TẠI SAO làm việc thiện NHƯNG GIA ĐÌNH lúc nào cũng GẶP TAI HỌA làm VIỆC THIỆN như nào MỚI CÓ PHƯỚC

Sống thuận tự nhiên
438 Người theo dõi
Tại sao có người làm việc thiện lại gặp hết chuyện xui xẻo trong gia đình?
Ở huyện Vũ Đô, có một người đàn ông tên là Vũ Đô suốt đời tận tụy làm việc thiện,
không quản ngày đêm phóng sinh, bố thí, lễ bái thần linh chưa từng gián đoạn dù chỉ một mùa.
Ông sống chân chất, không mưu cầu giàu sang,
chỉ mong tích đức cho đời, gieo nhân lành cho con cháu.
Vậy mà trời chẳng thương.
Bao năm qua, ông cùng vợ gánh chịu muôn vàn tai hỏa không sao gỡ nổi,
nhà cửa sơ xác, cơm chẳng đủ ăn, áo chẳng đủ mặc.
Vợ ông tạo tần từ sáng đến khuya, quần quật làm lụng nhưng bệnh tật vẫn đeo bám như hình với bóng.
Con gái duy nhất còn sống thì khờ khảo, ngơ ngác, nói năng không rõ ràng.
Mấy đứa con trai sinh ra chưa kịp trưởng thành thì đã lần lượt chết yểu.
Cảnh nhà tiêu điều, đau thương chồng chất.
Mỗi lần đốt nhang trước bàn thờ, ông đều ngằng đầu hỏi trời, lòng chịu nặng một nỗi bất công.
Làm người tốt, há lại chịu quả báo như vậy sao?
Ông không tìm được lời giải.
Bao nhiêu năm qua, lòng thanh không đổi, vậy mà càng sống càng khổ.
Mỗi bước đi là một lần vấp ngã, mỗi giấc ngủ là một đêm đầy mộng giữ.
Ông nhìn lên tượng thần mà nước mắt chảy dài, lặng lẽ mà nghẹt ngào.
Chẳng ai hiểu được sự dày vò âm ỉ ấy,
trừ chính ông và người vợ già cùng nắm tay nhau chịu đựng từng trận gió tàn mưa rập.
Thế rồi, một buổi tối đầu năm, khi ngoài trời vẫn còn vương chút pháo nổ dao thửa,
con gái ông, đứa trẻ ngây dại bỗng lầm bầm gọi tên đứa em trai thất lạc nhiều năm trước.
Giọng nó run dẩy nhưng rõ ràng, từng chữ từng chữ văng lên, khiến cả hai vợ chồng đứng sững.
Đã bao năm, họ chẳng dám nhắc đến đứa con đó nữa.
Nỗi đau mất con như vết dao khứa sâu vào tim, càng khơi càng dị máu.
Vậy mà hôm nay, từ miệng đứa con ngớ ngẩn ấy,
cái tên ấy lại cất lên, như tiếng gọi từ cõi u minh vọng về.
Hai vợ chồng nhìn nhau, dối như chẳng thể chịu đựng nổi nữa, cùng ôm chầm lấy nhau mà khóc.
Bao nỗi khổ dồn nén như trận mưa lớn bất ngờ chút xuống, nhấn chìm tất cả trong nước mắt.
Trong khoảnh khắc ấy, nhà chẳng còn là nhà,
chỉ là một mái tre tạm của hai thân người, rách nát, đang cạn kiệt hy vọng.
Giữa lúc không khí trong nhà đang chịu nặng tăng thương, bỗng nhiên có tiếng gõ cửa.
Tiếng gõ vang lên rồn rập, giữa đêm khuya tỉnh lặng, khiến Vũ Đô giật mình.
Ông vội thắp cây nến, run tay mở cửa.
Trước mặt ông là một người đàn ông cao lớn, gương mặt rắn giỏi, ánh mắt sáng như đuốc.
Khí chất toát ra nghiêm nghị khắc thường.
Người ấy chắp tay, nói rằng mình là thương nhân tên Trương Huyên,
đang đi đường thì gặp đêm tối lạnh lẽo, xin được tá túc một đêm.
Dù là ngày đầu năm mới, nhà cửa rối ren, nhưng Vũ Đô không nỡ khức tử.
Cả đời ông hành thiện, giúp người là lẽ thưởng.
Ông gật đầu mời khách vào, lấy ghế cho ngồi, giót chén trà ngồi tiếp đái.
Vợ ông nghe tin có khách liền dẫn con gái vào trong nghỉ ngơi.
Người đàn ông lặng lẽ đưa mắt nhìn theo bóng hai mẹ con khuất sau vách,
rồi đưa ánh mắt quét khắp căn nhà sập sể, đồ đạc đơn sơ, vách tường bong chóc,
hương khói vẫn còn làng vàng bên bàn thờ Tổ tiên.
Ánh nến lay lát khiến bóng ông Vũ Đô in lên vách càng thêm tiêu điệu.
Một lát sau, người đàn ông chậm dãi lên tiếng.
Anh có học thức, nhìn là biết từng trải, đọc sách thánh hiền không ít.
Thế nhưng tại sao nhà cửa tiêu điệu, người thân thì tàn tật, vận hạn cứ mãi bùa vây như vậy?
Vũ Đô nhìn thẳng vào mắt người đối diện.
Một lúc lâu sau, ông chỉ thở dài, rồi nói như chút cạn tầm can đã trôn sâu mấy chục năm.
Tôi từ nhỏ đã theo nho giáo, học đạo thánh hiền, một lòng muốn làm người quân tử.
Năm tôi 17 tuổi, cùng 13 người đồng chí hướng lập nên văn xương hội.
Mỗi ngày đọc sách, làm thơ, giúp dân viết văn tử, không lấy một xù.
Thấy người nghèo, tôi dốc lòng trợ giúp.
Thấy người bị oan, tôi biện luận thay họ.
Thấy con vật sắp bị giết, tôi bỏ tiền ra mua rồi phóng sinh.
Việc ác không làm, việc thiện chẳng nề hạ.
Tôi tin đạo trời có mắt, tin nhân quả tuần hoàn, nên chưa từng thối trí.
Ông ngầng đầu, ánh mắt như xuyên qua cả mái tranh, hướng về khoảng trời đen đặc phía trên.
Suốt mấy chục năm dùi mài kinh sử, tự thấy bản thân không kém ai.
Thế mà 7 lần thi, 7 lần hỏng, lúc đầu còn trách mình chưa đủ đức độ, về sau thì không hiểu nổi.
Bao nhiêu bạn bè ngày xưa có người sống ngông nghênh, chẳng có đạo đức gì, vậy mà làm quan, làm lớn.
Còn tôi, càng sống tử tế, càng gặp tai ương.
Nhà thì nghèo, người thì bệnh, không một ngày nào yên.
Lời chưa dứt, người đàn ông nó đã lắc đầu.
Anh có 5 người con trai, đúng không? Đứa đầu mới 3 tuổi thì sốt cao, không cứu kịp.
Đứa thứ 2 khỏe mạnh nhưng chưa đầy 4 tuổi đã bị bệnh lạ.
Đứa thứ 4 và thứ 5 cũng đều lần lượt ra đi trong vô vọng.
Duy chỉ có đứa con trai thứ 3 là lanh lợi, từ nhỏ đã có tư chất khác thường.
Dưới bàn chân trái có 2 nốt ruồi, trời xinh hiếu thuận, thông minh hơn người.
Nhưng năm 8 tuổi, đang chơi sau nhà thì bỗng dưng mất tích, tìm mãi không thấy tung tích gì.
Vu đô giật mình, ngồi thẳng dậy, ánh mắt nheo lại đầy nghi hoạc.
Người đàn ông tiếp lời, không để ông ngắt ngang.
Còn 4 đứa con gái, 3 đứa đầu lần lượt chết yểu khi chưa đầy 3 tháng tuổi.
Đứa thứ 4 sống được 4 năm thì qua đời vì bệnh kinh phong.
Chỉ còn đứa út, đứa đang ở trong kia thì từ lúc sinh ra đã đỡ đẫn, không nói không cười, không nhận biết được người thân.
Vợ anh từ ngày mất con, khóc đến mờ cả 2 mắt.
Mới đầu chỉ lỏa, sau thì tối hẳn, giờ thành người mù hẳn.
Người lạ ngẩn mặt nhìn thẳng vào vu đô, giọng đều đều nhưng như mũi dao sắc cắt vào ký ức.
Năm nay anh 49 tuổi.
Không làm quán, không buôn bán, không nghề nghiệp ổn định.
Lúc trẻ còn có người giúp đỡ, càng về sau càng cô độc, sống lay lát qua ngày.
Vốn liếng chẳng còn, tinh thần lại kiệt quệ.
Cả đời cắm cúi cầu trời cầu phúc, mà trời chẳng một lần đoái hoài.
Vu đô như bị xét đánh ngang tài.
Ông chừng mắt nhìn người khách lạ, miệng run lên, không nói nên lời.
Những điều vừa nghe, từng câu từng chữ đều là chuyện riêng trong nhà, tuyệt nhiên chưa kể cho bất kỳ ai.
Chẳng lẽ có người theo dõi ông nhiều năm?
Hay là người trước mặt không phải phạm nhân?
Người kia không trả lời ngay, chỉ nhìn vu đô một lúc lâu rồi chậm rãi hỏi lại.
Anh thật sự tin rằng, mọi tai họa ráng xuống đời mình đều là do trời bất công sao?
Chưa từng một lần nghĩ rằng, có khi chính bản thân mới là căn nguyến?
Vu đô ngồi lặng, ánh mắt còn nguyên vẻ bực tức và bất phục.
Ông gan dọng, tôi cả đời sống lương thiện, không làm điều trái đảo.
Nếu trời có mắt, sao lại để tôi chịu khổ như vậy?
Còn bao kẻ gian ác ngoài kia, sao chúng vẫn sống an ổn, vinh hoa phú quý?
Người kia nghe vậy, ánh mắt tối lại, giọng trùng xuống nhưng sắc lạnh như lưỡi dao cắt.
Anh không nhận ra, chính tâm oán trách ấy đã hủy hoại phúc phần của anh từng chút một.
Miệng niệm thiện, nhưng lòng đầy sân si, đố kị, kiêu mạn.
Làm việc tốt để cầu phúc chẳng phải đã là một loại toan tính rồi sao?
Vu đô chưa kịp phản bác, người kia trợt nghiêm giọng, mắt như ánh lửa rực cháy.
Ngài cất cao giọng, đọc danh do từng chữ, từng giọng.
Thi rớt bảy lận, chính đứa con chỉ còn lại một.
Mong đổi vận rủi thành vận may, cầu trời thương xót ban phúc cho nhà ta.
Giọng nói vang lên giữa căn nhà vắng như tiếng chuông, đánh thức linh hồn.
Vu đô chết sững, đó chính là bài văn khấn mà ông từng viết tay, lặng lẽ đốt dưới bản thờ táo mỗi đêm ba mười.
Từng chữ ông khấn, từng giọng ông gửi gắm vào cho, giờ lại vang lên từ miệng người xa lạ trước mặt.
Ông bùn rùn tay chân, không nói nên lời.
Người vợ trong buồn nghe xong cũng òa khóc, lại như tế sao.
Đứa con gái ngẩn ngơ cũng quỷ theo, đầu gục sát đất.
Cả ba người đồng loạt sụp lại, miệng run dậy cảm tạ không ngừng.
Lúc này, Vu đô cuối cùng cũng hiểu rõ.
Người trước mặt chẳng phải thương nhân, chẳng phải phạm nhân.
Đó chính là Táo Quân.
Vị thần ông thờ phụng bao năm qua, chứng giám từng lời ông khấn, từng ý niệm trong lòng ông từng đêm.
Táo Quân không để họ cúi lại lâu, chỉ nhẹ nhàng vất tay.
Giọng ngài trầm xuống, đánh thép như chuông đồng.
Anh khốn khổ vì hai nguyên do.
Một là tâm anh chẳng thanh tịnh.
Việc thiện anh làm chỉ để tạo tiếng thơm, mong cầu đổi phận, nào phải vì lòng từ bi.
Hai là trách trời, hờn đất, gặp khổ không soi lại mình, mà đổ lỗi cho thần linh, cho số mệnh.
Phúc mỏng vì tâm hẹp, họa đến vì trí mê.
Ngài dừng lại, mắt không rời Vu đô.
Nếu còn chấp niệm không thay đổi, tay ương chưa dừng lại ở đó, trời còn có thể lấy đi những gì anh chưa nghĩ tới.
Vu đô nghe đến đây, mặt tái xanh như sắc ve, lòng cuộn trào hỗn loạn.
Cả đời ông vẫn tin mình là người hiền lương, chính trực, sống thiện để tích đức.
Vậy mà giờ lại bị chính thần linh trách mắng, điểm mặt chỉ ra từng lỗi ẩn dấu trong lòng.
Ông cúi đầu, giọng khang đặc như người kiệt sức.
Tôi, tôi hành thiện đã ba chục năm, giữ mình trong sạch, chỉ vì vài lần buồn giận mà đánh mất hết công đức sao?
Táo quân không nói thêm lời nào, chỉ đưa tay vỗ nhẹ lên đỉnh đầu Vu đô.
Chớp mắt một cái, trước mắt ông bỗng hiện ra muôn vàn hình ảnh như nước chảy ngược dòng.
Từng đoạn đời, từng suy nghĩ thầm kín, từng hành vi nhỏ nhặt, tất cả như một cuốn phim cũ, quay chậm từng khung hình.
Không còn gì có thể che giấu, không một vết đen nào có thể trốn thoát.
Dưới ánh nhìn của thần minh, mọi thứ đều hiện nguyên hình.
Ngày ngày dâng hương, quỳ lại, khấn khứa trước bàn thờ.
Nhưng mỗi lần gặp chuyện trái ý, ông lại quay ra trách trời, mắng số, hoáng phận.
Miệng niệm trời có mắt, nhưng trong lòng thì lầm bầm, trời mù.
Còn chưa kể, trong những lúc tuyệt vọng, đã không ít lần ông nghiến răng mà buông lời nhục mạ thần linh.
Nào là thờ để làm gì, cũng cũng chẳng được gì.
Chữ kín nơi miệng, nhưng chữ nghi chất đầy trong lòng.
Đã thế, bao lần miệng nói tu thân dưỡng tính, nhưng trong lòng chất đầy hàn học.
Thấy người khác hơn mình một câu nói, đã nhách mép châm biếm.
Nghe ai được việc, liền buông lời cạnh khoé, bôi đen tiếng người.
Giữa trốn đông người, chẳng ngại vạch trần lỗi nhỏ của kẻ khác để hạ hê.
Cứ mỗi lần làm nhục được ai đó ông thấy hả dạ, nhưng chẳng bao giờ nghĩ người ta sẽ mang theo nỗi tuổi hồ ấy suốt cả tháng trời.
Đến cả những câu chuyện chẳng liên quan đến mình, ông cũng chen vào, thêm thắt, phóng đại rồi chuyển đi như thật.
Bàn tán sau lưng, dựng chuyện thị phi, khiến bao mối quan hệ giạn vỡ.
Vậy mà khi lên bàn thờ, ông lại thề sẽ sửa mình, đoạn tuyệt sân si.
Lời thề chỉ vỏn vẹn trên môi, chưa một lần biến thành hành động thật sự.
Lòng ông nhỏ như kim châm.
Ai từng vô tình làm ông phật ý, dù chuyện đã qua 10 năm, 20 năm, ông vẫn nhớ, vẫn hành học.
Người khác đã xin lỗi, ông vẫn không tha.
Dù lỗi là việc còn con, ông cũng khắc cốt ghi tâm.
Khi còn nhỏ, một người bạn học có tài, văn hay chữ đẹp, được thầy khen người.
Trong lòng ganh ghét bóc lên, ông ngấm ngầm dở trò.
Tự tay viết thư nạc danh vu khống bạn đó, khiến thầy hiểu lầm.
Đẩy người bạn ấy vào con đường bế tắc, bỏ học giữa trường, tan nát tiền đồ.
Mà chính Vũ Đô từ ngày gieo nghiệp ấy, thi đến 7 kỳ, cũng không vượt nổi cửa ai.
Ngày đó lập văn xương hội, ai cũng góp của, góp công.
Mỗi món dây bút, nhiên mực đều được chia đều và dùng chung.
Vậy mà có lần, ông tự ý mang về một bộ đồ thư pháp đẹp, cất giấu trong nhà.
Cứ nghĩ đó là chuyện nhỏ, là phần mình xứng đáng được nhận.
Nào ngờ, dưới mắt trời đất, đó là hành vi trộm cắp.
Một khi đã lấy của công mà không hỏi, dù là một chiếc bút, một tờ giấy, cũng là lỗi không nhỏ.
Từng chi tiết hiện ra như từng vết sẹo, từng đoạn đời lộ rõ bản chất sâu kín,
mà chính bản thân ông cũng quên rằng nó từng tồn tại.
Vũ Đô, quỳ sụp giữa nền đất cho bụi, ánh mắt ngấn lệ, đầu cúi lại không ngừng.
Trong làn khói thơm của nồi cơm chiều, táo quân hiện thân nghiêm trang,
giọng vang lên như tiếng chuông ngân giữa tâm can người mê mội.
Từ nay trở đi, người phải dứt tuyệt sáo điều sau.
Không được lấy của không do mình làm ra, dù chỉ là một đồng nhỏ.
Không được gần gũi tà niệm, dù chỉ khởi tâm trong khoảnh khắc.
Không được để miệng tuôn ra những lời độc địa, xé nát lòng người.
Không được buông lời phỉ bán, trách mắng, gieo khẩu nghiệp với tha nhân.
Không được để lòng dấy lên ganh tị với người có phúc, hay keo kiệt với người khốn khó.
Không được giữ tâm oán thủ, nuôi dưỡng hận ý dù chỉ một hơi thở.
Ngài ngưng một lát, mắt nghiêm nghỉ.
Phải dứt bỏ mọi điều ác, từ thân, từ tâm, từ ý.
Phải siêng làm mọi điều thiện, từ lời nói, hành động đến ý niệm.
Nói rồi, thân ảnh táo quân dần mờ như khói bếp, nhẹ tan giữa không gian lẳng ngắc,
vũ đô không dám ngẳng đầu, nước mắt hòa với cho bụi.
Ông lại đến rách chán, máu chảy, lòng như chấn động một cơn địa chấn.
Ngay tối hôm đó, ông lấy bút, đổi tên hiệu của mình thành Kính Ý Đạo Nhân.
Ý rằng phải kính sợ đạo lý.
Ý chí luôn giữ chính tâm, từ nay tuyệt đối không dẫm lại vết xe xưa.
Mỗi ngày từ đó, vũ đô sửa từng lỗi nhỏ.
Lời nói, ánh mắt, tâm niệm, đều soi lại.
Gặp ai cũng chào hỏi lễ phép, không nói lời cay.
Có của cải, ông chia phần cho người khó.
Thấy chuyện bất công, ông im lặng hồi tâm, không thêm một lời hùa theo thị phi.
Cuối mỗi tháng, ông đóng cửa một ngày, tự kiểm điểm cả tháng đã qua.
Viết từng dòng, từng việc dâng lên ban thờ táo quân.
Có khi tay run, mực đổ, lòng ông càng thêm tự hổ thẹn.
Ba năm dòng như thế, người làng ai cũng thấy rõ sự đổi thay.
Kẻ từng keo kiệt, nay rộng rãi giúp người nghèo không tính toán.
Người từng nóng nảy, nay hiền hòa, nhẫn nhịn đến lạ kỳ.
Kẻ từng xem thường vợ con, nay dịu dàng săn sóc từng bữa cơm, rất ngủ.
Cuộc sống chẳng giàu ngay, nhưng cũng chẳng đói nữa.
Trong nhà bắt đầu có gạo thừa, áo đủ ấm.
Mùa đông đến, không còn phải đốt đồ cũ để sửa.
Cô con gái từng đờ đẫn, hay ngơ ngác không nói.
Dân biết mỉm cười, nói năng rõ ràng, biết phụ mẹ quét nhà, gánh nước.
Cả làng xôn xao bảo nhau, nhân quả đúng là chẳng sai một mảy.
Ba năm qua đi, vu đô khi ấy đã ngoài năm mười,
nhưng tâm khí thì như người trẻ mới học đạo.
Việc thiện ông làm không ngừng.
Ai gặp cũng được ông giúp một tay, một lời khuyên.
Người trong làng kẻ mến người thương,
ai cũng kính trọng gọi ông là kính ý lão nhân.
Hai năm sau, ông đi thi.
Thi hương đỗ đầu, năm kế tiếp thi hội đỗ tiến sĩ.
Cả chiều ai cũng ngạc nhiên.
Tướng quốc trương nghe danh, đích thân triệu kiến,
cảm đức hạnh ông mà đưa vào quốc tử giám dạy học.
Một ngày nọ, ông được cử đi xứ thăm Dương Công.
Vừa bước vào sân, ông giật mình khi thấy một thiếu niên chắp tay cúi chảo.
Khuôn mặt ấy, sống mũi ấy, ánh mắt ấy,
như có gì đó xưa cũ, lay động sâu trong ký ức.
Ông hỏi rõ.
Dương Công kể lại chuyện đứa trẻ lạc cha mẹ từ năm xưa.
Vu đô lặng người, nước mắt trào ra.
Con trai ông năm ấy thất lạc.
Dương Công vốn quý đức vu đô,
liên cho phép đưa con về, còn tặng thêm bạc giúp làm vốn khởi sự.
Về đến nhà, người mẹ nhìn đứa con trai,
run dẩy ôm chặt lấy nó.
Miệng nghẹn ngào gọi từng tiếng.
Nước mắt lăn xuống đôi mắt từng mù lòa suốt nhiều năm.
Ánh sáng bỗng trở lại.
Bà nhìn thấy được.
Trong khoảnh khắc ấy,
cả gia đình như vỡ ỏa trong niềm hạnh phúc khôn cùng.
Không cần nói thêm gì nữa.
Bạn thân mến,
câu chuyện về vu đô là minh chứng sống động cho chân lý nhà Phật.
Tâm làm chủ, tâm dẫn đầu, tâm tạo nghiệp.
Dù tội lỗi sâu dày đến đâu,
chỉ cần biết hối cải thực sự,
từ bỏ ác hạnh,
quay về nẻo thiện,
thì ngay nơi đó,
nghiệp được chuyển,
phước được sinh,
thân tâm an lạc.
Phật dạy rằng,
Dù đã làm điều ác ngàn kiếp,
chỉ một niệm chân thành hối cải
cũng có thể dừng lại bánh xe nghiệp báo
và khai mở con đường giác ngộ.
Vu đô từng sống ích kỷ,
ngạo mạn,
hành ác không ngừng,
nhưng khi bị đẩy vào tận cùng khổ đau,
ông đã tỉnh ngộ.
Nhờ thành tâm sám hối,
tu tập từng ngày,
cuối cùng,
ông không chỉ chuyển hóa vận mệnh,
mà còn chuyển hóa cả gia đình,
xã hội,
và để lại di sản tinh thần
quý báu cho hậu thế.
Trong cuộc sống hôm nay,
nhiều người vẫn lầm tưởng rằng,
chỉ cần làm việc thiện là đủ.
Nhưng lại quên mất rằng,
việc thiện phải xuất phát
từ cái tâm trong sạch.
Không phải để được tiếng khen,
không phải để cầu lợi ích,
mà là để gột giữa chính mình
nuôi lớn lòng từ bi và trí tuệ.
Xin hãy ghi nhớ lời dạy của Đức Phận.
Một thời lầm lỡ tối tâm,
vô đô tỉnh ngộ ăn năng lỗi lầm,
bỏ ác, chăm thiện chuyên cần,
giữ lòng trong sáng,
ân cần từ bi.
Tâm lành cảm hóa trời trĩ,
con về vợ sáng,
phước kỳ nở hoa,
từ quan ẩn giật quê nhà,
gieo nhân thiện lạc,
đơm hoa đạo vàng.
