YD_ Du lịch Huế_ thăm Lăng vua Minh Mạng và Lăng vua Gia Long _ Yêu Máy Bay

Du lịch và âm thực Việt Nam.
32 Người theo dõi
Comments are disabled for this video.
Trở lại Huế, mình dành thời gian để đi chậm rãi trong những di tích cổ xưa,
tìm hiểu những câu chuyện đằng sau và tận hưởng bầu không khí trong lành nơi cố đô.
Từ một khách sạn gần 125 năm tuổi, nơi từng đón tiếp những nhân vật lịch sử,
cho đến những lăn tẩm của những vị vua triều Nguyễn hay cung điện xưa cũ,
dù nhúm màu thời gian vẫn giữ vẻ lộng lẫy.
Lần này đến Huế, cơ duyên đã giúp cho mình có cơ hội vào tham quan đại nội và bang đêm trong ánh đèn rực rỡ.
Các bạn cùng theo dõi hành trình đến Huế với Travip nha!
Mình vô tình đặt phòng tại khách sạn này để giới thiệu với các bạn một khách sạn cũng có tuổi đời rất là lâu ở Huế.
Khách sạn thì đã có từ năm 1901, tức là cách đây 124 năm rồi.
Và bây giờ thì chúng ta tham quan một vòng khách sạn trước khi tham quan Huế nha!
Giữa không gian phố xá nhộn nhịp, khách sạn Saigon Morin mang dáng vẻ xưa cũ vẫn ở vị trí này sau gần 125 năm.
Khách sạn ra đời vào năm 1901, hai năm sau khi cây cầu Trường Tiên được khánh thành, trải qua hơn một thế kỷ tồn tại.
Khách sạn cũng chứng kiến những giai đoạn thăng trầm của Huế.
Nhắc đến cái tên Morin hay là Mohon, không thể không kể về giọng họ Mohon vào thế kỷ thứ 19.
Hãy cùng quay ngược thời gian về nhiều năm trước khi khách sạn ra đời.
Họ đến từ Agbois ở miền đông nước Pháp. Sau khi hết quân ngũ, họ quyết định ở lại Việt Nam lập nghiệp.
Là hai anh lớn trong một gia đình nghèo gồm bảy người con, họ đưa cả gia đình sang Đông Dương vào năm 1898,
nơi họ sẽ bắt đầu mọi thứ lại từ đầu. Các anh chị em làm việc trong nhiều cửa hàng, cử hiệu hoặc làm cảnh sát với số lương không nhiều.
Theo câu chuyện được ghi lại trên trang web của khách sạn, năm 1902, bốn trong số các anh em là Emin, Vladimir,
Lord và Amelie đến định cư ở Turgon, ngày nay là Đà Nẵng, để tiếp quản cơ sở kinh doanh của ông Garcia.
Công ty anh em nhà Mohon ra đời từ đây. Công việc làm ăn thuận lợi nhờ vào tài năng của Vladimir.
Năm 1907, anh em nhà Mohon đã mua là khách sạn Grand Hôtel Guerin de Hué.
Khách sạn này được xây dựng vào năm 1901 và là khách sạn duy nhất ở Huế vào thời điểm đó.
Khách sạn như một sĩ quan người Pháp là Henri Bogart, xây nên dở vào việc kinh doanh thuận lợi sau khi giải ngủ và mua lại một nhà máy gạch.
Năm 1905, nhà buôn người Pháp Alphonse Gohan đã mua lại khách sạn, lấy tên là Grand Hôtel Gohan de Hué.
Năm 1907, khách sạn được bán lại cho anh em nhà Mohon và được đổi tên thành Hôtel Mohon Faire hay Khách sạn Anh Em Nhà Morin.
Về công việc kinh doanh, anh em nhà Mohon cũng thành công khi nhiều khách sạn anh em nhà Mohon được mở ở những nơi khác như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang,
đón tiếp nhiều vị khách đến từ châu Âu và cả những nhân vật nổi tiếng.
Đáng chú ý, suite 111 đã từng đón tiếp vợ chồng vua hề Jacqueline Chaplin vào năm 1936.
Trang web của khách sạn cũng có kể một chi tiết thú vị, đó là khách sạn đã trở thành một nơi kiểu như siêu thị, đáp ứng hầu như mọi nhu cầu của khách hàng.
Khách sạn đã từng trưng biểu ngữ viết rằng, chúng ta có thể được sinh ra trong một chiếc nôi của Mohon và chết trong một chiếc quăng tại của Mohon.
Ý nói đến sự đầy đủ và đa dạng trong các vật hàng mà nhà Mohon cung cấp, thư viện Rạp Du Phim cũng từng có ở khách sạn.
Khách sạn trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của thời gian và lịch sử, không ít lần bị hư hại.
Tháng 7 năm 1951, nhà Mohon bán khách sạn cho một doanh nhân Việt Nam, chấm dứt lịch sử 44 năm của gia đình tại khách sạn này.
Năm 1957, tòa nhà được sử dụng làm trụ sở Đại học Huế.
Năm 1989, sau khi chuyển giao cho văn phòng du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế, tòa nhà lại một lần nữa là khách sạn bình dân, đối tượng khách chủ yếu là khách du lịch ba lô và khách du lịch tự túc.
Năm 1994, khách sạn được tái thiết và trụng tu.
Lần này đến Huế, mình quyết định ở lại khách sạn, một phần cũng để tìm hiểu về câu chuyện đằng sau, cũng như tận hưởng không gian cổ kính tại đây.
Đồng hành với mình trong chuyến đi này là một nhà sáng tạo nội dung ở Huế.
Bạn nào từng xem vlog trước của mình về Huế, có lẽ đã biết về bạn Đào Hữu Quý.
Hai anh em mình đi ăn trưa, rồi sau đó lên đường ngay đến địa điểm đầu tiên, đó là Lăng Vua Minh Mạng.
Từ trung tâm thành phố đến Lăng Vua Minh Mạng chừng 14 km, đi mất nửa tiếng là tới nơi.
Quan cảnh hai bên đường đi đẹp, thanh bình. Đến nơi thì mình mua vé vào cổng là 150.000 đồng một người.
Đường vào Lăng được hàng cây cháy bóng mát và cũng rất đẹp. Lăng Vua Minh Mạng hay có được gọi là Hiếu Lăng.
Công trình được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 thì hoàn thành.
Theo được biết thì là ông Vua Minh Mạng thì là ông ấy trị vị trong vòng 21 năm, từ năm 1820 đến năm 1841.
Nhưng mà thông tin anh đọc được là cái Lăng này là xây từ năm 1840,
tức là trước khi ông qua đời là một năm đúng không em?
Dạ đúng rồi. Thực ra cái Lăng nó đối với người Việt, triều Đài Nguyễn,
thì cái Lăng không chỉ đơn giản là nơi trốn cất của Vua.
Mà khi mà Vua còn sống và cái trị thì Vua sẽ lên cái Lăng của mình để nghỉ ngơi,
hay là giống như kiểu ngôi nhà tệ hại vậy.
Và khi mà Vua mất thì tất cả cả cái ba hâu của Vua,
do cái ba phí của Vua thì sẽ phải lên Lăng ở để coi như là giống như kiểu là
lo hướng khỏi và nhãn khỏi của Vua cho những thế hệ sau.
Vua Minh Mạng là vị Vua thứ hai của triều Nguyễn.
Vào tháng 2 năm 1820, sau khi Vua Gia Long qua đời,
hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc đảm nối ngôi, lấy niên hiệu là Minh Mạng.
Các tài liệu ghi chép cho biết sau khi lên ngôi 7 năm, nhà Vua tìm đất xây dựng Lăng cho mình.
Quang địa lý Lê Vân Đức đã tìm được một khu đất ở núi Cẩm Kê gần ngã 3 Bằng Lãng,
nơi hợp lưu của hai dòng Tả Trạch và Hữu Trạch thành dòng Sông Hương.
Sau tận 14 năm cân nhắc thì đến năm 1840, nhà Vua mới quyết định xây Lăng ở đây,
đổi tên núi Cẩm Kê thành Hiếu Sơn, gọi tên Lăng là Hiếu Lăng.
Theo thông tin mình tìm hiểu được trên Cổng Thông tin Điện tử Trung tâm Bảo tồn Di tích cổ đô Huế,
khi vào tháng 8 năm 1840, nhà Vua ra lệnh ngưng xây Lăng và gián chức một số quan trông coi
việc xây dựng do không vừa ý việc đào hồ Trận Minh. Việc xây Lăng tiếp tục một tháng sau đó.
Tuy nhiên, đến tháng 1 năm 1841, Vua Minh Mạng băng hà, Vua Thiệu Trị lên nối ngôi.
Rất nhanh sau đó, vào tháng 2, Vua Thiệu Trị đã ra lệnh tiếp tục xây Lăng theo họa đồ Vua Cha để lại,
với sự tham gia thi công của khoảng 10.000 lính và thợ.
Tháng 8 năm 1841, thi hài Vua Minh Mạng được đưa vào chung cất trong Bữu Thành.
Tuy nhiên, việc xây Lăng vẫn tiếp tục cho đến năm 1843 mới hoàn thành.
Coi theo thông tin được ghi trên bản thông tin tại Lăng thì công trình nhìn về hướng Nam có vòng
thành bão bọc dài gần 2.000 mét, diện tích bên trong khoảng 15 hectare.
Trong khu vực Lăng Tẩm có khoảng 40 công trình kiến trúc. Các công trình chính thuộc khu vực Tẩm Điện
và Lăng được phân bố trên trục thần đạo dài 700 mét, bao gồm Đại Hồng Môn là cổng chính,
Bái Đình là sân chầu, Bi Đình nơi có bia ca ngợi công đức của nhà vua, Sung Ân Điện,
điện thờ vua và hoàng hậu, Minh Lâu là nơi vua khóng mát, Bữu Thành và Huyền Cung là nơi đặt thi hài nhà vua.
Đầu tiên là Đại Hồng Môn là cổng chính vào Lăng, cổng xe bằng vôi và gạch,
cao 9 mét, rộng 12 mét với 3 lối đi được trang trí với những đường nét tinh xảo.
Theo các thông tin mình đọc trên trang web của Trung tâm Bảo tồn Di tích cổ độ Huế thì cổng chỉ được mở một lần
để đưa quang tài của vua Minh Mạng vào Lăng, sau đó được đóng kín.
Việc ra vào sau đó đều thông qua hai cổng phụ là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn.
Tiếp đó sau Đại Hồng Môn là Bái Đình nơi được lát gạch bát tràn, sân Bái Đình rộng 45 x 45 mét,
bên trong có hai hạng tượng quan văn võ, voi ngựa đứng chầu bằng đá thanh,
tượng trân cho lực lượng theo hầu và bảo vệ nhà vua ở thế giới bên kia.
Cuối sân là Bí Đình, tòa lạc trên phụng thần Sơn, bên trong có bia Thánh Đức Thần Công bằng đá,
trên đó có các bài văn dài hơn 2.500 chữ của vua Thiệu Trị viết về tiểu sử và các ngợi công đức
của vua cha Minh Mạng cũng như mô tả quá trình xây Lăng. Bí được làm bằng đá thanh, cao 3,2 mét, rộng 1,8 mét.
Sau Bí Đình là Sơn Triều Lễ, được chia làm bốn bậc lớn,
được nói là để giảm bớt cảm giác choáng ngợp trước không gian rộng lớn của công trình này.
Đi qua Sơn Triều Lễ là Hiển Đức Môn, mở đầu cho khu vực tẩm điện. Theo thông tin tại đây thì Hiển
Đức Môn là cổng chính của khu tẩm thờ, có kiến trúc dạng tam quan. Công trình được xây dựng vào năm 1843.
Đi qua Hiển Đức Môn là Sùng Ân Điện, trong điện có thờ bài vị của vua Minh Mạng và Hoàng hậu
tá Thiên Nhân Hồ Thị Hoa. Điện được xây từ năm 1840 đến năm 1843, được tu bổ vào các năm 1998 và 2000.
Hiện việc quay phim, chụp ảnh bên trong điện không được phép nên mình không thể chia sẻ với các bạn,
nhưng mà đây cũng là dịp để các bạn có thể đến đây tham quan nhé.
Đi ra phía sau Sùng Ân Điện, mình ngỡ ngàng trước cảnh xác hiện ra sau một cánh cổng. Cánh cổng đó là
Hoàng Trạch Môn. Bước đến Hoàng Trạch Môn, bước chân của mình như chững lại, chỉ để lặng nhìn khung cảnh tuyệt
đẹp trước mắt. Đó là kiến trúc cổ xưa sen giữa cỏ cây hoa lá, trông nhẹ nhàng và thanh thoát.
Bước qua 17 bậc đá với độ dốc khá cao, mình tiến vào không gian tuyệt đẹp này.
Cây cầu mình đang đi chính giữa là Trung Đạo, cầu bên trái là Tả Phù, cầu bên phải là Hữu Bật.
Cả ba cây cầu bắt qua Hồ Trừng Minh. Qua cầu thì mình cũng đến Minh Lâu.
Tên gọi Minh Lâu có nghĩa là ngôi lầu tỏa sáng, với ý nghĩa tôn vinh, tài năng, công đức của vua Minh Mạng.
Theo Trung tâm Bảo tồn Di tích Cổ đô Huế, đây là nơi nhà vua suy tư vào những đêm hè trăng thành gió mát,
là nơi đi về của linh hồn tiên đế. Cung trình là một kiến trúc gỗ hai tầng tiêu biểu của Triều Nguyễn, đặt trên núi Tam Tài.
Minh Lâu được xây dựng năm 1841. Phía sau Minh Lâu có hai trụ biểu cao lớn dựng trên Bình Sơn và Thành Sơn.
Hai trụ biểu này mang ý nghĩa nhà vua đã bình thành công đức trước khi băng hè.
Tiếp đến là Tân Nguyệt, một hồ nước hình trăng non ôm lấy bữu thành.
Hồ nước được ví như yếu tố âm, bao bọc cho yếu tố dương là bữu thành, biểu tượng của mặt trời.
Cái cầu dẫn mình qua hồ Tân Nguyệt là cầu thông minh chính trực.
Bữu thành là vòng tường thành bảo vệ một phần nhà vua. Vòng tường thành hình tròn, dài 285m, cao 3m, có 33 bậc tam cấp dẫn lên cửa thành.
Thời xa xưa, cửa thành chỉ mở mỗi năm một lần vào dịp dỗ nhà vua.
Bên trong bữu thành là huyền cung, là một cung điện đặc ngầm trong lòng đất, nơi đặc thi hài nhà vua.
Theo bản thông tin tại đây thì sau khi vua Minh Mạng băng hà,
quang tài của ông được đưa vào huyền cung thông qua đường hầm là tọa đạo và sau đó nơi này được lấp lại vĩnh viễn.
Bữu thành và huyền cung được xây dựng năm 1841.
Nếu có thời gian nhiều hơn, khi đến lăng vua Minh Mạng, các bạn có thể chậm bước qua nhiều khu vực khác
để cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của lăng.
Lăng vua Minh Mạng cũng được đánh giá là một tác phẩm kiến trúc xuất sắc trong dòng kiến trúc cung đình Việt Nam.
Rồi lăng vua Minh Mạng, mới tiếp tục ghé thăm một lăng nữa, đó là lăng vua Gia Long.
Khoảng cách giữa hai lăng là gần 7 km, đi khoảng 15 phút.
Lăng vua Gia Long nằm ở một khu vực yên tĩnh và sanh mát.
Theo mình tìm hiểu thì lăng vua Gia Long bao gồm cả một quân thể lăng tẩm của nhiều người trong hàng quyến thuộc của nhà vua.
Trung tâm quân thể là khu lăng mộ của vua Gia Long và Thừa Thiên Ca Hoàng Hậu.
Giá vé vào tham quan lăng vua Gia Long là 150.000 đồng.
Đến đây thì ngoài đi bộ, du khách cũng có thể thuê xe đạp để đi qua các lăng tẩm trong khuôn viên.
Quân thể lăng vua Gia Long rất rộng nên mình thấy thuê xe đạp để di chuyển cũng là một ý hay.
Đường đi trong khuôn viên quân thể được tôn tạo rất đẹp, đường băng phẳng, sạch sẽ, cây cối hai bên sanh mát, thanh bình.
Vua Gia Long sinh năm 1762 và mất năm 1820, tên húy là Nguyễn Phúc Ánh.
Ông là vị vua sáng lập triều Nguyễn, lấy niên hiệu là Gia Long.
Ông lên ngôi năm 1802, cho đến khi băng hà vào năm 1820.
Lăng vua Gia Long được xây dựng trong sáu năm, từ năm 1814 đến năm 1820.
Thời điểm lăng bắt đầu được xây là lúc bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu Tống Thị Lăng
là chính phi của nhà vua qua đời vào năm 1814.
Vua đã xài các quan trọng không thiên giám chọn đất để làm nơi an nghỉ cho bà.
Về sau, khu lăng mộ được phát triển thành một quân thể rộng lớn,
với chủ vị lên đến 11.234 mét, với nhiều lăng như là
Lăng Quang Hưng của bà Thái Tông Hiếu Triết Hoàng hậu, vợ thứ hai của Hiền Vương Nguyễn Phúc Tân,
thân mẫu của chúa Nguyễn Phúc Thái. Lăng Vĩnh Mẫu của bà Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng hậu,
vợ chúa Nghĩa Vương Nguyễn Phúc Thái. Lăng Trường Phong của Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế Nguyễn Phúc Thụ.
Lăng Thoại Thánh của bà Hưng Tổ Hiếu Khương Hoàng hậu, vợ thứ hai của ông Nguyễn Phúc Côn
và là thân mẫu của vua Gia Long. Lăng Hoàng Cô của thái trưởng công chúa Long Thành,
chị ruột của vua Gia Long. Lăng Thiên Thọ của vua Gia Long và vợ ông.
Lăng Thiên Thọ Hữu của bà Thuận Thiên Cao Hoàng hậu,
vợ thứ hai của vua Gia Long và cũng là mẹ của vua Minh Mạc.
Theo Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố Đô Huế, toàn bộ khu lăng là một quần thể gồm 42 đồi núi lớn nhỏ,
4 ngọn đồi, ngọn núi đều có tên gọi riêng. Trong số đó, Đại Thiên Thọ là ngọn lớn nhất,
được chọn làm tiền án của lăng và cũng được dùng để gọi tên chung cho cả cục đồi núi tại đây,
đó là Thiên Thọ Sơn. Đích thần vua Gia Long đã duyệt vị trí này làm lăng,
chỉ đạo thiết kế cũng như giám sát tiến độ thi công. Sứ liệu với lại rằng thầy địa lý Lê Duy Thanh
hay là Lê Quý Kiệt, con trai của nhà bác học Lê Quý Đô là người đã tìm ra thế đất này.
Theo ông, nơi này tập trung được mọi ảnh hưởng tốt lành tỏa ra từ nhiều núi đồi bao quanh.
Lăng vua Gia Long có ba khu, đầu tiên là khu lăng mộ của vua Gia Long và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu.
Đứng tại đây thì mình thấy rằng lăng quay mặt ra một khung cảnh tuyệt đẹp,
xanh mát với hồ nước và những dãy đồi núi xa xa.
Khu bắt đầu với Sân Chầu, nơi có hàng tượng đá hai bên.
Cúi Sân Chầu là những bậc tam cấp dẫn lên Bữu Thành ở đỉnh đồi.
Và bên trong Bữu Thành, mình đi qua các bức bình phong và tường để vào trong khu vực có hai ngôi mổ đá
của vua và hoàng hậu được song tán.
Bên cạnh Bữu Thành là khu tẩm điện, trong đó điện Minh Thành là trung tâm.
Điện là nơi được dùng để thờ vua Gia Long và Thừa Thiên Cao Hoàng hậu.
Theo giải thích thì Minh Thành có nghĩa là sự hoàn thiện rực rỡ.
Hoặc cũng có một cách giải thích khác là hoàn thành vào ngày mai,
bởi người ta cho rằng xương của điện này chưa có xương son thiếp vàng và chạm khắc còn đơn giản.
Bên trong điện, ngày trước có thờ nhiều kỹ vật gắn bó với cuộc đời của vua Gia Long như là cân đai, mũ, yên ngựa.
Tiếc là bên trong điện, việc quay phim, chụp hình không được phép nên mình cũng không chia sẻ với các bạn được.
Bên trái của khu lăng là bí đình, nay chỉ còn một tấm bia lớn ghi bài văn bia
Thánh Đức Thần Công của vua Minh Mạng, ca ngợi vua cha.
Có một câu chuyện mình đọc được trên trang web của Trung tâm Bảo tồn Di tích cổ đồ Huế đó là
Cũng vì quá sâu sắc với công trình xây lăng mà có lần vua Gia Long đã suýt thiệt mạng trong một tai nạn ở công trường.
Lần đó có một trận gió làm sập ngôi nhà vua đang trú.
Tuy nhà vua đã ẩn trong một cây hố nhưng vẫn bị thương ở trán bí mắt và bị dập chân do một thanh xà rơi trúng.
Hai hoàng tử thứ 7 và thứ 8 là Tấn và Phổ bị trọng thương, nhiều người khác bị chết.
Dù vậy, vua Gia Long không trừng phạt các quan lạ thi công.
Khay vào đó, ông cho cấp thuốc men để chạy chữa cho họ,
cấp phát 500 quang tiền và 500 tiêu chuẩn gạo cho dân làng định môn gần nơi xây dựng lăng.
Mình tiếp tục đạp xe đi quanh khuôn viên rộng lớn của lăng, nằm ở một vị trí cũng rất đẹp,
đó là lăng Thiên Thọ Hữu của thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, là thứ phi của vua Gia Long.
Tại lăng cũng có điện gia Thành Thờ Bà.
Bà tên thật là Trần Thị Đan, là thân mẫu của vua Minh Mạng.
Sau khi vua Minh Mạng lên ngôi, bà trở thành Hoàng Thái Hậu.
Đến khi vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị lên ngôi, bà trở thành Thái Hoàng Thái Hậu.
Theo thông tin tại địa điểm thì sở dĩ gọi đây là lăng Thiên Thọ Hữu vì nó nằm bên phải của lăng Thiên Thọ,
chỉ cách đó khoảng 100 mét. Khu vực lăng mộ quay mặt về hướng Nam nhưng nghiêng nhẹ một chút về phía Tây.
Mình tiếp tục đạp xe qua những cung đường lớn nhỏ trong lăng.
Mình chưa đi lăng vào các buổi khác, nhưng mình thấy lúc mình đi là nửa cuối buổi chiều.
Thì cảnh vật và ánh nắng cũng rất là đẹp.
Sáng hôm sau, mình đi một nơi trong trung tâm thành phố.
Nơi này cũng từng xuất hiện trong các bộ phim và video ca nhạc.
Đó là Cung An Định. Mặc dù màu sắc của công trình nhúm màu thời gian,
nhưng những đường nét của cung vẫn tinh xảo và toát lên vẻ lộng lẫy của một cung điện xưa.
Cung An Định là cung điện riêng của vua Khải Định, tên Húy là Nguyễn Phúc Bửu Đảo.
Ông sinh năm 1885 là vị vua thứ 12 của Triều Nguyễn.
Ông lên ngôi năm 1916 cho đến khi băng hà vào năm 1925.
Theo thông tin tại cung thì tại vị trí này, Hoàng tử Nguyễn Phúc Bửu Đảo sau khi ra lập phủ riêng
vào năm 1902 đã đặt tên nơi này là Phủ An Định.
Ông là con cả của vua Đồng Khánh nên người dân cũng hay gọi nơi đây là Phủ Ông Hoàng Cả.
Năm 1906 thì sau khi vua Thành Thái phong cho ông chức Phụng Hóa Công, phủ có được gọi là Phủ Phụng Hóa.
Sau khi lên ngôi, vua Khải Định đã có ý tưởng cải tạo cung theo phong cách kiến trúc tân cổ điển,
đổi tên từ Phủ Thành Cung An Định.
Cung An Định quay về hướng nam ra bờ sông An Cửu. Tổng diện tích khuôn viên của cung là 23.463 m2.
Khi còn nguyên vẹn thì Cung An Định có khoảng 10 công trình, từ trước ra sau là Bến Thuyền, Cổng Chính, Đình Trung Lập, Lầu Khải Tường,
Nhà Hát Cửu Tư Đài, Chuồng Thú, Hồ Nước v.v.
Do thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, đến nay Cung An Định chỉ còn lại 3 công trình khá nguyên vẹn,
đó là Cổng Chính, Đình Trung Lập và Lầu Khải Tường.
Cổng Chính được trang trí tỉ mỉ với kẻ thuật khảm sạnh xứ đắp nổi.
Ngay sau Cổng Chính là Đình Trung Lập với kết cấu kiểu đình bát giác.
Bên trong là một bức tượng vua Khải Định với tỷ lệ bằng người thật, được đúc bằng đồng vào năm 1920.
Còn đây là Lầu Khải Tường, kiến trúc chính của Cung An Định.
Chữ Khải Tường nghĩa là nơi khởi phát điềm lành, là do vua Khải Định đặt.
Và theo thông tin tại Cung, Lầu Khải Tường được xây dựng theo kiểu lâu đài châu Âu bằng các vật liệu mới vào thời điểm đó,
với diện tích 745 m2, bao gồm 3 tầng.
Tầng 1 có 7 phòng, chủ yếu để tiếp khách. Tầng 2 có 8 phòng, dùng để ở.
Tầng 3 gồm 7 phòng, là không gian thợ phục. Mỗi tầng lại được trang trí với những đặc điểm riêng.
Phần nội thức cũng được trang trí với nhiều hoa lá đầy màu sắc, mang do gón kết hợp phong cách hồi hòa Á-Âu.
Đến Cung An Định, du khách cũng không thể bỏ qua khu vực sảnh đường,
với 6 bức họa phong cảnh lăng tẩm các vua triệu Nguyễn,
bao gồm lăng của các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiều Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh.
Các bức bích họa này được vẽ trực tiếp bằng sơn dầu lên tường, viên là khung gỗ thép vàng.
Một trong những công trình nổi bật trong Cung An Định đó là nhà hát Cửu Tư Đài,
vốn được xây dựng trong những năm 1922-1923.
Cửu Tư Đài có kiến trúc đồ sộ, xây theo phong cách châu Âu.
Tường bên trong lại được trang trí bằng nghệ thuật Khảm Sành Sứ của Huế với chủ đề tứ linh.
Mặt băng công trình rộng 50 x 22,3 mét, có thể chứa đến 500 khán giả,
có 2 tầng và liên thông với lầu Khải Từ ở phía sau.
Đây cũng được coi là nơi mà vua Khải Định và sau đó là vua Bảo Đại tổ chức các sự kiện, các buổi biểu diễn.
Theo các kỳ chép, trong thời gian sống tại đây, Nam Phương Hoàng Hậu đã mời các ánh hát cải lương
nổi tiếng ở Biền Nam ra Huế và biểu diễn ở Cửu Tư Đài.
Tuy nhiên, do chiến tranh, công trình hiện nay không còn.
Từ tháng 2 năm 1922, Cung An Định trở thành tiềm để của Đông Cung Thái Tử Vĩnh Thụy,
mà sau này là vua Bảo Đại.
Cũng theo thông tin tại đây thì sau cách mạng tháng 8, vua Bảo Đại thoái vị,
ông đã cùng gia đình chuyển đến sống tại cung trong một thời gian ngắn.
Sau khi vua Bảo Đại và Nam Phương Hoàng Hậu rời đi,
thì Đức Từ Cung vẫn sinh sống ở Cung An Định cho đến năm 1949,
trước khi quay lại sinh sống tại Cung Duyên Thọ trong đại nội Huế.
Năm 1955, Cung An Định bị chính quyền Ngô Định Diệm Thịt Thu làm nơi ở cho một số gia đình công chức địa phương.
Từ năm 2002 đến nay, Cung An Định được chuyển giao để Trung tâm Bảo Tồn Di tích Cổ đô Huế trực tiếp quản lý.
Sau khi tiếp quản Cung An Định, Trung tâm đã nhanh chóng thực hiện các dị án trùng tu
cùng sự tham gia của một số tổ chức quốc tế với mục đích phục hồi và bảo tồn các giá trị nguyên gốc của tổng thể di tích này.
Trong lần thăm Huế vào tháng 10, mình đã may mắn có dịp trải nghiệm tham quan đại nội vào ban đêm.
Hôm ấy nhằm dịp trung thu, đại nội mở cửa giới hạn để người dân và du khách vào tham quan không gian trung thu xưa
với đèn lồng, các trò chơi cung đình và nhiều hoạt động văn hóa.
Đây là một hoạt động do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cổ đô Huế tổ chức nhằm tái hiện một phần không khí
Tết trung thu truyền thống chốn Hoàng Cung. Mình thì tận dụng cơ hội này để ngắm nhìn một phần đại nội về đêm,
tư cửa hiện nhân, mình và khu vực đang được thắp nhiều đèn đuốt, và đó là Phủ Nội Vụ.
Theo thông tin của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cổ đô Huế, Phủ Nội Vụ nằm ở phía đông bắc của Hoàng Thành.
Phủ Nội Vụ được thành lập từ thời vua Gia Long, ban đầu nó có tên là Nội Đồ Gia, đặc trọng từ Cấm Thành.
Vào năm Minh Mạng thứ nhất, tức là năm 1820, Nội Đồ Gia được đổi tên thành Phủ Nội Vụ.
Đến năm 1837, vua Minh Mạng cho dời Phủ Nội Vụ ra khỏi từ Cấm Thành và đặt Phủ ở vị trí hiện nay.
Năm 1906, công trình được xây dựng lại theo kiến trúc pháp.
Nghe tên Phủ Nội Vụ, các bạn có đoán được nơi này có chức năng gì không?
Theo các thông tin mình tra cấu được từ các nguồn thì Phủ Nội Vụ là nơi quản lý, cất giữ, dân tiến,
cấp phát các loại vàng bạc, châu báu, gấm vóc, tiền bạc và vật dụng quý phục vụ cho sinh hoạt của Hoàng gia và triều đình.
Có thể hiểu đây là một cơ sở hậu cần trực tiếp của nhà vua, đồng thời là một dạng ngân khố của nhà nước quân chủ.
Về cơ cấu tổ chức, Phủ Nội Vụ gồm có sở chi thu, sở nội tạo và sở đốc công.
Dưới thời vua Gia Long, Phủ Nội Vụ có 6 kho. Từ thời vua Minh Mạng trở đi, số kho được nâng lên 10.
Các kho bao gồm kho kim ngân tức là kho vàng bạc, kho châu ngọc, kho cẩm tú tức là kho gấm vóc,
kho trân ngoạn, kho xa lĩnh, kho vật dụng, kho thái phục tức là kho quần áo,
kho văn ỉ tức là kho tờ lụa, kho dược phẩm tức là kho thuốc men, hương liệu,
kho nhạc khí, đồ diễn tuồn, tấu nhạc, mối hát.
Tuy nhiên, qua thời gian với bao đổi thay của lịch sử, các hôn trình ở Phủ Nội Vụ lần lượt bị triệt giải.
