát triển.
Chúng ta sang phần thứ 2 của bài học, vai trò của phần mềm thương mại và phần mềm nguồn mở.
Phần này chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu kỹ hơn cái phần mềm thương mại và phần mềm nguồn mở nhé.
Xem thử vai trò của nó như thế nào.
Trước hết là cái khả năng thay thế, chúng ta biết là cái phần mềm nguồn mở nó có thể thay thế phần mềm thương mại.
Ví dụ trong cái lĩnh vực phần mềm văn phòng, chúng ta có các cái phần mềm thương mại của Microsoft như là Word, Excel, PowerPoint.
Còn bên phần mềm nguồn mở thì chúng ta có cái bộ OpenOffice.
Hệ điều hành thì nếu chúng ta muốn sử dụng phần mềm thương mại chúng ta chọn Windows của Microsoft.
Còn nếu muốn sử dụng phần mềm nguồn mở chúng ta có thể dùng Linux, các phiên bản như là Ubuntu, Red Hat.
Với thiết bị di động thì iOS là phần mềm thương mại, còn Android là phần mềm nguồn mở.
Chúng ta có thể chọn một trong hai.
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu thì chúng ta có thể dùng Oracle, SQL Server.
Đây là các cái phiên bản thương mại.
Còn không thì chúng ta dùng MySQL, PostgreSQL, những cái phiên bản của phần mềm nguồn mở.
Sử lý ảnh thì chúng ta có thể dùng Photoshop hoặc là GIMP.
Photoshop thì là phần mềm thương mại, còn GIMP là phần mềm nguồn mở.
Chúng ta thấy là trong hầu hết các lĩnh vực thì chúng ta đều có cái phiên bản phần mềm thương mại và phần mềm nguồn mở.
Chúng ta có thể chọn sử dụng cái phiên bản nào cũng được.
Tuy nhiên cái phần mềm nguồn mở thì nó không thể thay thế hoàn toàn cho cái phần mềm thương mại được.
Lý do vì sao?
Thứ nhất là phần mềm nguồn mở thì nó đáp ứng cái nhu cầu chung của nhiều người.
Tức là nó xem thử cái nhu cầu của mọi người là như thế nào.
Nó sẽ tạo ra một cái phần mềm mà đáp ứng được nhiều người nhất có thể.
Nhưng mà trong khi đó thì thực tế nhiều cái khách hàng nó có nhu cầu riêng.
Tức là người ta cần những sản phẩm làm riêng cho cái đặc thù công việc của họ thôi.
Do đó những cái sản phẩm nào mà có cái nhu cầu riêng thì thường người ta sẽ đặt cái phần mềm thương mại.
Bởi vì cái phần mềm thương mại thì nó sẽ có 2 loại.
Cái loại thứ nhất là phần mềm đặt hàng.
Tức là ở đây nó dựa theo chính xác cái yêu cầu của khách hàng là gì.
Người ta sẽ viết cái phần mềm đáp ứng đúng cái yêu cầu đó.
Người ta gọi là thiết kế chính xác theo yêu cầu của từng khách hàng.
Ngoài ra cái phần mềm thương mại thì nó sẽ được bảo hành nữa.
Tức là quá trình sử dụng có xảy ra lỗi, có vấn đề gì thì được bảo hành, được thay đổi sửa chữa hết.
Cái loại thứ 2 của phần mềm thương mại là phần mềm đóng gối.
Phần mềm đóng gối thì nó không phải thiết kế chính xác theo từng yêu cầu khách hàng mà nó thiết kế theo yêu cầu chung.
Tức là nó cũng dựa theo cái nhu cầu của nhiều người mà nó thiết kế ra cái phần mềm để đáp ứng được yêu cầu của nhiều người.
Nhưng nó hơn cái phần mềm nguồn mỡ ở chỗ là chất lượng nó tốt hơn, dễ cài đặt, dễ sử dụng hơn, v.v.
Nó có nhiều cái hơn.
Do đó mà người ta sẽ chọn cái phần mềm đóng gối, chọn trả phí thay vì sử dụng nguồn mỡ hết.
Một lý do nữa là phần mềm thương mại nó đem lại cái nguồn tài chính chủ yếu để mà duy trì các tổ chức làm phần mềm.
Chúng ta thử hình dung nếu như tất cả các cái nhân tổ chức làm phần mềm mà làm xong thì chỉ cho dùng miễn phí thì lấy cái kinh phí nào để người ta duy trì, người ta tiếp tục làm phần mềm hết.
Do đó phải có các cái phần mềm thương mại. Đây là cái nguồn thu chủ yếu để mà duy trì cái việc làm phần mềm nha.
Tiếp tục chúng ta thử so sánh 2 cái phần mềm, phần mềm thương mại và phần mềm nguồn mỡ xem nó có gì khác nhau nha.
Về mặt chi phí thì với phần mềm thương mại chắc chắn là chúng ta phải mắc phí khi mà mua phần mềm, đồng thời cùng đó là có phí chuyển giao nữa.
Còn phần mềm nguồn mỡ thì là nó miễn phí, có thể chỉ mắc phí chuyển giao.
Còn hỗ trợ kỹ thuật thì với phần mềm thương mại thì khi chúng ta sử dụng chúng ta sẽ được hỗ trợ kỹ thuật tức là có bảo hành nha.
Còn phần mềm nguồn mỡ thì chắc chắn là không có bảo hành nhưng chúng ta có những cộng đồng để mà hỗ trợ tức là trên các trang web các diễn đàn của phần mềm đó là khi chúng ta có vấn đề gì chúng ta có thể lên đó hỏi người ta sẽ hỗ trợ hết.
Còn tính minh bạch thì với phần mềm thương mại thì chúng ta không đọc được những gì bên trong phần mềm đó do đó chúng ta không kiểm soát được những gì bên trong đó.
Có thể người ta sẽ cài cắm ví dụ như là cài cắm video chẳng hạn hay là cài cắm những cái phần mềm gián điệp v.v. chúng ta không kiểm soát được.
Nhưng mà với phần mềm nguồn mỡ thì chúng ta có thể kiểm soát được nha bởi vì chúng ta đọc được mã nguồn hết.
Còn sự phù thuộc của người dùng thì với phần mềm thương mại thì người dùng sẽ phù thuộc vào nhà cung cấp nhưng mà phần mềm nguồn mỡ thì sẽ không phù thuộc hết.
Sau khi so sánh 2 loại phần mềm này thì chúng ta có thể rút ra được một vài cái ưu điểm của 2 loại phần mềm này.
Với phần mềm thương mại thì ưu điểm thứ nhất là nó đáp ứng được cái nhu cầu riêng và người dùng thì được hỗ trợ kỹ thuật tức là được bảo hành.
Đây là trường hợp của phần mềm đặt hàng.
Còn phần mềm đóng gối thì nó sẽ có tính hoàn chỉnh cao, đáp ứng được cái nhu cầu rộng rãi.
Chúng ta lấy ví dụ như cùng lĩnh vực xử lý ảnh nhưng mà chúng ta sử dụng phần mềm thương mại Photoshop thì dĩ nhiên nó sẽ có tính chuyên nghiệp cao hơn phần mềm nguồn mỡ GIMP.
Còn với phần mềm nguồn mỡ thì cái ưu điểm của nó là chi phí thấp, minh bạch và không bị phù thuộc vào nhà cung cấp.
Và cuối cùng là vai trò của 2 loại phần mềm này.
Phần mềm nguồn mỡ thì cái vai trò của nó là ở một trường mực nào đó nó có thể thay thế được các phần mềm thương mại.
Do đó nó giúp cho những người mà có nhu cầu được sử dụng các phần mềm dùng chung chất lượng tốt, ổn định nhưng mà chi phí thấp.
Tức là những người mà không muốn trả phí nhưng mà vẫn muốn có phần mềm sử dụng thì sẽ sử dụng các phần mềm nguồn mỡ.
Còn với phần mềm thương mại thì đây chính là cái nguồn thu nhập chính của các cá nhân tổ chức làm phần mềm chuyên nghiệp.
Gốc phần tạo ra các thị trường phần mềm phong phú đáp ứng được các nhu cầu riêng của cá nhân tổ chức và các nhu cầu chung của xã hội.
Như vậy chúng ta thấy là cả 2 loại phần mềm này nó đều có vai trò rất là quan trọng trong cái ngành công nghiệp phần mềm cũng như là của xã hội.
Phần mềm thương mại thì nó sẽ giúp nuôi sống cái ngành công nghiệp làm phần mềm.
Còn phần mềm nguồn mỡ thì nó sẽ giúp cho phần mềm được tiếp cận với nhiều đối tượng người dùng hơn.
Câu hỏi của phần 2, câu 1 cho ví dụ về phần mềm đóng gối và phần mềm đặt hàng, ưu điểm của phần mềm thương mại là gì?
Ví dụ về phần mềm đóng gối và phần mềm đặt hàng.
Với phần mềm đóng gối thì chúng ta có cái bộ Office của Microsoft như là Word, Excel, PowerPoint hay là Photoshop v.v.
Còn phần mềm đặt hàng ví dụ như là phần mềm giao dịch của các ngân hàng.
Ngân hàng Vietcombank thì có Vietcombank Digital, Tiên Phongbank thì có TP-Bank E-Token, BIDV thì chúng ta có BIDV Smart Banking, Tacombank thì có Tacombank Mobile v.v.
Chúng ta thấy là cũng là phần mềm giao dịch của ngân hàng nhưng mỗi ngân hàng thì người ta sẽ đặt một phần mềm riêng cho mình.
Ưu điểm của phần mềm thương mại là được thiết kế chính xác, có tính riêng biệt theo yêu cầu của khách hàng, được hỗ trợ kỹ thuật, được bảo hành, bảo trì v.v.
Câu 2. Cho ví dụ về một phần mềm thương mại và một phần mềm nguồn mở có thể thay thế, ưu điểm của phần mềm nguồn mở là gì?
Ví dụ về phần mềm thương mại và phần mềm nguồn mở có thể thay thế ví dụ như là Windows, Linux. Windows là thương mại, Linux là nguồn mở. Linux có thể thay thế Windows.
SQL Server hoặc là MySQL. MySQL thì có thể thay thế cho SQL Server. GIMP thì có thể thay thế cho Photoshop.
Ưu điểm của phần mềm nguồn mở là chi phí thấp, minh bạch, không bị phụ thuộc vào nhà cung cấp.
Chúng ta sang phần thứ 3 của bài học Phần mềm chạy trên Internet.
Phần mềm chạy trên Internet là phần mềm như thế nào?
Phần mềm chạy trên Internet người ta còn gọi là phần mềm trực tuyến, là cái phần mềm mà cho phép sử dụng qua Internet mà không cần phải cài đặt vào máy.
Với những cái phần mềm này thì chúng ta không cần phải cài đặt vào máy.
Chúng ta chỉ cần truy cập đến Internet, mở cái trình duyệt web ra, vào cái trang web là chúng ta có thể sử dụng được cái phần mềm đó ngay.
Ví dụ như là chúng ta muốn sử dụng cái phần mềm mạng xã hội, chúng ta vào cái trang web facebook.com là chúng ta có thể sử dụng ngay cái mạng xã hội Facebook.
Hay là chúng ta muốn gửi và nhận thư điện tử, chúng ta vào cái trang web gmail.com là chúng ta có thể gửi và nhận thư điện tử ngay.
Phần mềm nó nằm ngay ở trên trang web.
Hay là chúng ta muốn mua sắm trực tuyến, chúng ta vào cái trang web của Lazada, phần mềm mua sắm trực tuyến nó nằm ngay ở trang web.
Thì đây chính là các cái ví dụ về các cái phần mềm chạy trên Internet.
Với những cái phần mềm chạy trên Internet thì chúng ta thấy nó có cái ưu điểm rất là rõ rệt.
Đó là có thể sử dụng được ở bất cứ đâu, bất cứ nơi nào, bất cứ máy tính nào miễn là có kết nối Internet, chi phí rẻ và không mắc phí.
Chúng ta thấy là để sử dụng mạng xã hội, để gửi và nhận thư điện tử, để mua sắm trực tuyến, chúng ta không cần phải cài đặt ở bất cứ cái phần mềm nào, không tốn chi phí.
Chúng ta chỉ cần kết nối đi Internet truy cập vào các cái trang web là chúng ta có thể sử dụng ngay các cái phần mềm đó.
Câu hỏi của phần 3, câu 1. Em hãy nêu những ưu điểm của phần mềm chạy trên Internet.
Ưu điểm của phần mềm chạy trên Internet là có thể sử dụng ở bất cứ đâu, bất cứ nơi nào, bất cứ máy tính nào miễn là có kết nối Internet, chi phí rẻ hoặc không mắc phí.
Câu 2. Em hãy nêu tên một phần mềm trực tuyến khác với các phần mềm đã nêu trong bài.
Chúng ta lấy ví dụ một cái phần mềm trực tuyến đó là phần mềm lập trình Scratch.
Với Scratch thì chúng ta có thể tải cái phiên bản mà cài đặt trên máy về và cài đặt trên máy để sử dụng cũng được, còn không thì chúng ta sẽ sử dụng cái phiên bản mà cài đặt trên Internet.
Chúng ta vào cái trang web https://scratch.me.edu, trang này chúng ta có thể thực hiện lập trình Scratch ngay trên trang web này.
Đây là một cái ví dụ về phần mềm trực tuyến hay là phần mềm chạy trên Internet.
Tiếp tục bài học, chúng ta sang phần luyện tập. Câu 1 của phần luyện tập.
Có thể nói phần mềm nguồn mở ngày càng phát triển thì thị trường phần mềm thương mại càng suy giảm hay không? Tại sao?
Không có bằng chứng nào cho thấy cái phần mềm nguồn mở phát triển thì sẽ hạn chế cái phần mềm thương mại, bởi vì 2 cái phần mềm này phục vụ cho 2 loại đối tượng người dùng khác nhau.
Phần mềm thương mại thì dành cho nhóm người dùng có nhu cầu riêng biệt, còn phần mềm nguồn mở thì dành cho nhóm người dùng có nhu cầu chung.
Với nhóm người dùng có nhu cầu chung thì chúng ta cũng có một số trường hợp là chúng ta có cả cái phần mềm thương mại và phần mềm nguồn mở.
Nhưng mà trong những trường hợp đó thì thường cái phần mềm thương mại nó có tính chuyên nghiệp cao hơn, do đó khi người ta trả phí thì người ta thấy xứng đáng.
Câu 2 của phần luyện tập. Phần mềm ở các trạm ATM, trúc tiền tự động có phải là phần mềm trực tuyến hay không?
Câu trả lời là phần mềm ở các trạm ATM này không phải là phần mềm trực tuyến nha.
Lý do là vì các cái giao dịch trúc tiền mặt là những giao dịch rất là quan trọng, đòi hỏi nó phải đảm bảo an toàn tuyệt đối,
do đó người ta không sử dụng cái nối Internet mà người ta sử dụng các cái kết nối riêng biệt như là kết nối mạng LAN, mạng WAN v.v.
Do đó các cái phần mềm này không phải là phần mềm trực tuyến hay là phần mềm chạy trên Internet.
Chúng ta sang phần cuối cùng của bài học, phần vận dụng.
Câu 1 của phần vận dụng.
Em hãy tìm trên Internet và cho biết tên một số phần mềm đồ họa nguồn mở và một số phần mềm đồ họa thương mại.
Phần mềm đồ họa thương mại chúng ta có thể kể ra như là Adobe Photoshop, Adobe Illustrator, CorelDRAW, AutoCAD v.v.
Còn phần mềm đồ họa nguồn mở như là Inkscape, GIMP, Blender, OpenOfficeDRAW v.v.
Câu 2 của phần vận dụng.
Nói chung các môi trường lập trình trên ngôn ngữ Python đều không có chức năng biên dịch để chuyển mã nguồn thành mã máy.
Các chương trình Python đều ở dạng mã nguồn.
Liệu có thể coi mọi phần mềm viết bằng Python đều là phần mềm nguồn mở hay không?
Câu trả lời là điều này tùy thuộc vào tác giả có cho phép người dùng được sử dụng mã nguồn để sửa đổi chuyển giao hay không.
Nếu cho phép thì đó là phần mềm nguồn mở.
Như vậy là chúng ta đã hoàn thành xong tất cả nội dung của bài học số 3, bài học về phần mềm nguồn mở ớt và phần mềm chạy trên Internet.
Chúng ta kết thúc bài học tại đây nha.
Cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe bài học.
Nếu các bạn có bất cứ thắc mắc hay câu hỏi gì liên quan đến bài học thì hãy để lại comment ở bên dưới.
Nếu các bạn thấy thích video này thì hãy like, share, hoặc là subscribe, đăng ký kênh để ủng hộ chương trình nha.
Xin chào và hẹn gặp lại.
