Bậc Thánh Nhân Thua Lý Cao Nhân Thua Phép Chỉ Một Người Mổ Heo Toàn Thắng 10 Câu Chuyện Nhân Quả

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Khổng Phu Tử trong hành trình chui du khắp các nước
dẫn theo hai đại đệ tử thân tín là Nhan Hồi và Tử Lộ.
Ba thầy trò đi mãi giữa núi sông chập trùng.
Qua những con đường đất đỏ, những bến chợ ồn ào,
những quán chọ nghèo nàn mưa gió tạt nghiêng.
Cho đến một hôm, họ đặt chân đến một nơi trông giống như một vùng thành thị nhỏ.
Nhà cửa san sát, phố xá đông người,
tiếng giao hàng vang lên từ sáng sớm đến chiều muộn.
Khổng Phu Tử ngằng đầu nhìn lên,
bất chờ thấy trước cổng một căn nhà treo tấm biển lớn ngang cửa.
Trên đó viết ba chữ thật to, nét bút rắn giỏi, nhà tranh cái.
Tấm biển đung đưa theo gió như cô ý mời gọi,
khiến người qua đường đều phải ngoái lại nhìn.
Khổng Phu Tử lấy làm lạ,
liền bước tới hỏi một ông lão đang đứng gần đó.
Giọng ông từ tốn mang âm hưởng vùng Sơn Đông,
khiến người ta dễ đoán ra lai lịch.
Khổng Phu Tử hỏi rằng,
Lão trưởng ơi, nơi kia làm nghề gì mà treo biển lạ lùng như vậy?
Ông Lão vừa nghe giọng biết ngay người đối diện là người có học,
lại nhận ra ngay đây chính là bậc hiền giả Khổng Phu Tử lưng danh thiên hạ,
nên vội cúi đầu cung kính đáp.
Thưa ngài, chỗ đó là nhà chuyên, tranh cái.
Ai bước vào rồi cũng phải đấu lý mà nói cho hơn người.
Ai tranh thua thì phải móc tiền trả,
ai thắng thì rời đi trong tiếng tung hô.
Khổng Phu Tử nghe vậy càng thấy lạ lẫm.
Trong đầu ông vang lên ý nghĩ,
trên đời này còn có nghề như vậy sao?
Dùng miệng lưỡi làm kế sinh nhai,
lấy thắng thua trong lời nói làm vui,
đúng là một chuyện mới lạ hiếm thấy.
Rồi ông lại nghĩ,
nếu đã gặp thì phải tận mắt xem thử mới rõ.
Nhưng trong người ông chẳng có bao nhiêu tiền,
hành trình dài ngày đã tiêu gần hết.
Ông bên cởi chiếc áo dài đăng mặc,
chiếc áo vốn là biểu tượng của mật nhò sĩ,
đem đến hiệu cầm đồ trong chợ để cầm lấy chút tiền lộ phí.
Nhan hồi và tự lộ,
nhìn cảnh ấy mà chua sót trong lòng,
nhưng vẫn kính cẩn theo thầy,
không nói nửa lời.
Có tiền rồi,
khổng phu tử xài bước vào bên trong nhà tranh cãi.
Gió lùa qua dèm cửa,
tiếng người lao sao,
bàn ghế kê san sát.
Ông đứng thẳng người mà nói,
đây là nhà tranh cãi phải chăng?
Ta muốn tham gia một trận xem sao,
xin được đặt cược bằng chính kiến giải của mình.
Người giữ cửa nghe giọng ông,
liền chạy vào báo cho chủ quán.
Chủ quán bước ra,
nhìn thấy phong thái nho nhã của khổng phu tử.
Chỉ một ánh mắt đã biết,
đây không phải người tầm thường.
Khi hỏi ra thân phận,
biết đúng là khổng phu tử,
bậc hiền triết mà thiên hạ ai cũng kính phục,
thì lập tức,
thì lập tức hoảng sợ,
cúi đầu liên tục.
Thưa Ngài,
Ngài là bậc thánh nhân,
là người tài đức hơn người.
Kẻ tiểu dân như tôi nào dám đấu lý cùng Ngài,
sợ rằng thua chắc mất thôi,
tiền mất mà danh tiếng cũng chẳng còn.
Nhưng khổng phu tử không chịu lùi.
Ông nói rất điềm nhiên,
nếu là nơi tranh cãi thì cứ theo phép công bằng,
ta đến đây là để thử,
không vì thắng thua,
mà vì muốn xem thiên hạ lấy gì làm đạo lý.
Chủ quán bị dồn đến đường cùng,
không thể từ chối,
đành miễn cưỡng gật đầu đồng ý.
Ông hỏi tiếp,
vậy ai được nói trước?
Khổng phu tử nghĩ mình là bậc thầy,
không nên giành phần,
nên đáp,
ta là khách,
ta là người đến sau,
chủ nhân cứ nói trước đi.
Chủ quán trình lại áo,
ngằng mặt nhìn khổng phu tử mà nói.
Thưa Ngài,
lời này chính do Ngài từng giảng,
cha mẹ,
con trên đời
thì không nên đi xa,
nếu có đi
thì phải có nơi trốn rõ ràng và mục đích chính đáng.
Đây chẳng phải đạo hiếu mà Ngài vẫn truyền dạy đó sao?
Vậy xin hỏi,
tại sao chính Ngài hôm nay lại chu du khắp nơi?
Hôm nay ở đây,
mai lại sang trốn khác,
hết thành này,
đến nước nọ,
chẳng phải là tự mâu thuẫn với lời mình từng nói sao?
Cha mẹ của ông làm sao mà biết được ông đi đâu,
đi về nơi nào,
dẫn thân vào chuyện gì?
Lúc ấy,
bậc Thánh Nho nghe câu hỏi ấy thì bị chặn lại,
nói chẳng nên lời,
giống như bị người ta đưa vào thế bí.
Thua cuộc,
ông thở dài quay bước rời đi,
lòng còn vương lại nỗi buồn.
Khi trở về chỗ hai đồ đệ đang đứng chở,
ông chỉ lắc đầu than.
Thôi đừng nhắc nữa,
ta thua rồi,
thua mất rồi.
Hai đồ đệ nghe mà không dám hỏi thêm,
chỉ nhìn nhau lo lắng khỏe.
Vì trước này,
thầy mình là người thông tuệ,
vậy mà cũng có lúc thua đậm như vậy.
Ba thầy trò đang đứng trò chuyện giữa khoảng sân gió thổi.
Thì từ phía xa,
có một người tập tĩnh chống chân đi tới.
Người ấy khập phiễng vì chỉ còn một chân lành,
lưng lại đeo một trái bầu lớn màu nâu bóng.
Thân hình gầy guộc,
nhưng ánh mắt thì sắc bén lạ thường.
Khi tiến lại gần,
ông ta thấy nhóm ba người đang nói chuyện,
thì cất tiếng hỏi bằng giọng khàn nhưng vang.
Các vị đang bàn chuyện gì mà vẻ mặt nặng nề vậy?
Bậc Thánh Nho lắc đầu đáp.
Đừng hỏi nữa,
ta thân là người học rộng biết nhiều
mà nãy vừa bị thua trong cuộc đấu lý và phép lạ.
Người tập tĩnh ấy, không ai khác,
chính là người được mệnh danh đi nghìn dặm trong một hơi thở,
được gọi bằng cái tên gần gũi,
là Lý Khập Trần.
Ông ta lếc mắt nhìn về phía hàng quán,
nơi cuộc cá cược vừa xảy ra,
rồi đặt trái bầu sau lưng xuống.
Bình Thản nói,
các vị đứng đây đợi một lát,
để ta đi thử sức với bọn họ xem sao.
Nói xong,
ông ta cúi người nhặt một viên gạch ở ven đường.
Lạ thay,
chỉ vừa thổi một hơi,
viên gạch đất thô kịch,
liền biến thành một thỏi vàng sáng dực,
ánh vàng lấp lánh như được mài chuốt công phu.
Mang theo thỏi vàng đó và trái bầu sau lưng,
ông tập tĩnh tiến vào quán
như một vị khách lạ đầy khí chất.
Chủ quán nhìn thấy,
ban đầu chỉ định trao hỏi bình thường,
nhưng rồi đưa mắt quan sát kỹ,
sắc mặt lập tức thay đổi.
Bởi ông ta nhận ra
người trước mặt không phải kẻ tầm thường,
mà chính là một trong những người
có tiếng linh dị khắp cõi,
thân phận phi phạm,
nên vội vàng cúi người,
giọng run run.
Thưa bậc cao nhân,
tiểu nhân đâu dám sánh vai,
không dám đánh cực cùng người.
Nhưng Lý Khập Trân vẫn quyết tâm thử vận số.
Ông đặt thỏi vàng xuống bàn,
giọng rứt khoát,
cứ theo quy cụ,
không thay đổi,
ta đánh cực bằng thỏi vàng này.
Chủ quán lúng túng,
nhưng cuối cùng cũng thuận theo và hỏi
để do xét.
Thưa ngài,
trái bầu lớn sau lưng ngài là vật gì
mà trông như chứa linh năng?
Nó dùng vào việc gì?
Lý Khập Trân đáp rõ rạc,
đây là trái bầu để trị bệnh cứu người.
Bệnh gì cũng chữa,
bệnh nặng đến đâu
chỉ cần ta ra tay là khỏi ngay,
nhanh như gió thổi.
Chủ quán nhìn ông từ trên xuống dưới,
liếc thấy bước chân cả nhắc,
liền hỏi với vẻ nửa như tò mò,
nửa như thách đố.
Vậy chân của ngài tập tế như thế,
chẳng phải cũng là bệnh hay sao?
Sao ngài không chữa cho mình?
Một câu hỏi tưởng đơn giản,
nhưng đánh thẳng vào yếu điểm.
Lý Khập Trân nghe xong thì sững lại,
mặt thoáng đanh lại, biết mình đối lý.
Ông im lặng, rồi không nói thêm lời nào,
chỉ để lại thỏi vàng trên bàn
và xoay người lặng lẽ rời đi.
Khi quay lại gặp Bậc Thánh Nho
và Hai Đồ Để,
ông thở dài nói,
đừng nhắc nữa, ta cũng thua rồi.
Không khí trở nên chịu nặng.
Một người học rộng hiểu sâu thua,
một người có năng lực phép lạ cũng thua.
Cả bốn người đứng giữa trời đất
mà như vừa nhận ra sự bé nhỏ của mình.
Đang lúc ba người ngẩn ngơ,
thì từ phía con đường đất
lại xuất hiện một bóng người khác.
Đó là một người đàn ông mặc áo ngoài
bằng vải dầu bạc màu.
Vì gió mưa, lưng đeo một bao vải to nặng.
Trong đó vang lên tiếng kim loại lenh keng,
nào là dao mổ, dao chặt, dao lọc.
Hóa ra đó là một người làm nghề mổ heo.
Ông ta đi ngang,
thấy ba người đứng đó,
mặt mũi chẳng vui vẻ gì, lên hỏi.
Các vị đứng đây làm gì
mà trông nặng trĩu như gánh cả trời lên vai thế?
Ba người không ai muốn nói nhiều nữa,
chỉ buông gọn một câu.
Thôi, đừng nhắc nữa.
Chúng tôi khi ấy một người được xem
như bậc thánh nhân hiểu biết hơn người.
Một người lại tự cho mình
là bậc cao nhân thông tỏ trời đất.
Ai cũng tưởng bản thân tài giỏi,
trí mưu xuất chúng.
Thế nhưng không ngờ cả hai đều bị lôi kéo
vào căn nhà chuyên thách đố và tranh tài.
Nơi bao kẻ khoe tài đấu trí.
Vừa bước vào,
tự phụ đối đáp,
càng nói càng đẩy cao sự kiêu hãnh.
Để rồi cuối cùng bị người ta xoay vòng,
cãi cọ mái, thành ra
mất hết thể diện.
Trong căn nhà ấy, lời lẽ sắc bén
chẳng cứu nổi sĩ diện.
Không chỉ mất mặt ê chề,
mà ngay đến vàng bạc.
Tiền của mang theo cũng bị người ta lột sạch,
thua đến mức lòng đầy hối hận
mà chẳng thể phản kháng.
Hắn liền cười khẩy,
bảo để ta vào thử vận xem sao.
Mọi người đều re biểu rằng,
ngay cả người được coi trọng,
và kẻ tự xưng cao nhân còn thua nhục nhá.
Huống Chi là một kẻ áo quần dính mùi chuồng trại,
quanh nằm cầm dao mổ heo.
Hắn thì làm được gì?
Nhưng người đồ tể ấy không hề nao núng,
lưng đeo chiếc túi vải cũ,
bên trong vang lên tiếng
lách cách của con dao mổ còn mùi máu khô vương lại.
Hắn sóc lại vai,
mặt lạnh như tảng đá,
bước thẳng vào căn nhà thách đấu ấy,
chẳng hề do dự.
Vừa bước vào,
hắn nói muốn đặt cược một trăm lượng bạc,
một con số đủ,
khiến người bình thường run dậy.
Chủ quán nhìn thấy hắn chỉ là một kẻ đồ tể,
thì bật cười khinh khỉnh.
Nghĩ rằng,
ngay cả hai kẻ từng được người đời tôn cao
còn thua dưới tay mình,
thì tên mổ heo này có gì đáng lo.
Gá chủ quán nói năng đầy vẻ kiêu ngạo,
cho rằng hắn không xứng đặt cược lớn như vậy.
Nhưng người đồ tể,
điềm nhiên, bàn tay đầy vết chai
do năm tháng cầm dao,
chỉ thẳng vào đầu gã chủ quán
và cất giọng chắc nịch rằng
cái đầu của chủ quán nặng tám cân rưỡi,
nói với sự quả quyết như lưỡi dao
chém xuống khúc thịt.
Chủ quán lập tức phủ nhận,
không tin một lời, cho rằng hắn nói bừa để hù dọa.
Người đồ tể,
bèn thò tay vào túi, rút ra con dao
mổ sắc lạnh,
lưỡi dao ánh lên tia sáng dưới ngọn đèn dầu.
Hắn nói nếu không tin,
hắn sẵn sàng chém xuống,
chặt đầu xuống cân thử ngay tại chỗ xem có đúng tám cân rưỡi hay không.
Sự bình thản của hắn,
cộng với con dao quá quen
với việc cắt thịt,
khiến ai nhìn cũng lạnh sống lưng.
Gã chủ quán vừa thấy lưỡi dao lói lên,
khuôn mặt tái mét, chân mềm như bún,
mồ hôi túa ra như tắm,
lập tức cuốn quyết gật đầu lia lia,
miệng lắp bắp thừa nhận rằng tin,
tin rồi, xin nhận thua,
xin chịu mất bạc chứ không dám thử thêm.
Cuối cùng, trò thách đấu kết thúc,
tên chủ quán phải cuối đầu nhận thua,
còn người đồ tể bình tĩnh thu dọn dao,
lặng lẽ rời đi.
Trong căn nhà ấy,
kẻ được cho là thanh nhân và kẻ tự xưng cao nhân
đều thua nhục nhá,
còn một người bình thường, áo vải mốc mùi trùng trại,
lại thắng bằng bản lĩnh
và sự cứng rắn không ai ngờ tới.
Thắng thua đôi khi chẳng đến từ danh tiếng
hay lời tự tán dương,
mà đến từ khí chất,
sự quyết liệt và dám làm đến cùng.
Bài học từ câu chuyện ấy cho thấy rằng
con người dù học rộng hiểu nhiều,
dù là bậc thanh nhân
hay kẻ tu luyện thần thông,
nếu còn cố chấp hơn thua,
ưa tranh cái thắng thua cho thỏa lòng hiếu thắng
thì vẫn rơi vào vô minh,
vẫn chốt lấy thất bại và xấu hổ.
Người có học mà ôm chặt cái tôi,
người có thần lực mà còn kiêu mạn,
người thợ bình thường mà dựa vào hung hăng đe dọa,
tất cả đều không phải là con đường đúng đắn.
Thắng kẻ khác,
không bằng thắng chính mình.
Hơn thua với đời,
không bằng sửa lại tâm ý,
quay về tỉnh giác.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng
cây gốc của khổ đau nằm ở tâm chấp ngã,
tâm muốn hiển lộ mình giỏi,
tâm mong người khác khuất phục.
Một bước lùi là biển rộng trời cao,
một niệm quay đầu là ánh sáng chiếu giỏi.
Trong cái cảnh người người kéo đến nhà cãi lẽ
để tranh lời, tranh thắng,
ta mới thấy rõ rằng
chiến thắng bằng lời lẽ chỉ là tạm bỡ,
nhưng chiến thắng chính cái tâm
bất thiện trong mình mới là thắng lợi chân thật.
Lời Phật như ngọn đèn
giữa đêm dài,
chỉ lối cho những ai biết buông bỏ hơn thua,
biết giữ tâm từ bi,
biết xem người đối diện như chính mình.
Khi ta tự nhận sai, ta không thua.
Khi ta buông sân hận, ta chiến thắng.
Khi ta không còn cố gắng chứng minh
mình đúng, ta mới thật sự trưởng thành.
Vậy nên, hãy ghi nhớ
lời kinh xám hối nơi địa ngục,
8 câu gói chọn đạo lý tỉnh thức
xoay chiếu cho mỗi bước nhân sinh.
Nếu trước kia vô minh,
con đã phạm lỗi lầm, nay xám hối ăn năn,
nguyện ngăn chừa mãi mãi.
Nếu trước kia sân hận,
con đã thù ghét người, nay quay về nẻo tránh,
xin cúi đầu xám hối.
Ngẫm mà xem, ai trong đời
không từng cố chấp, không từng sai lầm.
Nhưng khác ở chỗ có người biết quay đầu,
có người chìm sâu trong vọng niệm.
Ca ngợi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
đấng giác ngộ vô thượng
bởi Ngài chỉ ra rằng
con người không thua vì kém hiểu biết
mà thua vì ngạo mạc
không mất vì thiếu tiền bạc
mà mất vì đánh rơi tâm thiện.
Lời Ngài là đường đi, là ngọn đèn
là cửa thoát khỏi bi kịch của cái tôi.
Từ nay,
hãy chọn lòng từ bi thay vì gây hấn
chọn trí tuệ thay vì cố chấp
chọn hạ mình thay vì khoe mình.
Đừng đem cái tài để chứng minh ta hơn người
mà hãy đem cái tâm để xoay sáng chính mình.
Biết buông một niệm tranh hơn
sẽ được một đời an ổn.
Biết nhẫn một lời cay độc
sẽ tránh được ngàn điều tai hỏa.
Ở huyện Sương Huệ có một người nông dân
tên là Kim Thủ Diệp.
Quanh năm, chân lấm tay bùn
trong nhà chỉ trông cậy vào đàn gà
mấy chục con để kiếm chút tiền bán trứng
bán gà mà đắp đổi qua ngày.
Thế nhưng dạo gần đây
chẳng hiểu vì sao
liên tiếp xảy ra chuyện mất trộm.
Cứ cách giăm ba hôm lại thiếu vài con gà
sáng ra mở cửa chuồng
là lòng ông lại thắt lại vì trống vắng.
Ban đầu chỉ là mấy con gà mái bình thường.
Ông còn cố nhịn
tự án ủi rằng
chắc kẻ gian đói khát nhất thời.
Nhưng rồi đến một ngày,
ngay cả con gà trống to khỏe nhất
thứ mà ông nâng niu coi như của quý trong nhà
cũng bị kẻ trộm cuộm mất
không để lại dấu vết.
Kim Thủ Diệp tức giận đến run người.
Bao út ức dồn nén bay lây lâu bỗng bùng lên.
Ông lập tức chạy thẳng lên huyện nhà
quỳ xuống trước công đường kêu oan
với vị thanh quàng.
Ông nghẹn ngào trình bày rằng
mình nuôi gà chỉ mong bán lấy ít tiền
phụ thêm sinh hoạt cho gia đình.
Vậy mà bọn trộm ngày càng lộng hành.
Nếu quan không ra tay trị tội
thì chẳng những nhà ông
mà cả dân trong huyện cũng không ai dám nuôi gà nữa.
Ông khẩn cầu quan lớn
cho phái nhà dịch đi từng nhà
điều tra. Bắt được kẻ trộm
thì phải lôi ra diễu phố để gian đe
trị cho ra lẽ.
Hạ huyện lệnh xem qua đơn kêu oan
sắc mặt bình thản
nhưng ánh mắt sắc bén.
Liên nói với đám nhà dịch rằng
chuyện trộm gà kiểu này
10 phần thì đến 8-9 phần là do
người trong làng quen mặt quen nhà gây ra
không phải kẻ lạ bên ngoài.
Ông lập tức ra lệnh cho nhà dịch
dẫn người đến nhà Kim Thủ Diệp
rồi lan sang mười mấy hộ
xung quanh trước sau.
Bất kể là phu nhân nhà quang hay vợ con nhà dân thường
hẽ là phụ nữ trong các hộ đó
đều phải bị bắt đến công đường
để tra hỏi.
Ai dám không đến
thì coi như đồng lõa với trộm gà
không những phạt tiền mà còn bị diễu phố bêu danh.
Nhà dịch cầm lệnh bài
đi bắt người, ai nấy đều sợ hái
chẳng một ai dám chống đối
chỉ trong chốc lát đã lùa về
hơn 30 người phụ nữ
tất cả quỳ kín nửa công đường
người thì nước mắt gian rùa
người thì sụt xịt khóc thầm
không khí nặng nề đến nghẹt thở.
Thế nhưng Hạ huyện lệnh lại
không vội thẩm tra vụ trộm gà
trái lại còn cho xử trước một vụ trộm khác
cố ý để đám nhà dịch
thi hành hình phạt ngay trước mặt
những người phụ nữ kia.
Những dụng cụ tra khảo giả
hình kẹp ngón tay được mang ra
tiếng đánh bằng gỗ nện xuống
tiếng kêu la thảm thiết của kẻ bị phạt vang lên
khiến ai nấy đều tái mặt.
Những người phụ nữ không hề trộm gà
tuy trong lòng sợ hái, tim đập loạn xạ
nhưng vẫn tự chấn an rằng
mình trong sạch dẫu có thế nào
cũng sẽ không bị oan.
Chỉ riêng Vân Nương
kẻ thực sự đã lén trộm gà
thì sợ đến mức hai chân mềm nhũng
mồ hôi lạnh túa ra sau lưng
bởi chính tai nàng
đã bắt con gà đó đem đi
chỉ vì muốn nấu một nồi canh bồi bổ
cho người mẹ chồng đang bệnh nặng.
Nghĩ đến cảnh nếu bị tra ra
không chỉ phải chịu cực hình kẹp tay đau đớn
mà còn mất hết thể diện trước bao người
lòng nàng dối bời, thấp thỏm không yên.
Đợi xử xong vụ án khác
Hạ huyện lệnh đột nhiên
đập bàn quát lớn rằng
ai không trộm gà thì lập tức đứng dậy rời đi
còn kẻ trộm thì phải ở lại.
Đám phụ nữ nghe vậy
liền hoàng hốt đứng bật dậy
vội vã chen nhau bước ra ngoài công đường
tiếng chân rôn rập, tiếng váy áo sô đẩy
ai nấy chỉ mong mau chóng thoát
khỏi nơi đáng sợ ấy.
Vân Nương thì sợ đến mức không dám nhúc nhích
cả người run dậy quỳ sát xuống đất
đầu cúi gầm
đến ngằng lên nhìn cũng không dám
Trong lòng nàng hoảng loạn vô cùng
cảm giác tội lỗi dâng lên như sóng cuộn
cứ luôn nghĩ rằng
hạ huyện lệnh đã sớm nhìn thấu tất cả
chỉ là chưa vạch trần mà thôi
ánh mắt vị huyện lệnh
chăm chăm nhìn nàng
rộng chầm xuống hỏi thằng rằng
con gà là do người trộm phải không
bây giờ muốn bồi thường tiền
hay là chịu bị lôi ra diễu phố
Vân Nương nghe xong liền o khóc nước nở
nước mắt giàn ruộ khắp mặt
vừa khóc vừa run rộng
thú nhận rằng nhà nàng thực sự quá nghèo
mẹ chồng thì bệnh nặng nằm liệt giường
không thể dậy nổi
trong lúc túng quẫn không còn cách nào khác
nàng mới liều mình trộm con gà ấy
về nấu canh bồi bổ cho bà
nồi canh đó toàn bộ đều để mẹ chồng uống
còn nàng và chồng
tuyệt nhiên không dám động đến một miếng
trong nhà quả thật không có nồi đồng tiền
để bồi thường
nếu cần nàng sẵn sàng bán thân làm nô
để trả nợ
nhưng nếu phải bị lôi ra diễu phố
bêu danh trước thiên hạ
thì thả chết chứ
nàng cũng không chịu
nghe những lời ấy
hạ huyện lệnh lập tức sai người truyền mẹ chồng nàng
cùng người chồng tên Trường Thuận lên công đường
vừa hỏi han đôi câu
sự tình quá nhiên
đúng là vì mẹ chồng bệnh nặng
mà sinh ra hành vi trộm gà
hạ huyện lệnh thở dài một tiếng
giọng trùng xuống than rằng
con người làm điều sai trái
hoặc là bị rôn vào đường cùng không còn lối thoát
hoặc là chỉ vì nhất thời hồ độ
người nghèo
vì muốn cứu mẹ mà đi trộm gà
xét về tình thì cũng còn có chỗ đáng cảm thông
nghĩ vậy
ông liền cho thả mẹ chồng
cùng Vân Nương về trước
chỉ giữ lại một mình Trường Thuận ở lại để gian dạy
hạ huyện lệnh chỉ thắng
vào mũi Trường Thuận
mà mắng một chàng không nể nang
rằng đàn bà yếu đuối thiếu hiểu biết
mà phạm sai lầm thì còn có thể thông cảm
nhưng ngươi là đàn ông đầu đội trời
chân đạp đất sao cũng không biết ngăn cản
Hiếu Thuận cha mẹ là việc tốt
nhưng phải dựa vào mồ hôi nước mắt
lao động lương thiện mà kiếm tiền
chứ không phải để mẹ mình mang tiếng
là thân nhân của kẻ trộm
dẫu có ngày ngày cho bà ăn thịt cá
thì thứ hiếu ấy cũng chẳng phải hiếu thật
nói xong
ông liền ra lệnh đánh Trường Thuận
mấy roi thạch bản
đánh đến nỗi mông nát thịt bùng
đau đớn quỳ sụp xuống đất liên tục
dập đầu nhận tội
cuối cùng hạ huyện lệnh tuyên án rằng
Trường Thuận tuy nghèo khó
nhưng tấm lòng hiếu thảo là điều hiếm có
chỉ tiếc là đã dùng sai cách
việc trộm gà vốn không phải điều
người quân tử nên làm
thế nhưng trong xã hội hiện nay
kẻ giàu mà còn biết hiếu thuận
thì đã ít
người nghèo mà vẫn cố gắng tận hiếu lại
ai càng đáng quý
nếu vì thương tấm lòng hiếu ấy
mà bỏ qua luật pháp
thì sẽ làm hỏng vương pháp
còn nếu nghiêm trị tội trộm cấp
thì lại trái với đạo lý làm người
vì vậy chỉ đánh thạch bản
để gian đe coi như phạt nhẹ cành tỉnh
tiền bồi thường cũng không cần
phải trả nữa
con gà tuy là do vân nương
trực tiếp trộm nhưng trách nhiệm chính
thuộc về người chồng nên xét tình
mà không truy cứu thêm
Kim Thủ Diệp là người bị mất gà
việc lên huyện nhà kêu oang
là hoàn toàn có lý xong xét thấy
ra cảnh Trường Thuận thực sự nghèo túng
khoản bồi thường cũng được miễn cho qua
Bản án vừa tuyên xong
những người dân đứng xem trong công đường ai nấy
đều thầm gật đầu tán đồng
trong lòng bội phục vị
hạ huyện lệnh đã dùng mưu tâm lý
để buộc kẻ trộm tự lộ diện
vừa xử việc mà không làm mất mặt người bị hại
vừa nghiêm khắc dạy dỗ người chồng
phải đi đúng con đường chính đảo
lại vừa biết cảm thông cho nỗi khó khăn
của gia đình có lòng hiếu thảo
một vụ án trộm gà
tưởng trưng nhỏ nhặt
nhưng từ đầu đến cuối đều toát lên
tấm lòng thương dân trọng tình
giữ pháp của một vị quan
thật sự vì bá tánh
khâu ni vì xa vào tà hạnh
nuôi dưỡng dục vọng sai trái
mà phải đọa xuống địa ngục suốt 600 năm
600 năm hình phạt vừa mán
tưởng trưng có thể thoát khỏi khổ nạn
nhưng nghiệp báo
do lòng tham và ác niệm gieo xuống
vẫn chưa tiêu tàn
khiến hắn còn phải trải qua 7 kiếp luân hồi
kiếp nào cũng chìm trong tủi nhục
nghèo đói
bị người đời khinh rẻ
sống không bằng chết
mãi cho đến khi trong một khoảnh khắc sinh tử
hắn thật sự tỉnh ngộ
quay đầu xám hối từ tận đáy lòng
thì mới le lói nhìn thấy chút sinh lộ hiếm hoi
ít ai biết rằng
trước kia hắn vốn là một người tu hành
trong thâm sơn cốc an
pháp danh là diệu âm
dung mạo thanh tú
lông mày ánh mắt dịu dàng
vẻ ngoài hiền lành đoan chính
thế nhưng từ thủa nhỏ
trong lòng hắn đã sớm nảy sinh thói tham hư vinh
thích tiền tài, mê hưởng thụ
chỉ là khéo che giấu dưới lớp áo tu hành
gần am đường nơi hắn tu tập
có một thư sinh lên kinh ứng thí
tên là Tà Trọng Kinh
ghé qua cầu xin hắn tụng kinh
cầu phúc, mong đường công danh hành thông
diệu âm thấy thư sinh mang theo
không ít lộ phí
lòng tham nổi lên, mắt sáng rực vì tiền
liền dạ vờ từ bi
dẫn thư sinh vào thiền phòng riêng từ
trong không gian tĩnh mịch của cửa Phật
hắn không giữ giới luật
lén lút tư thông với thư sinh
lại dùng lời ngon ngọt mê hoặc
vẽ ra đủ thứ hứa hẹn tốt đẹp
khiến thư sinh mê mùi đem toàn bộ tiền bạc
mang theo giao hết cho hắn
tin rằng đó là gieo phúc tích đức
sau này thư sinh thi cử không đỗ
chán nản quay về quê nhà
diệu âm lo sợ chuyện bại lộ
liền nảy sinh ác tâm
hắn nặc danh viết thư gửi cho vợ của thư sinh
vu khống rằng
chồng nàng ở bên ngoài ăn chơi chắc tán
lưu luyến kỹ nữ
còn biển thủ tiền trong nhà để thoả dục vọng
lã thư như lưỡi dao
đọc cắm thẳng vào tim người vợ hiền lành
khiến nàng út ức, đau đớn tột cùng
không còn đường sống
cuối cùng gieo mình xuống giếng tự vẫn
để lại oán khí ngập trời
vài năm sau
diệu âm lại tiếp tục tạo nghiệp mới
khi cấu kết với một thương nhân buôn dược liệu
thường xuyên qua lại am đường
người thương nhân ấy đã có gia đình yên ấm
còn có một cô con gái
đang tuổi cập kê
vì muốn độc chiếm tiền tài của người ta
diệu âm âm thầm trộn hàng giả
vào dược liệu của thương nhân
khiến thuốc men kém chất lượng
khách hàng quay lưng, danh tiếng sụp đổ
việc làm ăn phá sản
nợ nần, trồng chất
không dừng lại ở đó, hắn còn tán phát
những lời đồn độc ác
bịa đặt rằng con gái thương nhân mang mệnh khắc cha khắc mẹ
gieo rắc tai họa cho người xung quanh
khiến mọi mối hôn sự của cô gái
lần lượt tan vỡ
không chịu nổi những lời xỉ nhục
và ánh mắt khinh miệt của thiên hạ
cô gái đau khổ cạo đầu đi tu
sống trong ưu út, tuyệt vọng
rồi sớm lìa đời khi tuổi xuân còn răng rở
còn diệu âm thì ôm khư khư
số tiền lừa gạt được
vẫn ngày ngày ở trong am đường giả
vừa giữ giới thanh tịnh, gõ chuông tụng kinh
ra về tu hành đã lâu năm
che mắc thế gian
cho đến ngày nguyên kỳ
khi nghiệp lực chín mùi, hồn phách của hắn vừa rời khỏi thân xác
thì lập tức bị hai tên dạ xoa
mặt xanh nanh ác dùng xích sắt khóa cổ
kéo lê xuống địa phủ
ở ngục bà thiệt
những chiếc kim sắt nung đỏ rực kẹp chặt
lấy lưỡi hắn, kéo mạnh ra ngoài
máu thịt cháy xém bốc khói
dạ xoa nghiến răng cười gần rằng
người khoác áo tăng mà nói toàn lời dối trá
lừa gạt thư sinh, hãm hại
người lương thiện, mỗi một câu nói dối
đều phải chịu 500 lần hình phạc rút lưới
sang đến ngục phẫn niệu
hắn bị đầy thẳng vào ao
vô số giỏi bỏ men
theo lỗ chân lông chui vào cơ thể
gầm nhấm ngũ tạng lục phủ
đau đớn không thể kêu gào
dạ xoa đứng bên bờ ao lạnh lùng cười nhạo rằng
ngươi từng ngồi trong điện phật
thiền viện thanh tịnh
lấy thân tu hành mà làm chuyện dơ bẩn
thì ao phân này chính là điểm báo
cho những điều ô ế trong lòng ngươi
cuối cùng hắn bị đầy vào ngục thiết thụ
những cảnh sắt đầy gai nhọn
cuốn chặt lấy tứ chi
mỗi chiếc gai đều nóng rực như lửa
đâm xuyên ra thịt
quỷ sai quát lớn rằng
ngươi đã hại chết vợ thư sinh
hủy hoại cả cuộc đời con gái thương nhân
thì mỗi chiếc gai trên cây sắt này
đều chứa đầy oán hận và thống khổ của họ
để ngươi nếm đủ
trong từng khắc từng giây không lối thoát
những cảnh sắt xuyên thấu xương cốt
mang theo cơn đau dữ dội đến tận cùng
khiến hắn suốt 600 năm trời
ngày ngày sống trong tuyệt vọng
không lúc nào được yên ổn
ý thức tỉnh táo
để cảm nhận từng khoảnh khắc thống khổ
mà không thể chết đi để giải thoát
600 năm cực hình cuối cùng
cũng khép lại
trước điện phán qua nơi địa phủ
bản án được tuyên rõ ràng
tội tà dâm nặng nề
gây họa liên lụy đến
2 mạng người vô tội
nghiệp lực chưa tiêu
phải tích nghiệp mà chịu 7 kiếp luân hồi liên tiếp
kiếp kiếp nếm đủ mọi món nợ oan nghiệt
do chính mình gây ra
kiếp thứ nhất
hắn chuyển sinh thành một con chó cái lang thang
vừa mới sinh được 5 con chó
con còn đỏ hòn thì bị
xói hoang phát hiện
từng con non bị ngoạm lên ném thẳng xuống sông
chết đuối không còn một mống
con chó mẹ thì bị người ta đánh gãy
2 chân trước
lê lết giữa mùa đông tuyết phủ
vừa đói vừa rét cuối cùng chết cứng trên nền băng giá
tương ứng với năm xưa
hắn chia rẽ gia đình thư sinh
gián tiếp bức chết người vợ hiền
kiếp thứ 2
hắn sinh là một cô gái vùng giang nam
xinh đẹp bị một công tử
nhà giàu để mắt tới
cưỡng ép nạp làm thiếp
khi sự mới mẻ qua đi thì bị bỏ rơi
trong biệt viện hoang vắng
ngày ngày bị gia nhân khinh miệt
cố tình gây khó dễ
chỉ được ăn đồ thừa lạnh lẽo để sống lay lắt
cuối cùng mắc bệnh lao phổi
họ ra máu mà chết trong cô độc
không một ai đói hoài
kiếp thứ 3
hắn là con gái của một gia đình nghèo khó
mới 10 tuổi
đã bị chính cha ruột bán cho nhà địa chủ
làm dâu nuôi từ bé
con trai địa chủ nghiện cờ bạc
mỗi lần thua tiền là về chút giận
bằng nắm đấm và roi vọt lên người nàng
đến năm 17 tuổi
trong một cơn say rượu điên loạn
hắn ta đã đánh nàng đến chết
xác bị vứt ra ngoài cho chó hoang gặm nhấm
không mồ không mà
kiếp thứ 4
hắn đầu thai là một kẻ sai vặt trong gánh hát dòng
ngày ngày bị ông bầu đánh mắng
còn phải hầu hạ đào kép nổi tiếng
chỉ cần sơ suất nhỏ là bị trừ tiền công
chịu đói chịu dết
đến năm 30 tuổi
thì gặp đại hỏa hoạn trong dạp hác
bị khói đặc làm ngất lịm
chết cháy trong biển lửa không lối thoát
kiếp thứ 5
hắn trở thành người rửa bát trong tựu lầu
vì phản kháng lại sự bóc lột của trường quầy
mà bị vu oan tội trộm cắp
bị đánh gãy cả hai tay rồi đuổi ra đường
lang thang ăn xin khắp nơi
cuối cùng vì ăn nhầm thức ăn ôi thiêu
mà đau bụng dữ dội chết thảm bên vệ đường
kiếp thứ 6
hắn là một bà đỡ đẻ
vì tham tiền lại cầu thả
trong lúc đỡ sinh đã gây ra băng huyết
khiến sản phụ chết tại chỗ
người nhà phẫn nộ đánh mù cả hai mắt hắn
rồi vứt ra bãi tha ma
để mặc đói khát và thương tích mà chết trong thống khổ
kiếp thứ 7
hắn chuyển sinh thành một người phụ nữ
tên là Trần Quế Chi
mới 40 tuổi đã sớm góa chồng
đứa con gái duy nhất thì bị bọn buôn người bắt cóc
từ đó bặt vô âm tín
sống chết không rõ
bản thân nàng lại mắc trứng hen xuyễn nặng
mỗi khi trời mưa ấm là ho đến không thở nổi
chỉ có thể ngồi bên đường
vá áo thuê kiếm chút tiền cầm hơi
ngồi nhà đất tồi tàn
nơi nàng trú ngụ hết mưa xuống
là rột tứ phía nước tràn đầy nền
một ngày nọ
khi đang cúi đầu vá áo bên đường
Trần Quế Chi bỗng lên cơn đau dữ dội
ngực thắt lại
ngã quỵ xuống đất trong cơn co giật
tưởng trưng xé nát tim gan
đúng lúc ấy
một vị thiền sư Vân Du đi ngang qua cứu nàng
đưa về ngôi cổ tự gần đó cho nghỉ ngơi
khi tỉnh lại
Trần Quế Chi quỳ xụp trước mặt thiền sư
nước mắt chan hòa kể rằng
cả đời mình chưa từng hại ai
cớ sao số phận lại thê lương đến vậy
thiền sư lặng lẽ lấy ra một chiếc lá bồ đề
trên mặt lá dần dần
hiện lên những hình ảnh quá khứ
của tì kheo ni diệu âm
cảnh lén lút tư thông trong thiền phòng
cảnh vu khống thư sinh
khiến người vợ phải chết oan
cảnh hãm hại thương nhân rược liệu và con gái ông ta
cùng từng mang cực hình
địa ngục ghê rợn
Trần Quế Chi nhìn những hình ảnh ấy
mà toàn thân run dậy
nước mắt rơi như chuỗi ngọc đứt dây
nghẹn ngào nói rằng
giờ nàng mới hiểu vì sao mình luôn mơ thấy bị lửa thiêu
bị kim đâm
hóa ra tất cả đều là báo ứng không sai chảy
rồi khẩn cầu thiền sư chỉ dạy con đường giải thoát
thiền sư tử tốn
đưa cho nàng một quyền diệu pháp liên hòa
nghiêm rộng nhắc rằng
muốn hóa giải khổ nạn
trước hết phải thành tâm sám hối tội tà dâm
và những nghiệp ác đã gieo từ bao kiếp trước
tội lỗi
làm tổn hại âm đức, nghiệt duyên chẳng trịt quấn thân
chỉ có lòng thành chân thật
mới có thể hóa giải
quyền kim quyền này
cất giữ chân lý của sự sám hối và hướng thiện
mỗi ngày ngươi hãy thành tâm chép lại
mỗi nét bút hạ xuống
là một lần cuối đầu sám hối lỗi lầm của tiền kiếp
lại siêng năng làm việc thiện
tích đức giúp người
thì những mối nghiệt duyên kia tự khắc sẽ dần dần tan biến
Trần Quế Chi
hai tay run run đón lấy
kim quyền, nâng niu như báu vật
hiếm có trong đời
trong lòng dâng lên một niềm hy vọng chưa từng có
trở về căn nhà đất rách nát
nàng vẫn giữ nếp sống
cần cù như trước
mỗi ngày khi trời còn chưa sáng
đã thức dậy ngồi vá áo bên cửa sổ
kiếm từng đồng tiền ít ỏi để nuôi thân
đến chiều tối
thì thắp ngọn đèn dầu leo lét
lặng lẽ ngồi xuống chép từng dòng rượu pháp liên hoa
có những hôm
bệnh hen xuyễn tái phát ngực thắt lại
hơi thở gấp gáp
tưởng như không cầm nổi bút
nhưng chỉ cần cơn đau lắng xuống đôi chút
nàng lại tiếp tục đặt bút viết
từng chữ từng nét
đều dồn hết sự thành kính và ăn năn vào đó
không dám qua loa một giây nào
khi chép đến lần thứ bảy
điều kỳ diệu đã xảy ra
đứa con gái nhiều năm bạch vô âm tín của nàng
nhờ ký ức mờ nhạt thuở ấu thơ
về con đường cũ
và mái nhà nghèo năm xưa
cuối cùng cũng lần tìm được nơi này
con gái nàng đã được người tốt bụng nhận nuôi từ lâu
nay đã trưởng thành
có gia đình và cuộc sống ổn định
vừa hay tin về những tháng ngày khổ cực của mẹ
cô ôm trầm lấy trần quế chi
mà khóc nức nở
nghẹn ngào gọi một tiếng mẹ
nói rằng từ nay sẽ đón mẹ về hưởng phúc
không để mẹ phải chịu khổ thêm nữa
cũng từ đó
bệnh hen xuyễn đeo bám trần quế chi
suốt bao năm tháng dần dần thuyên giảm
những ngày mưa ẩm không còn khiến nàng
ho đến xẻ ruột xẻ gan như trước
sau này
trần quế chi theo con gái về sinh sống
nhưng vẫn giữ thói quen mỗi ngày
chép kinh diệu pháp liên hoa
còn đem kim quyển chia sẻ cho hàng xóm láng giềng
kể cho họ nghe
câu chuyện về tiền kiếp và hiện đời của mình
như một lời cảnh tỉnh
dưới sự dẫn dắt âm thầm ấy
trong làng dần dần bớt đi
những cuộc cãi vã giữa vợ chồng
hàng xóm biết quan tâm đỡ đần nhau hơn
ngay cả những con mèo con chó
lang thang cũng có người chủ động cho ăn
che chở
đến năm 84 tuổi
trần quế chi nhẹ nhàng qua đời trong giấc ngủ
gương mặt an nhiên thanh thản
khi gia đình thu dọn di vật của nàng
họ phát hiện trọn vẹn 49 quyển
diệu pháp liên hoa được chép tay
ngay ngắn
từ những trang đầu với nét chữ còn run dậy
siêu vẻo
cho đến những trang sau chữ viết
đã trở nên thanh tú, đoan chính
mỗi trang giấy đều thấm đẫm sự sám hối
và tu dưỡng của một đời người
ở cuối kim quyển
kẹp một mảnh giấy nhỏ
với dòng chữ nắn nót rằng
tiền kiếp vì tà niệm mà tạo nghiệp
600 năm địa ngục chịu khổ
7 kiếp làm người đều gian nan
may nhờ diệu pháp liên hoa khai mở
mà hiểu rõ nhân quả
biết rằng không một điều thiện ác nào là uổng phí
chép kinh hướng thiện
không phải để cầu đổi vận
mà là để trong từng nét mực tìm được sự hòa giải
với chính mình
cuối đầu sám hối quá khứ
mong rằng tất cả những ai đang bị nghiệt duyên
trói buộc đều có thể lắng lòng chép thiện pháp
tìm lại sự an ổn nơi nội tâm
Câu chuyện của Trần Quế Chi
từ đó lan truyền khắp vùng
khiến vô số người tỉnh ngộ
nói theo mà bắt đầu chép diệu pháp liên hoa
không phải để cầu xin thần tích
mà là để trong từng nét bút chậm dãi
tìm thấy sức mạnh tĩnh tâm
và tự soi xét gieo mầm hướng thiện
nơi đáy lòng
để mỗi lựa chọn trong đời
đều không phụ chính tâm mình
bài học cuối cùng của câu chuyện này nằm ở chỗ
nhân quả không bao giờ mất
chỉ là đến sớm hay muộn
một niệm tà khởi lên
có thể mang lại lợi ích trước mắt
nhưng hậu quả phía sau lại kéo dài
qua nhiều đời nhiều kiếp
không chỉ bản thân gánh chịu
mà còn làm tổn thương vô số người vô tội
ác nghiệp tạo ra bằng tham lam
dối trá và dục vọng
dù được che giấu khéo léo đến đâu
cuối cùng cũng sẽ bị phơi bày
dưới ánh sáng của nhân quả
thế nhưng câu chuyện
cũng chỉ ra một con đường sáng
nghiệp nặng vẫn có thể chuyển
nếu còn biết quay đầu
không phải bằng cầu xin
không phải bằng trốn chạy
mà bằng sự sám hối chân thành
từng ngày đối diện với lỗi lầm của chính mình
dùng hành động thiện lành để bù đắp
những gì đã gây ra
khi con người thật sự cúi đầu trước nhân quả
biết dừng ác, hành thiện, tích đức
thì ngay cả số phận khắc nghiệt nhất
cũng có thể dần đổi hướng
điều đáng quý nhất
không phải là được hưởng phúc lớn
mà là tâm được an
biết sống đúng, sống thiện
sống không thẹn với lương tâm
viết một nét chữ thiện là một việc lành
giữ một niệm ngay thẳng, tưởng nhỏ bé
nhưng chính những điều ấy
lại âm thầm tháo gỡ nghiệt duyên
chữa lành quá khứ
và mở ra con đường sáng cho tương lai
nhân quả công bằng với tất cả
nhưng cũng luôn để lại cho con người
một cơ hội, chỉ cần còn biết tình ngộ
và hướng thiện
Hoàng Tam chỉ là một người nông dân
hết sức bình thường
hôm ấy trời đã khuya
anh từ trấn nhỏ quay về nhà
một mình lầm lũi đi trên con đường núi quanh co vắng vẻ
đêm xuống sâu
gió thổi di rào qua rừng cây
bóng núi chập trùm khiến lòng anh bất giác giờn giợn
da gà nổi khắp người
anh vừa đi vừa nhìn trước ngó sau
trong lòng có chút bất an không nói thành lời
đang bước đi
thì bỗng thấy phía trước
có một người đàn ông mặc áo xanh
ngang lưng buộc một dải đai trắng
dáng vẻ trông rất giống sai dịch trong nhà môn
thấy có người cùng đường
Hoàng Tam mừng rỡ
vội vàng bước nhanh đuổi theo
anh cất tiếng hỏi người kia
xin hỏi, ngài đi đâu vậy
người mặc áo xanh đáp giọng bình thản
nói rằng mình đến Hoàng Thôn
để giải quyết chút công việc công vụ
Hoàng Tam nghe xong liền vui mừng
cảm thấy thật trùng hợp
liền nói, thật đúng lúc quá
tôi cũng là người Hoàng Thôn
hai ta cùng đường hay là đi chung cho đỡ sợ
người sai dịch kia
không từ chối
chỉ mỉm cười rồi gật đầu đồng ý
hai người vừa đi vừa trò chuyện
nói qua nói lại thấy khá hợp ý
đường núi ban đêm vốn vắng lặng
có người đi cùng
Hoàng Tam cũng bớt sợ hãi hơn nhiều
khi đi đến chân núi
người áo xanh bỗng chỉ tay về phía một căn nhà bên đường
nói với Hoàng Tam
anh có đói không
để tôi vào trong kiếm ít rau hẻ
làm chút đồ ăn cho chúng ta lót giả
Hoàng Tam tưởng đó là nhà người quen của đối phương
nên chẳng nghi ngờ gì
liền gật đầu đáp
vậy làm phiền ngài
người áo xanh bước vào căn nhà ấy
chẳng bao lâu sau đã sách ra hai vò rượu
cùng hai con gà con
hai người ngồi ngay trước cửa
dưới gốc cây đa lớn
vừa ăn vừa uống
nói cười rôm giả
cảm thấy vô cùng sảng khoái
ăn uống xong xuôi
người áo xanh quay sang nói với Hoàng Tam
anh ngồi đây nghỉ một lát nhé
tôi vào trong xử lý chút việc
Hoàng Tam thật thà ngồi yên dưới gốc cây chờ đợi
không chút đề phòng
chẳng được bao lâu
bỗng nhiên từ trong cửa sổ căn nhà
vang lên một tiếng
rồi có một người bị ném thẳng ra ngoài
đó là một ông lão tóc bạc trắng
trông chừng 6-70 tuổi
tay chân đều bị xích bằng dây sắt
ngay sau đó
người áo xanh cũng nhảy vọt qua cửa sổ
nhanh như cắt
vác ông lão lên vai rồi lao đi
chỉ trong nháy mắt
bóng hai người đã biến mất trong đêm tối
tốc độ nhanh đến mức
khiến người ta không kịp nhìn rõ
tựa như bay trên mặt đất
Hoàng Tam đứng sững tại chỗ
đầu óc trống rỗng
còn chưa kịp hoàn hồn
thì từ trong nhà đã vọng ra tiếng phụ nữ khóc lóc thạm thiết
tim anh đập thình thịch
trong đầu hiện lên ý nghĩ xấu
hỏng rồi
chẳng lẽ người kia là cướp
nếu dính líu vào chuyện này thì khốn khổ mất
nghĩ đến đó
Hoàng Tam sợ đến toát mồ hôi lạnh
chẳng dám nán lại thêm dây nào
vội vang quay đầu chạy thẳng về nhà
đầu cũng không dám ngoảnh lại
sáng hôm sau
Hoàng Tam giả vờ như chỉ tình cờ đi ngang qua
lại lân la đến gần căn nhà ấy
để dò hỏi
không ngờ vừa đến nơi đã thấy nhà đó
đang treo cờ trắng bày biện tăng lễ
hỏi ra mới biết
ông lão trong nhà đã qua đời ngay trong đêm hôm trước
nghe xong
tim Hoàng Tam đập loạn xạ
cảm giác bất an dâng trào
anh lén lút hỏi người phụ nữ chủ nhà rằng
tối qua trong nhà có mất thứ gì không
người phụ nữ đỏ hoe mắt
ngẹn ngào nói
đừng nhắc nữa
tối qua tôi cũng bái cầu phúc cho ông nhà
trên bàn bày sẵn 2 vò rượu và 2 con gà
rõ ràng chẳng ai động đến
vậy mà quay đi quay lại đã biến mất
thật là chuyện kỳ quái
Hoàng Tam nghe xong chỉ thấy sống lưng lạnh toát
mồ hôi túa ra
lúc này anh mới hoàn toàn hiểu ra
đêm qua người mặc áo xanh kia
đâu phải là sai dịch của nhà môn
mà chính là quỷ sai dưới âm ti
đến bắt hồn người
nghĩ đến cảnh tưởng ông láo
bị xích tay chân rồi vác đi
Hoàng Tam run dậy không thôi
thế nhưng trong lòng anh
vẫn không sao hiểu nổi
tại sao người khác không nhìn thấy
mà chỉ riêng mình anh lại trông thấy rõ ràng như vậy
nghĩ tới nghĩ lui
cũng không tìm ra lời giải thích
từ ngày đó trở đi
Hoàng Tam không còn dám đi đường bang đêm nữa
cứ hẽ trời sập tối
là anh đóng chặt cửa, tắt đèn đi ngủ sớm
trong lòng luôn thấp thỏm
lo sợ sẽ lại gặp phải những chuyện mờ ám
nói không rõ, giải không thông
như đêm hôm ấy
câu chuyện gieo cho người nghe
một bài học nhân quả rất rõ ràng
sinh tử của con người đều đã có định số
khi nghiệp duyên đến
thì dù trốn tránh hay vô tình gặp gỡ
cũng không thể thay đổi
việc ông láo bị quỷ sai bắt đi
không phải ngẫu nhiên, mà là quả báo đã đến đúng lúc
đúng thời
người sống nếu làm việc thiện, giữ tâm ngay thẳng
thì lòng sẽ an
còn nếu tạo nghiệp, đến ngày phải trả
thì không ai thay thế được
đồng thời, câu chuyện cũng nhắc nhở con người
phải luôn giữ lòng kính sợ trời
đất, quỷ thần
không nên coi thường những điều mắt thường
không thấy
Hoàng Tam vô tình chứng kiến cảnh âm dương giao thoa
đó là lời cảnh tỉnh
để anh biết sợ mà tự giữ mình
sống cẩn trọng hơn, không làm điều trái đảo
nhân quả tuy chậm
nhưng không bao giờ sai hẹn
thiện ác cuối cùng đều có hồi báo
chỉ là sớm thôi
