6 Truyền Thuyết Đáng Tự Hào Nhất Của Việt Nam Mà Không Phải Ai Cũng Hiểu Đúng
Vì sao Thánh Gióng giáng trần cứu nước rồi bay thẳng về trời? Vì sao Sơn Tinh và Thủy Tinh năm nào cũng giao tranh? Và vì sao Mai An Tiêm bị lưu đày nhưng cuối cùng lại gặp đại phúc?
Video hôm nay sẽ cùng bạn nhìn lại những huyền tích quen thuộc dưới góc nhìn sâu sắc hơn – nơi truyền thuyết không chỉ là chuyện xưa, mà còn ẩn chứa đạo lý, nhân quả và mối liên hệ giữa Trời – Đất – Con Người.
00:00 6 Truyền Thuyết Đáng Tự Hào Nhất Của Việt Nam Mà Không Phải Ai Cũng Hiểu Đúng 00:45 Mộ Thần Cuống Giao Long – Ký ức linh thiêng của sông núi 02:25 Thánh Gióng giáng trần – Khi Trời không bỏ rơi con người 05:36 Sơn Tinh – Thủy Tinh – Cuộc chiến chưa từng kết thúc 08:48 Mai An Tiêm và quả dưa hấu – Nhân quả và Thiên mệnh 11:38 Truyền thuyết Hồ Gươm – Gươm Trời trả lại cho Trời 13:50 Truyền thuyết Hồ Tây – Hồ Linh Đàm – Linh địa Thăng Long
👉 Nếu thấy ý nghĩa, LIKE 👍 – ĐĂNG KÝ 🔔 – CHIA SẺ ❤️ để lan tỏa giá trị văn hóa Việt nhé!
6 CHUYỆN THIẾT TỰ HÀO NHẤT CỦA VIỄN NAM MÀ KHÔNG PHẢI AI CŨNG HIỂU ĐÚNG
Vì sao thanh gióng dáng trần cứu nước rồi bay thẳng về trời?
Tại sao dân tinh năm nào cũng đối đảo với thủy tinh?
Tại sao mai an tiêm bị lưu đầy mà vẫn gặp phúc lớn?
Tại sao người xưa luôn tin rằng trời đất và người vốn chưa từng tách rời nhau?
Hãy cùng làm sáng tỏ những nguyền cơ đằng sau những chuyện thiết này trong video ngày hôm nay các bạn nhé!
SỰ TÍCH VỀ MỘ THẦN CÚONG GIAO LONG
Trong tầm thức dân gian Việt Nam, Giao Long là linh vật mang ráng rồng, có màu,
giống ẩn mình ở những nơi sâu nhất của ao hồ, sông, suối.
Loài vật này được cho là có linh tính và quyền năng lớn, thường giúp đỡ người lương thiện,
nhưng cũng có thể hô phong hoán vũ, nhấn chìn tàu thuyền khi bị xâm phạm.
Từ xa xưa tại xã Khúc Phụ, Thổ Bình, nay thuộc tỉnh Tuyên Quang,
người dân vẫn chuyển nhau một câu chuyện kỳ lạ về Giao Long trắng.
Ngày ấy, ở thôn Mô Cuống, có một bà lão hóa phụ,
sống đơn độc, ngay ngay ra thác cuống bắt tôm cá mưu sinh.
Một hôm, bà nhìn thấy một quả trứng màu trắng to gần bằng trứng gà, sợ hãi bà nhặt trứng ném đi.
Nhưng lạ thay, nhiều lần sau bà vẫn gặp lại quả trứng ấy ở những nơi khác.
Cuối cùng bà mang trứng về nhà cho gà ốc.
Khoảng một tháng sau, trứng nở ra một sinh vật thân dài như lươn.
Bà đem thả xuống suối Mô Cuống thì mới biết đó chính là Giao Long.
Giao Long trắng thuộc loài thủy tộc nhưng có thể hóa thành người,
nói được tiếng người, gọi bà lão là mẹ nuôi, ngay ngay bắt cá nuôi bà.
Dân làng ai cũng tin rằng đó là linh vật hiền lành, mang ân nghĩa.
Đáng tiếc trong một lần thủy chiến với Giao Long đen, Giao Long trắng không may tử nạn.
Ba ngày sau, sắc nó nổi lên đúng khúc suối cũ,
dân làng thương tiếc, đem trôn ở cánh đầu trước nhà bà lão.
Từ đó đến nay, mộ Giao Long vẫn còn được gọi là mộ thần cuống
và được người dân tôn thở như một vị thần linh hộ mạnh.
Mỗi năm vào tháng 2 âm lịch, dân bốn xã quanh vùng đều về đây giơ hương cúng tế.
Phải chăng Giao Long không chỉ là truyền thuyết mà là ký ức linh thiêng còn sót lại
của một thời con người sống gần gũi với thiên nhiên, kính sợ những linh vật của đất trời.
Bởi Giao Long không chỉ xuất hiện một lần mà còn hiện diện trong rất nhiều câu chuyện dân gian khác,
như thể muốn nhắc con người rằng thiên nhiên luôn có linh hồn và lòng thiện luôn được đáp đền.
Nhưng Giao Long không phải linh vật duy nhất từng hiện diện trong truyền thuyết Việt,
mà còn có những vị thánh giáng trần để nhắc con người nhớ đến trời đất.
Phụ đồng thiên vương còn được xưng hiệu là thiết sung thần tướng,
trong dân gian quen gọi là thánh gióng, là một trong những vị thánh thiêng liêng bậc nhất của người Việt.
Truyền thuyết về Ngài gần như ai cũng biết, từ người già đến trẻ nhỏ.
Ngài sinh ra sau khi mẹ ướm thử một dấu chân cổng lồ,
nhưng kỳ lạ thay, suốt ba năm đầu đời vẫn không biết nói, không biết cười, không biết đi,
đặt đầu thì nằm đó. Chỉ đến khi đất nước lâm nguy, Ngài mới đột nhiên lột xác, lớn nhanh như thổi,
một tay quét sạch rạc ân, đem lại bình yên cho muôn dân, rồi cưỡi ngựa bay thẳng về trời.
Nhưng liệu đó đã là toàn bộ câu chuyện, hay đằng sau thánh gióng còn ẩn trứa một bí mật sâu xa hơn,
lên qua đến niềm tin của con người đối với trời, đất, thần linh?
Theo sử sách nước ta, Kinh Dương Vương, vị vua đầu tiên, hốn là con chó thần nông,
con trai là Lạc Long Quân được coi như vị thần tiên bảo hộ con dân Bách Việt.
Vì vậy, trong suốt những thời kỳ đầu, cả triều đình lẫn dân gian đều kính trời tín thần,
sống thuận theo đạo trời đất.
Thế nhưng đến thời Hùng Huy Vương, vị Hùng Vương thứ sáu,
lòng người bắt đầu đổi khác, con người xa dỏi niềm tin vào thần,
thậm chí có nói nói và hành vi bất kính.
Ngay cả nhà vua cũng không còn giữ trọn truyền thống kính trời như các đời trước.
Khi có bậc dị nhân khuyên lên lập đàn tế lễ để xám hối với thần linh,
nhà vua lại xin nghi, chỉ cúng lễ đổ giả, không xuất phát từ tâm thành.
Hậu quả lập tức sáng xuống, lễ cúng không linh ứng, trong nước xuất hiện những điểm báo chẳng lành.
Ngọc Hoàng cảnh báo nếu không sớm ăn ăn sửa đổi, 3 năm sau nước Nam sẽ gặp đại nạn ngoại xâm.
Nghe vậy, hù huy vương kinh hãi, hối hận khôn nguôi.
Nhà vua lập tức đích thân tế trời, biết sớ dài cả mét,
thành tâm nhận lỗi và cầu xin thần linh tiếp tục bảo hộ con dân Bách Việt.
Và trời không tuyệt đường sống của ai, 3 năm sau, giác ân vẫn kéo đến như thiên mệnh đã định.
Nhưng Ngọc Hoàng đã an bài, sẽ cho nhân tài giang thế để cứu nước, đó chính là cậu bé Thiết Đỏng.
Mới 3 tuổi, khi xứ giả đi khắp nơi tìm người tài, cậu bé bất ngờ gắt tiếng,
tự xưng ta là Thiết Xuân Thần Tướng, trời sinh ra để giúp nước dẹp loạn cứu dân.
Ngươi về tâu vua chuẩn bị cho ta ngựa sắt 10 thước,
roi sắt 10 thước, nón sắt 3 thước, có đủ những thứ ấy, vua không phải nói gì nữa.
Từ đó, cậu bé ăn bao nhiêu cũng không đủ, thân hình lớn nhanh như thổi.
Khi giặc kéo đến núi Châu, Thiết Xuân Thần Tướng khoác sắp sắt,
cưỡi ngựa sắt, xông thẳng vào quân thù, ánh tan giác ân trong trước mắt.
Sau khi dẹp yên bờ cõi, ngay cuối đầu ta ơn cha mẹ,
rồi cữa ngựa bày thẳng lên trời giữa ban ngày, gọi là bành nhật thi thăng.
Câu chuyện thanh gióng không chỉ là truyền thuyết anh hùng,
nó là lời nhắc nhở sâu xa dành cho con người.
Khi con người kính trời trọng thần giữ lòng thành,
thì dù tai ươm có đến, trời cũng sẽ để lại núi thoát.
Còn khi con người xa rời đạo trời, thì biên cố chỉ là hệ quả tất yếu.
Thanh gióng dáng trần để cứu nước, nhưng cũng để điểm hóa lòng người,
thần linh vẫn hiện diện quanh ta, chỉ là con người còn có chịu tin hay không.
Khi thần từng dáng thế cứu nước, thì thiên nhiên cũng từng lên tiếng cảnh báo cho con người.
Chuyển thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh
Lại một mùa mưa bão nữa đang đến gần, khắp nơi nước dâng trắng xóa,
có chỗ ngập tới nửa thân người, có nơi dòng nước cuốn trôi cả xe cộ nhà cửa.
Mỗi lần như vậy, người ta lại nửa đùa nửa thật rằng,
chắc Sơn Tinh lại đánh nhau với Thủy Tinh rồi.
Nhưng ít ai biết rằng, Sơn Tinh không chỉ là nhân vật trong truyền thuyết.
Theo nhiều thư tịch cổ và truyền ngôn dân gian, Sơn Tinh là một nhân vật có thật,
sinh ra và lớn lên ngay trên mảnh đất Việt Nam này.
Từng truyền dưới thời Hùng Vương thứ 18, bạn Động Lăng Sương Phú Thọ,
có vợ chồng ông Nguyễn Cao Hạnh và bà Đinh Thị Điêng, sống bằng nghề đốt than trong rừng.
Một lần bà Điêng vào rừng kiếm củi, bỗng thấy một con dòng từ trên cao xà xuống.
Từ đó bà mang thai và sinh ra một cậu bé đặt tên là Nguyễn Tuấn, sau này chính là tản viên Sơn Thánh.
Khi Nguyễn Tuấn lên 6 tuổi thì cha mất, 12 tuổi lại mồ côi mẹ.
Cảm động trước số phận và đức hạnh của cậu bé, bà Ma Thị Cao Sơn,
người cai quản núi Ba Vì, đã nhận Nguyễn Tuấn làm con nuôi.
Lớn lên trong núi rừng, Nguyễn Tuấn sớm bậc lộ lòng hiếu nghĩa và chỉ dũng hơn người,
càng không chỉ trở thành tù trưởng cai quản cả vùng núi Ba Vì rộng lớn,
mà còn được thái bạch Kim Tinh đích thân giáng thế.
Truyền dạy cho võ nghệ cao cường và các phép thuật thần tiên.
Có tài, có đức, lại mang tâm nguyện cứu người.
Nguyễn Tuấn chu ru khắp nơi giúp dân trừ tai ách, dẹp yêu tà, cứu người gặp nạn.
Từ đó, nhân dân khắp vùng tôn kính chàng là Đức Thánh Tản, Thánh Tản viên,
hay gọi bằng cái tên quen thuộc Sơn Tinh.
Cũng vào thời gian ấy, tại kinh đô Phong Châu, vua hùng có công chúa mị nương,
sắc đẹp tuyệt trần, mở hội kén phỏ mã.
Sơn Tinh linh kinh ứng tuyển và tại đây, lần đầu tiên đối mặt với Thủy Tinh,
vị thần đến từ miền biển, cũng mang pháp lực phi thường.
Sau nhiều vòng tranh tài, Sơn Tinh đã chuẩn bị sinh lễ nhanh hơn,
phận lợi giúp công chúa mị nương về núi.
Bị mất mặt, Thủy Tinh nổi giận, hô phong hoán vũ, gọi mưa gọi gió,
làm thành dông bão cuồn cuộn, nước dân ngập trời, dung chuyển cả đất trời.
Nhưng Sơn Tinh không hề nao núng, nước dân cao bao nhiêu, núi đồi lại mọc cao bấy nhiêu.
Hai bên giao tranh suốt nhiều tháng trời, cuối cùng Thủy Tinh đuối sức, buộc phải rút quân về biển.
Từ đó, oán càng sâu, thu càng nặng.
Năm nào Thủy Tinh cũng dâng nước đánh Sơn Tinh, làm mưa, làm bão, gây lũ lụt khắp nơi.
Và năm nào cũng vậy, Sơn Tinh vẫn giữ được núi, giữ được đất, giữ được sự sống cho con người.
Nhưng chuyển tiết Sơn Tinh-Thủy Tinh không chỉ kể về cuộc chiến của hai vị thần,
nó còn là lời nhắc nhở sâu xa dành cho con người.
Núi tượng trưng cho sự bền vững, đạo lý, nền tảng.
Nước tượng trưng cho sự biến động, tham vọng, sức mạnh, khó kiểm soát.
Khi con người biết giữ núi, giữ rừng, giữ đạo trời,
thì dù nước có dân cao đến đâu vẫn còn chỗ đứng để sinh tồn.
Nhưng khi con người tàn phá núi rừng, khoai thường thiên nhiên,
thì cuộc giao tranh ấy sẽ không bao giờ chấm dứt.
Và kẻ chịu hậu quả cuối cùng không phải là thần mà chính là con người.
Có lẽ vì thế mà đến tận hôm nay, mỗi mùa mưa bão trở về,
người xưa vẫn nói cuộc chiến giữa sân tinh và thủy tinh vẫn chưa từng kết thúc.
Và có lẽ không chỉ núi sông, mà cả số phận con người cũng chịu sự an bài của thiên mệnh.
Ít ai biết rằng, quả dưa hấu quen thuộc lại khởi nguồn từ một truyền thuyết cổ,
phản ánh rõ nét tư tưởng nhân quả và thiên mệnh của người Việt từ thời Vùng Vương.
Chuyện kể rằng, vào thời vua Hùng, có một người tên là Mai An Tiêm.
Thủa ban đầu, An Tiêm chỉ là nô bọc trong chiều,
nhưng nhờ diện mạo đoan chính, tư chất thông minh, lại chăm chỉ cần mẫn.
Ông dần được vua yêu mến, ban cho làm quan cuộc sống ngày một phú quý, bổng lọc rùi rào.
Thế nhưng khi đã no đủ, An Tiêm sinh tâm tự mãn.
Ông thường nói, phú quý này là do tiền thân của ta, chứ không phải nhờ ơn vua.
Lời ấy đến tay nhà vua, vua nghe xong vừa giận vừa buồn,
cho rằng An Tiêm coi nhẹ ân đức chiều đình.
Bèn hạ lệnh đầy cả gia đình ông ra ngoài cửa biển Nga Sơn,
nơi bốn bẻ chỉ có cát trắng và sóng nước, không bóng người qua lại.
Bị lưu đầy đến vùng hoang vu, An Tiêm không oán than.
Ông cùng vợ chăm chỉ khai hoang, trồng trọt, sống dựa vào thiên nhiên.
Cuộc sống ban đầu vô cùng khốn khó, nhưng An Tiêm vẫn điểm tĩnh mà nói với vợ,
sống chết có trời, ta không lo.
Một ngày nọ, ông phát hiện những hạt giống lạ do chim từ phương Tây mang tới,
An Tiêm đem reo xuống cát, cần mẫn chăm sóc.
Vài tháng sau, cây da hoa kết trái, thứ quả ấy vỏ xanh, ruột đỏ,
vị ngọt mát, nhiều nước, ăn vào giải khắc lạ thường.
Không biết gọi là quả gì, An Tiêm nghĩ chim mang hạt từ phương Tây đến,
nên đặt tên là Tây qua, tức dưa hấu.
Người dân thường lái đi ngang qua đếm thử, ai cũng khen ngon,
người dân xa tìm đến mua quả, chim giống.
Nhờ đó gia đình An Tiêm không những sống sót mà còn dần xuân túc trở lại.
Về sau, vua hùng nhớ đến An Tiêm, xoay gửi ra biển xem ông còn sống hay đã chết.
Ai ngờ, An Tiêm không chỉ sống tốt, mà còn làm giàu từ chính lơi nưu đẩy.
Vua nghe xong thở dài mà nói, hẳn nói phúc lọc do tiền thân,
quả thực không phải lời hư dối.
Nhà vua bèn triệu An Tiêm về chiều, phục chức cũ, ban thêm ruộng đất và nô tì.
Theo định nam chích quái, chuyện mai An Tiêm dưa hấu không chỉ giải thích nguồn gốc của quả dưa hấu,
mà còn phản ánh nhận thức rất sớm của người Việt về luật nhận quả và thiên mệnh.
Ban đầu, An Tiêm nói đó là do tiền thân, tức kiếp trước đã gieo thiện nhân,
nên đời này mới được hưởng phúc.
Khi bị đày ra hoang đảo, ông vẫn tin trời cho đẻ nuôi ta.
Điều ấy cho thấy, phúc họa không đến ngẫu nhiên,
thiên mệnh an bài giữa trên thiện ác con người đã tạo.
Người làm điều thiện, dù có lúc lâm vào nghịch cảnh, cuối cùng vẫn có đường sống.
Người sống thuận theo đạo trời, thì dù ở nơi hoang vu, trời cũng để lại một con đường.
Vì vậy, truyền thuyết mai An Tiêm không chỉ là chuyện về một loại quả,
mà là lời nhắc nhỏ nhẹ nhàng nhưng sâu sắc.
Sống khiêm nhường, tin vào nhân quả, giữ đạo đức và thiện tâm,
rồi quả ngọt sớm hay muộn cũng sẽ đến.
Nhân quả hiện diện trong đời sống, và dấu ân ấy còn in sâu trên từng vùng đất linh thiêng.
Có một sự thật mà không phải ai cũng biết.
Trước khi mang tên Hồ Gươm hay Hồ Hoàn Kiếm, nơi đây từng có rất nhiều tên gọi khác nhau,
mỗi cái tên lại gắn với một lát cắt lịch sử riêng của thăng long xưa.
Người xưa từng gọi Hồ là Lục Thủy, bởi mắt nước xanh biếc quanh năm.
Có thời kỳ Hồ mang tên Thủy Quân,
vì triều đình dùng nơi đây để luyện tập thủy binh, chuẩn bị cho những cuộc chiến bảo vệ kinh thành.
Và rồi đến đầu thế kỷ 15, Hồ Nớn này chính thức mang cái tên Hồ Gươm, Hồ Hoàn Kiếm,
gắn liền với một truyền thuyết thiêng liêng bậc nhất trong lịch sử dân tộc,
Hua Lê Thái Tổ trả gươm báu cho Dùa Thần.
Từng truyền rằng vào khoảng năm 1407, dân Minh tràn sang đô hộ nước ta vô cùng tàn bạo.
Chúng coa dân dân như cỏ rác khiến lòng dân oán rận khắp nơi.
Ở vùng Nam Sơn, nhiều nghĩa quân nổi dậy chống giặc nhưng đều gặp môn vản gian khó.
Thường cảnh dân trăm bè phổ cực, Đức Long Quân quyết định cho mượn gươm thần để giúp người anh hùng cứu nước.
Phần lưỡi gươm khắc hay chữ Thuận Thiên được trao cho ngư dân Lê Thận cho một lần đi đánh cá.
Còn chuôi gươm có nạm ngọc lại cố ý để Lê Lợi bắt được trong một lần chạy vào rừng tránh sự suy đuổi của giặc.
Về sau khi Lê Thận gia nhập nghĩa quân Nam Sơn,
Lê Lợi đem chuôi gươm mình có tra vào lưỡi gươm của Lê Thận thì vừa khít như in.
Ai nến đều tin rằng đây chính là gươm báu ra trời ban.
Từ đó, nhuệ khí nghĩa quân ngày một tăng cao, gươm thần tung hành khắp trận mạc,
giúp đánh tan quân Minh khôi phục nền độc lập cho Đại Việt.
Ngày 15 tháng 4 năm 1428, sau mười năm gian khổ,
Lê Lợi chính thức lên ngồi Hoàng đế, mở ra một thời kỳ Thái Bình mới cho đất nước.
Một năm sau, trong một lần vua Hùng cùng quần thần dạo thuyền trên hồ Lục Thủy,
rùa vàng bất ngờ nổi lên.
Khi vua tuốt gươm, rùa liền ngậm lấy thanh gươm báu rồi lặn xuống đáy hồ, không bao giờ nổi lên nữa.
Nhà vua hiểu rằng trời cho mượn gươm để cứu dân, nay thiền hạ Đa Yên thì gươm phải trở về trời.
Từ đó, hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm, hồ gươm để ghi nhớ mã sự kiện thiên liêng ấy.
Và đã nhắc đến hồ gươm rồi, nếu không tìm hiểu thêm truyền thuyết hồ Tây
thì quả thật chưa trọn vẹn một vòng linh địa Thăng Long.
Nhắc đến những vùng đất gắn với huyền thoại nhiều bọc nhất của Thăng Long, Hà Nội,
hồ Tây luôn là cái tên được nhắc đến đầu tiên.
Không chỉ nổi tiếng về mặt tâm linh, hồ Tây còn là hồ nước tự nhiên lớn nhất nội thành,
xưa nằm ở phía Tây Kinh Thành, vốn là dấu tích của sông Cái đổi dòng.
Ngày nay, hồ có diện tích hơn 500 hectare, chu vi khoảng 14,8 km2, nằm trọn trong lòng thủ đô.
Trong rất nhiều huyền thoại gắn với hồ Tây,
truyền thuyết Châu Vàng là câu chuyện được lưu truyền rộng rãi và linh thương bọc nhất.
Tự chuyển vào thời nhà Lý, nước ta có thiền sư Nguyễn Minh Không,
người nổi danh khắp nơi vì tài y thuật cao minh.
Nhờ tài năng ấy, ngay được phong làm lý triều quốc sư,
từng được cử sang phương Bắc chữa bệnh cho hoàng tử nhà Tống.
Sau khi bệnh được chữa khỏi, vua Tống cho phép Nguyễn Minh Không chọn vật bó mang về làm quà.
Thế nhưng, quốc sư không xin vàng vàc châu báu, mà chỉ xin một túi đồng đen.
Mang đồng đen về nước Nam, Ngài cho đúc một bảo tháp 9 tầng,
một tượng Phật lớn và đặc biệt là một quả chuông khổng lồ.
Ngày chuông được đánh thử, tiếng chuông vang xa 4 cõi, rồi sang tận phương Bắc.
Nơi ấy có một con châu vàng, nghe tiếng chuông tưởng mẹ gọi.
Liên hung phục lao sang phương Nam tìm kiếm.
Dấu chân đi đến đâu, đất lún xuống đến đó, tạo thành một con sông.
Người đai sau gọi là sông Kim Nghiêu.
Khi châu chạy đến vùng phía Tây kinh thành thăng long,
thì tiếng chuông bỗng dừng lại, không tìm thấy mẹ.
Châu vàng nổi cơn lỏng nộn, dày xéo đất đai khiến mặt đất xuất xuống,
hình thành một hồ nước lớn.
Hồ ấy được gọi là Hồ Kim Nghiêu và chính là Hồ Tây ngày nay.
Ngoài tên Kim Nghiêu, Hồ Tây trong lịch sử còn mang nhiều tên gọi khác như Đoài Hồ,
Diêm Hồ, Liêm Đàm và đặc biệt là Đầm Sát Cáo,
gắn với truyền thuyết Lạc Long Quân diệt Hồ Tinh, một con cá chỉ đuôi truyền hại dân lành.
Mỗi tên gọi là một lớp huyền tích,
một dấu ấn tâm linh khiến Hồ Tây trở thành vùng đất vừa linh thiêng,
vừa bí ẩn bậc nhất kinh thành xưa.
Ngoài Hồ Tây và Hồ Gươm, Hà Nội còn có một hồ nước mang màu sắc tâm linh rất đặc biệt,
đó là Hồ Linh Đàm, nằm ở khu vực Ngoại Thành.
Tương truyền nơi đây từng là chốn trú ngụ của Thần Dòng,
vị thần từng hóa thân thành một cậu học trò theo học Thầy Chu Văn An.
Còn năm hạn hán khốc liệt, vì thương dân,
Thần Dòng đã hút mực trong các nghiên bút khuôn lên trời cầu mưa cú hạng.
Việc nghịch thiên ấy khiến thiên đình nổi giận, dám tội chết.
Khi thần hóa, mực tràn ra khiến mặt hồ đen kịt, từ đó hồ mang tên Linh Đàm.
Người dân nhớ ơn, lắp đen thờ Thần Dòng xem nơi đây là chốn linh thiêng.
Không chỉ gắn với huyền tích, Hồ Linh Đàm còn in giấu lịch sử hào hùng.
Tương truyền nơi này từng là mùa trôn hàng vạn quân thanh,
sau khi Nguyễn Huệ, Quang Trung, hành quân Thần Tóc
đánh tan đồn Ngọc Hồi và tiến vào giải phóng Thăng Long vào mùa 5 tuết kỳ rộng 1789.
Lịch sử và tâm linh giao hòa khiến vùng hồ này mang một khí chất rất riêng.
Vì vậy, dù là nơi nổi tiếng, các bạn cũng không nên xuống tắm,
bởi đã từng xảy ra không ít trường hợp tàn nạn thương tâm tại đây.
Những triển thuyết xưa không chỉ để kể cho vui, càng không phải chuyện hư ảo của quá khứ.
Đó là ký ức linh thiêng mà cha ông để lại nhắc con người biết kính trời trọng thần,
sống thuận đạo và gìn giữ thiên nhiên.
Khi con người còn giữ được lòng thiện và sự kiêm nhường,
thì dù biến động có đến, đất trời vẫn trở lại một con đường bình an.
Cảm ơn các bạn đã theo dõi video. Xin chào và hẹn gặp lại!