Giải mã 4000 năm Lịch sử Việt Nam | Tập 2 - Thời nhà Tiền Lê - Lý và Trần | Lịch sử việt nam

Đình Sự
538 người theo dõi
Giai đoạn từ năm 1939 đến năm 1407 là kỷ nguyên lịch sử trọng đại, đánh dấu sự ra đời, củng cố và phát triển rực rỡ của nhà nước quân chủ tập quyền độc lập của người Việt.
Sau chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng năm 1938, dân tộc Việt bước vào một hành trình kéo dài gần 5 thế kỷ,
nơi các triều Đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý và trần lận lượt xây dựng quốc gia, hoàn thiện bộ máy cai trị và đỉnh cao là 3 lần chiến thắng đế chế Mông Nguyên Hùng Mạnh,
khẳng định vị thế Đại Việt trên bản đồ khu vực.
Củng cố nền độc lập từ Hoàng Cung Hoa Lư từ năm 1939 đến năm 1009.
Mặc dù chiến thắng Bạch Đằng năm 1938 đã kết thúc một nghìn năm bắc thuộc,
con đường đến với một nhà nước trung ương tập quyền ổn định vẫn còn nhiều trông gai, thể hiện rõ qua sự kiện loạn 12 sứ quân.
Sự hỗn loạn và thống nhất của nhà Đinh năm 1939 đến năm 1979.
Sau khi ngô quyền mất vào năm 1944, em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi.
Sự tranh chấp nội bộ này đã phá vỡ sự thống nhất mong manh, dẫn đến việc các hào trường địa phương nổi dậy,
cát cứ một vùng được gọi là loạn 12 sứ quân.
Giai đoạn này kéo dài hơn 20 năm là một cuộc khủng hoảng chính trị nghiêm trọng, đe dọa sự sống còn của nền độc lập.
Thời điểm này xuất hiện một người anh hùng Đinh bộ lính tức Vạn Thắng Vương,
đã nổi lên từ Hoa Lưu, dẹp yên 12 sứ quân vào năm 1967.
Sự thống nhất này là tiền đề bắt buộc để thiết lập một nhà nước thực sự độc lập.
Năm 1968, Đinh bộ lính lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng,
đặt quốc hiệu là Đại Cổ Việt và đóng đồ tại Hoa Lưu thuộc Ninh Bình ngày nay.
Việc xưng Hoàng đế khẳng định sự ngang hàng với thiên tử Phương Bắc,
mở ra kỷ nguyên độc lập thực sự.
Nhà Đinh thiết lập các cấp cai trị, định ra phẩm hàm
và đặc biệt là áp dụng hình phật nghiêm khắc để duy trì trật tự xã hội sau thời kỳ loạn lạc.
Năm 1979, Đinh Tiên Hoàng và con trai bị ám hại.
Con trai thứ là Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi.
Sự bất ổn này là cơ hội để nhà Tống ở Trung Quốc dục dịch xâm lượng.
Trước mối đe dọa ngoại ban, Thái hậu Dương Vân Nga và các triều thần đã ủng hộ Lê Hoàng
tức thập đạo tướng quân lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Lê Đại Hành vào năm 1980.
Hành động này dù mang tính cướp ngôi nhưng là quyết định lịch sử nhằm bảo vệ quốc gia lúc bấy giờ.
Lê Hoàng đã tổ chức kháng chiến và đánh bại quân Tống xâm lượng vào năm 1981 trên phòng tuyến sông Bạch Đằng và Tri Lăng.
Lê Hoàng còn đánh bại quân Chiên Thành về phương Nam vào năm 1982, mở rộng lãnh thổ và khẳng định sức mạnh quân sự.
Dù chiều đại ngắn ngủi, Tiền Lê đã hoàn thành xuất sắc hai nhiệm vụ,
bảo vệ nền độc lập mới giành được và đặt nền móng cho sự ổn định kéo dài.
Thời kỳ Hoàng Kim, Thăng Long, Đại Việt và Văn minh Đại Việt từ năm 1009 đến năm 1400.
Nhà Lý xây dựng quốc gia văn minh từ năm 1009 đến năm 1225.
Sự chuyển giao quyền lực hòa bình từ Tiền Lê sang Nhà Lý đã mở ra một kỷ nguyên phát triển toàn diện,
kéo dài suốt bốn thế kỷ, định hình nền bản sắc của quốc gia Đại Việt.
Lý Thánh Tông cho xây dựng văn miếu vào năm 1070 và quốc tử giám vào năm 1076 để thờ khổng tử
và sau đó là nơi học của thái tử.
Lý Nhân Tông thành lập quốc tử giám, là trường đại học đầu tiên của Việt Nam,
mở đầu cho nền giáo dục nho học chính thống, đào tạo quan lại cho triều đình.
Việc này cho thấy, nho giáo bắt đầu giữ vai trò chi phối trong chính trị,
dù Phật giáo vẫn phát triển mạnh.
Kháng chiến chống quân Tống năm 1077
Khi quân Tống tiến vào Đại Việt, Lý Thường Kiệt cho xây dựng phòng tuyến kiên cố trên sông Như Nguyệt.
Ông sử dụng chiến thuật phòng thủ linh hoạt và đặc biệt là bài thơ Nam Quốc Sơn Hà
tạm dịch là sông núi nước Nam, được coi là bản tuyên môn độc lập đầu tiên, khích lệ tinh thần quân sĩ.
Cuối cùng, Lý Thường Kiệt đã đánh bại 30 vạn quân Tống, buộc địch phải giảm hòa và rút quân.
Nam Quốc Sơn Hà Nam đế cư, tiệt nhiên định phận tại thiên thư, như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, như đẳng hành khán thủ bại hư.
Thời đại nhà Trần, hào khí Đông A và ba lần kháng chiến chống Nguyên Mông từ năm 1225 đến năm 1400.
Sự chuyển giao quyền lực từ Lý sang Trần diễn ra trong bối cảnh tranh chất nội bộ, nhưng nhanh chóng được ổn định bởi Trần Thủ Độ và dòng họ Trần.
Ta là Trần Thủ Độ, một tay ta chuyển giao quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần, bằng cách ép Lý Chiêu Hoàng lấy cháu ta là Trần Cảnh.
Nhà Trần tiếp tục hoàn thiện cơ cấu hành chính, lập ra hệ thống quan lại, luật pháp hoàn chỉnh hơn nhà Lý.
Đặc biệt, việc duy trì chế độ Thái Thượng Hoàng giúp đảm bảo sự kết thúc quyền lực và tích lý kinh nghiệm quản lý quốc gia trong thời kỳ chiến tranh.
Bên cạnh đó, nhà Trần đã thành công trong việc xây dựng tinh thần hào khí Đông A.
Đông A là chữ Hán của họ Trần, chữ Trần được viết ghép từ chữ Đông và chữ A.
Tinh thần này thể hiện sự đồng lòng tuyệt đối giữa vua, quan, tướng lĩnh và nhân dân trong công cuộc bảo vệ đất nước.
Ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông, đây là đỉnh cao trói loạn nhất của giai đoạn độc lập tự trụ,
khi Đại Việt phải đối đầu với đế chế quân sự hùng mạnh nhất lịch sử nhân loại.
Lần thứ nhất vào năm 1258, vua Trần Thái Tông giãn quân đánh đuổi quân Nguyên Mông tại đông bộ đầu này thuộc Hà Nội.
Cuộc chiến diễn ra nhanh chóng trong khoảng nửa tháng, quân Mông Cổ bị thiệt hại nặng và phải giúp chạy về nước.
Lần thứ hai vào năm 1285, Trần Hương Đả, vua Trần Nhân Tông dẫn binh đánh quân Nguyên Mông tại Hàn Tử, trương dương giải phóng thành Khang Long.
Nhà Trần áp dụng chiến lược vườn không nhà chống, khiến quân Nguyên thiếu lương thực, suy giảm nguyện khí.
Lần thứ ba vào năm 1288, Trần Hương Đả dẫn binh đánh quân Nguyên Mông tại cửa sông Bạch Nằng,
tái hiện chiến thuật cọc khổ của ngô quyền xưa, đánh tan hoàn toàn quân Nguyên khi chúng rút chạy ra biển,
bắt sống Âu Ma Nhi, chấm dứt vĩnh viễn họa xâm lược Nguyên Mông.
Sự ổn định chính trị thời nhà Trần và thắng lợi quân sự đã tạo điều kiện cho Đại Việt phát triển mạnh mẽ về một mặt,
dân chúng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Nhà Trần đặc biệt chú trọng đến việc đắp đê, đảo canh và mở rộng diện tích canh tác lúa nước,
nổi bật là việc khuyến khích lập điền trang, nghề thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là gốm xứ,
nổi tiếng với men ngọc và hoa văn tinh xảo, dệt lụa và luyện kim.
Từ thời vua Trần Dụ Tông, Triều Đình bắt đầu xa xuất, quan lại tham nhũng, vua chúa hưởng lạc,
sự mất đoàn kết trong nội bộ hoàng tộc và quan lại làm suy yếu sức mạnh của Triều Đình.
Bất ổn, dẫn đến các cuộc khởi nghĩa nông dân.
Đồng thời, Đại Việt phải liên tục đối phó với sự quấy nhiễu của Chiêm Thành ở phía Nam,
đặc biệt là dưới thời vua chế Bồng Nga.
Cuộc chiến này làm hao tổn nặng nể quốc bố và sinh lực quân đội.
Trong bối cảnh Triều Đình dối ghen, Hồ Quý Ly, một đại thần ngoại thích có tải nhưng đầy tham vọng đã nổi lên.
Ông nắm giữ quyền lực ngày càng lớn, tiến hành hàng loạt cải cách nhằm cung cố quốc gia như cải cách tài chính, tiền tệ, giáo dục.
Cuối cùng, vào năm 1400, Hồ Quý Ly đã phế chốt vua Trần, lập ra nhà Hồ và đổi quốc hiệu là Đại Ngu,
chấm dứt kỷ nguyên rực rỡ của Đại Việt dưới thời nhà Lý và nhà Trần,
đồng thời mở ra một giai đoạn lịch sử mới đầy biến động và bi kịch với cuộc xâm lược của nhà mình ngay sau đó.
Các bạn vừa xem xong video, hãy cho tôi biết suy nghĩ của các bạn bằng cách comment bên dưới.
Bạn nghĩ gì qua video này? Nếu thích thì hãy like, share.
Đừng quên đăng ký và bấm chuông để không bỏ qua những video thú vị tiếp theo nhé!
