KHOA THI CUỐI CÙNG VIỆT NAM ĐỀ THI KHÓ KHÔNG AI ĐỖ

Đình Sự
538 người theo dõi
Ngày xưa muốn làm quan thì phải đi thi.
Vậy bạn có biết khoa thi cuối cùng của Việt Nam diễn ra như thế nào?
Đề thi ra sao?
Hãy theo dõi đến tận cùng.
Bởi vì biết đâu đó bạn có thể thực hiện đề thi này và trở thành một vị trạng nguyện.
Năm 1919 tại kinh đô Huế,
triều đình nhà Nguyễn đã tổ chức một kỳ thi đặc biệt.
Đặc biệt không phải vì quy mô lớn,
cũng không phải vì thí sinh đông kỷ lục.
Đặc biệt ở đây vì đó là lần thi cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
Đó là lần cuối cùng Việt Nam còn mở một kỳ thi theo chế độ nhò học.
Hơn 8 thế kỷ trước đó,
từ khoa thi đầu tiên thời nhà Lý vào năm 1075,
khoa cử đã trở thành con đường duy nhất để bước vào bộ máy nhà nước.
Ai đỗ đạt thì cả làng mở cờ,
cha mẹ nở mai nở mặt,
bảng vàng gắt tên,
dựng bia tiên sĩ,
vinh quy bái tổ.
Một hệ thống đã tồn tại hơn 8 thế kỷ,
đào tạo ra hàng nghìn cử nhân,
hàng trăm tiên sĩ,
tạo nên tầng lớp quan lại điều hành đất nước qua các triều đại.
Nhưng đến đầu thế kỷ 20,
thế giới đã khác.
Việt Nam lúc đó nằm trong liên bang Đông Dương thuộc Pháp,
bộ máy hành chính thực sự nằm trong tay của người Pháp.
Muốn làm việc, muốn có tương lai,
phải biết tiếng Pháp,
phải hiểu luật mới,
phải quen với cách vận hành hành chính kiểu Tây Phương.
Trong bối cảnh đó,
ở Việt Nam,
triều đại nhà Nguyễn,
Vua Khải Định đã ra dụ thừa nhận một sự thật không thể đảo ngược.
Kỳ thi năm 1919 sẽ là kỳ thi cuối cùng.
Ông gọi đây là Ngữ Tứ Ân Khoa.
Một khoa thi mang tính ban ân
như một lời chào cuối cùng
dành cho những con người còn nặng lòng với nho học.
Vậy khoa thi ấy diễn ra như thế nào?
Nếu chỉ nhìn bề ngoài,
khoa thi năm 1919 vẫn có đủ lêu trõng,
trường thi, giám khảo,
và quyển thi niêm phong
như giống hàng thế kỷ trước.
Thí sinh vẫn phải mang theo giấy bút,
vẫn phải vào trường từ sáng sớm,
vẫn ngồi làm bài cho đến tối,
không khí vẫn trang nghiêm,
vẫn mùi mực tầu và giấy gió.
Nhưng bên trong,
người ta sẽ thấy một điều khác hẳn,
đó là cấu trúc bài thi đã thay đổi.
Hãy đến với khoa thi hội.
Khoa thi hội năm 1919
vẫn chia thành 4 trường như truyền thống,
nhưng nội dung đã pha trộn,
đông tây, rõ rệt.
Trường nhất vẫn thi văn sách
về ngũ kinh, tứ thư, việt sử.
Tuy nhiên bên cạnh đó xuất hiện
đề về thời vụ và lịch sử phương Tây.
Nghĩa là thí sinh không chỉ phải hiểu đảo khổng mạnh,
mà còn phải biết
về chuyện thế giới đang vận hành ra sao.
Trường 2 là các bài
tức là những văn bản hành chính truyền thống.
Nhưng sang đến trường 3,
mọi thứ bắt đầu thấy hơi lạ.
Thí sinh phải làm bài luận bằng chữ quốc ngữ
về hành chính, luật lệ, thời sự,
thậm chí còn có cả bài toán hình học.
Một thứ trước đây gần như không tồn tại
trong hệ thống khoa cử.
Đến trường 4 thì đúng là bước ngoặt.
Thí sinh phải dựng từ tiếng Pháp sang chữ Hán,
dịch từ quốc ngữ sang tiếng Pháp
và làm chính tả tiếng Pháp.
Lần đầu tiên trong lịch sử khoa bảng Việt Nam,
tiếng Pháp bước vào trường thi bằng cách chính thức.
Điều đó nói lên một điều rất rõ,
muốn làm quan thời ấy,
không thể không biết tiếng Pháp.
Điểm số chấm từ 0 đến 20,
ai đủ tổng điểm mới được vào thi đỉnh.
Như khác với thời đại trước,
độ đạt không còn đồng nghĩa với quyền lực.
Sau thi hội là thi đỉnh.
Ngày 28 tháng 4 năm 1919,
tại Điện Cần Tránh trong Hoàng Thành Huế,
những công sĩ vượt qua 4 trường thi hội
bước vào kỳ thi đỉnh,
vòng thi cao nhất và cũng là vòng thi cuối cùng
của chế độ khoa cử Việt Nam.
Chủ khảo danh Nghĩa là vua khải định.
Nhưng điều khiến kỳ thi này đặc biệt,
không chỉ vì đó là lần cuối,
mà vì nội dung câu hỏi mang hơi hướng hoàn toàn khác
so với truyền thống hàng trăm năm trước đó.
Nếu những khoa thi xưa kia
chủ yếu xoay quanh đạo trị nước,
bàn về trung, hiếu, tiết,
nghĩa, thì để thi đỉnh
năm 1919 cụ thể như sau.
Văn minh là gì?
Quan hệ của văn minh đến chuyện hòa bình hay chiến tranh,
hưng thịnh hay suy thoái,
phân chia hay hội họp,
vấn đề khai thác và tận dụng lợi thế về tài nguyên.
Đây không phải là một câu hỏi đơn giản.
Đầu thế kỷ 20,
văn minh là khái niệm gắn chặt với phương Tây.
Người Pháp từ nhận họ đem văn minh
đến Đông Dương, Nhật Bản sau cải cách
Minh Trị đã vươn lên thành Cường Quốc.
Trong bối cảnh đó, hỏi văn minh là gì?
Đồng nghĩa với việc hỏi, đâu là con đường
để phát triển của đất nước trong thời đại mới?
Với đề thi này,
thì bạn sẽ trả lời như thế nào đây?
Điều đặc biệt là lời nhắn
của Vua Khải Định trong Khải Định
Chính Yếu Sơ Tập.
Ông yêu cầu các sĩ tử trình bày thẳng thắn,
không a rua, không quanh co,
không dùng lời lẽ hoa Mỹ rỗng toách.
Ông nói mình tài mỏng nước sơ,
suy nghĩ chưa trù toàn, nên mong người hiền
đưa ra phương sách thực sự khả thi
để ông thử đem áp dụng.
Đây không gọi là một đề thi thuần túy,
mà là bài kiểm tra kiến thức,
giống như một cuộc tham vấn chính sách cuối cùng
của một triệu đại đang đứng trước bức hoạt lịch sử.
Nó là tấm gương phản chiếu của thời đại,
một đất nước chịu ảnh hưởng phương Tây,
một triều đình tìm cách thích nghi,
một hệ thống khoa cử đang đi đến hồi kết.
Và chính vì vậy, đề thi ấy
không chỉ là câu hỏi dành cho
vài chục công sĩ năm 1919,
mà còn là câu hỏi dành cho cả lịch sử Việt Nam
trong buổi sau thời.
Có một chi tiết cũng rất đáng suy ngẫm,
đó là số thí sinh đăng ký sự thi
cực ít ngay từ những vòng ngoài.
Ở Bắc Kỳ,
nơi từng là đất khoa bẳng lừng danh
với Nam Định, Hà Nội,
số người đăng ký chỉ vòn vẹn 20 người.
Nhiều tỉnh hoàn toàn không có ai sự thi.
Ngay cả Thái Bình, nơi có 5 người đăng ký,
thì 4 người sau đó sẽ rút vì lý do ốm đau.
Nhiều người thì lầm tưởng
là cụ Nguyễn Khuyến, tức là cụ Tam Nguyên Yên Đổ
cũng tham gia kỳ thi cuối cùng.
Nhưng mà thực chất thì cụ đã mất từ năm 1909.
Cụ Tam Nguyên Yên Đổ
thi đổ trong các năm 1864
và 1871.
Năm 1864,
cụ đổ đầu kỳ thi Hương Giành Nguyên
tại trường thi Hà Nội.
Năm 1871, cụ vào kinh thi Hội
và tiếp tục đổ đầu gọi là Hội Nguyên
rồi cùng năm đó thi đình và lại đổ đầu.
Được phong là Đình Nguyên Tiến sĩ.
Ba kỳ thi lớn đều đổ đầu nên được gọi là
Tam Nguyên, một vinh dự cực kỳ hiếm
trong lịch sử qua cử Việt Nam.
Trở lại với những thí sinh đăng ký ít,
thì thực tế không phải là họ ốm,
thực tế là họ thấy không còn ý nghĩa
để mà thi. Bởi vì lúc ấy,
học trường Pháp Việt ra làm thông ngôn
tức là phiên dịch, làm thư ký,
làm công chức thủ địa.
Có đường đó thực tế hơn nhiều so với việc
ngồi mài mực và viết văn sách ở Huế.
Thay nhiên đã chuyển hướng.
Họ nhìn về tương lai chứ không còn nhìn về bạc vàng.
Đó là lý do vì sao khoa thi cuối cùng
diễn ra trong không khí lặng lẽ,
không ổn ảo và không háo hức
như những kỳ thi mấy trăm năm trước.
Khoa thi năm 1919
đổ 7 tiến sĩ,
còn số không lớn nhưng đủ để đánh dấu lịch sử.
Trong số đó,
hai tiến sĩ bắc kỳ được nhắc đến nhiều là
Trịnh Hữu Thăng và Dương Thiệu Tường.
Họ trở thành những người mang danh tiến sĩ cuối cùng
theo hệ thống khoa cử, truyền thống Việt Nam.
Nhưng điều trớ trêu họ đổ
vào thời điểm mà danh hiệu ấy không còn sức nặng như xưa.
Nếu như thời xưa,
ví dụ thời nhà Lê,
một tiến sĩ có thể bước khẳng vào chiều,
giữ chức vụ quan trọng, thậm chí làm thượng thư hay là tham tụ,
thì năm 1919,
bộ máy thực quyền đã nằm trong tay chính quyền bảo hộ
của người Pháp.
Danh vị vẫn còn đó, nhưng quyền lực thì không còn.
Sau khoa thi năm 1919,
thì Triều Đình Huế
đã không còn tổ chức thêm bất kỳ một khoa thi nào nữa.
Chế độ khoa cử đã chính thức chấm dứt.
Từ đây, hệ thống giáo dục mới
hoàn toàn dựa trên chương trình Pháp Việt.
Trường học dạy chữ quốc ngữ, tiếng Pháp,
toán, khoa học tự nhiên và luật hiện đại.
Con đường thăng tiến không còn là
vinh quy bái tổ, mà là thi vào trường hành chính,
trường sư phạm hay trường kỹ nghệ.
Một tầng lớp chính thức mới ra đời,
họ không còn mặc áo theo khăn xếp,
họ mặc âu phục, họ không còn viết chiếu sớ,
họ viết báo, viết luận,
viết kiến nghị và viết sách chính trị.
Chính từ tầng lớp Tây học ấy
mà sau này mới xuất hiện những nhân vật
đóng vai trò lớn trong lịch sử thế kỷ 20.
Nói cách khác, khoa thi năm 1919
không chỉ khép lại một hệ thống cũ,
nó còn mở đường cho một hệ thống
hoàn toàn mới.
Nếu nhìn rộng ra, khoa thi cuối cùng của Việt Nam
diễn ra muộn hơn Trung Quốc 14 năm.
Nhà Thanh đã bãi bỏ khoa cử
từ năm 1905.
Việt Nam duy trì thêm một thời gian như một nỗ lực
để giữ lại truyền thống.
Nhưng dòng chảy lịch sử thì không dừng lại.
Hãy tưởng tượng lại cảnh
ở Trường Thị Huế năm ấy.
Lều trọng vẫn dựng, sĩ tự vẫn cúi đầu viết bài.
Nhưng trong đề thi có tiếng Pháp,
trong bài làm đã có chữ quốc ngữ,
trong suy nghĩ đã có hình ảnh của một thế giới mới.
Đó là khoảnh khắc của hai thời đại giao nhau.
Một thời đại dựa trên khổng mại,
đạo lý quân thần, bảng vàng bia đá.
Một thời đại dựa trên hành chính hiện đại,
luật phương Tây và ngôn ngữ quốc ngữ.
Khoa thi năm 1919 không ồn ào,
nhưng nó đánh dấu sự kết thúc
của một trong những hệ thống thi cử
lâu đời nhất của thế giới.
Và kể từ đó, Việt Nam bước sang một con đường khác,
con đường của giáo dục hiện đại.
Cảm ơn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
Nếu cảm thấy thú vị,
bạn có thể nhấn nút đăng ký kênh,
bật chung thông báo và chia sẻ.
Còn bây giờ thì xin đừng nói lời chào.
Tạm biệt.
