Mạn đàm về Hiếu Đễ

Nàng Sen kể chuyện
217 Người theo dõi
4.1K Lượt xem video·7 thg 3, 2026
Cảm ơn quý vị đã lắng nghe, quan tâm, và đăng ký theo dõi kênh Nàng Sen kể chuyện!
Hoan nghênh quý vị ghé thăm chúng tôi tại các nền tảng:
» Fanpage: https: //www.facebook.com/profile.php?id=61584950553154
» Ganjingworld: https://ganjing.b3355.xyz/vi-VN/channel/1hcr1uhc4m34tZ0aA9tMZwBCx1m60c
»Youtube: https://www.youtube.com/@N%C3%A0ngSenk%E1%BB%83chuy%E1%BB%87n
» Spotify: https://open.spotify.com/show/4W3yJP6GTUcXGxR8jTgdme
Kính chúc mọi điều bình an và tốt lành đến quý vị và người thân!
Lưu ý: Bản quyền thuộc về Nàng Sen kể chuyện. Hoan nghênh chia sẻ.Vui lòng không đăng lại (reup), cắt ghép/chỉnh sửa video khi chưa có sự chấp thuận của chúng tôi.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Mạng đàm về Hiếu Để
Chuyện kể rằng,
vào cuối thời Tây Hán,
ở Hà Nam có một người tên là Thái Thuận.
Một cô cha từ nhỏ,
ông và mẫu thân sống ngương tựa vào nhau.
Năm đó có chiến loạn,
Thái Thuận đưa mẫu thân chạy đến Trăm Giảng lánh nạn.
Không ngờ, nơi đây cũng vì chiến tranh liên miên nhiều năm
nên đất đai bị bỏ hoang cằn cổi.
Người dân tản cư tứ xứ.
Để duy trì cuộc sống,
Thái Thuận để mẫu thân ở nhà,
còn bản thân thì hằng ngày ra ngoài xin ăn.
Khi xin được chút đồ ngon,
ông vội vàng mang về cho mẹ.
Còn mình chỉ ăn chút rau rừng,
cháo cặn cho qua cơn đói.
Không lâu sau,
tức đội quân Long Mày Đỏ đánh đến hứa xương.
Lúc bấy giờ, dân chúng sợ quân lính cướp bóc
nên tháo chạy khắp nơi.
Cuộc sống của Thái Thuận và mẹ lại càng thêm khốn khó.
Để xin được đồ ăn,
mỗi ngày ông phải đi rất xa.
Trời tối muộn vẫn chưa về nhà.
Mẹ ông vì nhớ con
nên thường ngồi ở đầu làng chờ đợi.
Ngày nay,
ở ngọn đồi phía tây làng Châm Giãn,
thôn Thái Viên,
có một di tích gọi là
Đẳng Tử Tự,
chùa đợi con.
Chính là để tưởng nhớ câu chuyện này.
Một lần nọ,
Thái Thuận đi cả ngày
mà không xin được chút đồ ăn nào.
Nhìn thấy vườn dâu dại ven đường,
ông vui mừng hái dâu mang về cho mẹ.
Ông nhặt trái tím đen ngon ngọt để riêng
và trái xanh đỏ để riêng.
Trên đường về,
Thái Thuận gặp một nhóm quân Sydney.
Họ thấy ông phân chi dâu trong giỏ
nên ngạc nhiên hỏi lý do.
Thái Thuận đáp,
những quả màu đen và tím
là những quả dâu chính có vị ngọt
để phần mang về nhà cho mẫu thân tôi ăn.
Còn những quả xanh đỏ có vị chua
thì để tôi ăn.
Mẫu thân tôi tuổi tác đã đau,
mắt kém rồi,
nên phân chia chúng ra
để mẫu thân tôi thuận tiện lấy.
Đám binh lính cảm động
trước tấm lòng hiếu thảo của Thái Thuận
nên không làm hại ông,
còn cho ông gạo, ngũ cốc
và bò dê mà chúng vừa cướp được.
Tuy nhiên, Thái Thuận biết phân biệt đúng sai,
kiên quyết không nhận bất cứ thứ gì bất nghĩa.
Khi binh lính Sydney đóng quân trên núi Hùng Nhĩ,
nhìn thấy Thái Thuận mỗi ngày
đều hiếu kính với mẫu thân như vậy,
thì dân niềm nhớ thương cha mẹ ở quê nhà.
Rất nhiều binh sĩ đã trút bỏ áo giáp,
tẩy sạch lông mày đỏ
ở dòng sông cạnh doanh trại,
rồi vui vẻ trở về nhà.
Về sau, dòng sông này được gọi là sông Tẩy Mi.
Sau khi nạn đạo tặc được dẹp yên,
cuộc sống của Thái Thuận và mẫu thân
mới ổn định được đôi chút,
thì bà không may qua đời.
Thái Thuận vô cùng đau buồn.
Trong lúc đang lo tan lễ cho mẹ,
thì nhà hàng xóm lại xảy ra hỏa hoạn.
Thấy ngọn lửa lan đến gần,
Thái Thuận hoảng loạn,
ôm linh cửu mẹ khóc lóc thảm thiết.
Không ngờ, ngọn lửa như có mắt
đi vòng qua nhà Thái Thuận,
chứ không hề xâm phạm nhà ông.
Dân gian cho rằng,
tấm lòng chí hiếu của Thái Thuận
không chỉ cảm hóa được đạo tặc,
mà còn cảm động đến trời xanh.
Chào mừng quý khán thánh giả
đến với chương trình Nàng Xen Kể Chuyện.
Quý vị thân mến!
Khổng tử từng giảng,
đạo hiếu là kinh của trời,
là nghĩa của đất,
là chuẩn mực hành vi của con người.
Trong háng tự,
chữ hiếu được cấu thành
từ bộ lão, tức người già ở trên,
và bộ tử, tức người con ở dưới.
Ý tứ là,
con cái kế thừa huyết mạch của cha mẹ,
thuận theo ý muốn của cha mẹ,
hiếu thảo, cung kính,
chí thành, phụng dưỡng.
Mà bản thân chữ hiếu
trong giáp quốc văn
cũng mang hình tượng là người con
đang cổng cha hoặc mẹ.
Còn chữ để được cấu thành
từ bộ tâm là trái tim
và bộ nữ là phụ nữ,
nghĩa là anh chị em trong nhà
phải chung sống thuận hòa,
yêu thương đùm bọc
và bảo vệ lẫn nhau.
Ở phương Đông thời cổ đại,
hầu hết các gia đình sinh sống
theo hình thức gia cộc quần tụ,
gọi là tứ đại đồng đường
hoặc ngũ đại đồng đường,
tức gia đình có 4 hoặc 5 thế hệ
cùng chung sống dưới một mái nhà.
Đây được xem là biểu tượng
của phúc đức, trường thọ,
sự thuận hòa và gắn kết bền vững
trong văn hóa truyền thống.
Tuy nhiên, để nhiều thế hệ như vậy
chung sống cùng nhau
không phải là việc dễ dàng,
đều phải nhờ vào hiếu để.
Hiếu để không chỉ giới hạn
ở việc hiếu kính cha mẹ,
kính trọng người trên,
nhường nhịnh người dưới,
mà còn là sự thể hiện sâu sắc
của lòng biết ơn.
Từ nền tảng ấy,
người xưa đã mở rộng ý nghĩa
của đạo hiếu thành sự tôn trọng
và đối xử bác ái
với mọi người xung quanh.
Do đó, chữ giáo
trong từ giáo dục hay giáo hóa
cũng được ghép từ bộ hiếu.
Hàm ý rằng,
mọi nền tảng giáo dục chân chính
đều phải bắt nguồn từ đạo hiếu
trong luân thường đạo lý.
Trong sách Hiếu Kinh,
khổng tử từng hỏi học trò
Tăng Tử rằng,
các bậc tiên vương như nghiêu,
thuấn, vũ, thang
có một đức hạnh trí tôn,
trí quý, cao thượng vô cùng.
Các ngài dùng đức hạnh này
để trị vị thiên hạ,
nên dân chúng hòa mục,
tương thân, tương kính.
Từ thiên tử cho đến thứ dân,
không một người nào mang lòng quán hận.
Trò có biết đức hạnh ấy là gì không?
Tăng Tử cung kính, chấp tay đáp.
Xăm con không rõ,
chưa đủ trí tuệ
để hiểu biết điều này.
Khổng tử giảng,
Hiếu là gốc của đức.
Sự giáo dục từ đó mà sinh ra.
Hãy ngồi xuống,
để ta nói cho con biết.
Thân thể, hình hài,
tóc tai, da thịt
nhận từ cha mẹ,
không dám gây hư hại
là nết đầu của Hiếu.
Gây dựng bản thân,
thi hành đạo nghĩa,
dương danh hậu thế
để cha mẹ được vẽ vang.
Đó là nết cuối của Hiếu.
Chữ Hiếu
lấy việc phụng dưỡng cha mẹ làm đầu,
kế đến thờ vua,
sau cùng mới là lập thân.
Thương cha mẹ
thì chẳng dám ghét người.
Kính cha mẹ
thì chẳng dám khinh người.
Dốc lòng yêu thương
cung kính phụng sự cha mẹ,
rồi dùng đức ấy
giáo hóa dân chúng,
làm thành hình mẫu trong thiên hạ.
Đó là nết Hiếu
của thiên tử vậy.
Thực vậy,
vua Nghiêu, vua Thúng
và vua Vũ
là ba vị đế vương nổi danh
thời thượng cổ.
Nhờ vào đức hạnh lớn lao
của mình mà được người khắp
thiên hạ suy tôn
lên ngôi hoàng đế,
trở thành biểu tượng cho sự trị vị
bằng nhân đức
thay vì quyền lực.
Trong đó,
vua Thúng nổi bật
nhờ tấm lòng chí hiếu
nên được vua Nghiêu chọn
làm người kế vị.
Câu chuyện của ông
vẫn được lưu truyền suốt hàng ngàn
năm qua.
Sử tý chép rằng
phụ thân của Thúng là
Cổ Tẩu, mẫu thân
là Ốc Đăng.
Cổ Tẩu và Ốc Đăng
sinh được hai người con trai.
Thúng là con Thứ.
Từ nhỏ,
ông đã thông minh cơ trí
hơn người và vô cùng
hiếu thuận.
Năm Thúng hai tuổi
thì mẹ ruột qua đời,
cha lấy mẹ kế.
Về sau, mẹ kế
sinh một trai một gái.
Con trai tên là Tượng,
con gái tên là
Khỏa Thủ.
Mẹ kế thường xuyên đánh đập
hai anh em Thúng,
còn kích động để cha Thúng
vô duyên, vô cớ
trách phạt hai anh em.
Hai đứa trẻ thường xuyên
bữa no, bữa đói.
Anh trai vì không chịu nổi
sự hành hạ của cha
và mẹ kế
mà sớm qua đời.
Năm Thúng mười tuổi
có một đạo sĩ tên là
Vũ Thành Tử
chủ động dạy Thúng
và những đứa trẻ khác
trong làng đọc sách.
Mẹ kế không muốn cho Thúng
đi học, nhưng nhờ
có sự giúp đỡ của hàng xóm.
Thúng vừa đi chăn trâu
cho người ta để mưu sinh,
vừa theo Vũ Thành Tử
học chữ, học đạo lý
làm người, và những
tri thức về thiên văn,
địa lý, đạo trị nước,
bình thiên hạ.
Sau đó, Thúng
lại tiếp tục theo học
Doãn Thọ Tử.
Thúng sống trong gia đình
mà cha không hiểu đạo nghĩa.
Mẹ kế chua moa
em trai kêu ngạo
hỗn hào.
Sự sách viết rằng
cha Thúng là người gàn
dở, không biết phân biệt
đúng sai, chẳng đếm
sĩ gì đến đạo lý.
Hai mắt bị mù
nên người ta gọi là
cổ tẩu,
nghĩa là ông mù.
Mẹ kế
thì thâm độc, tàn nhẫn,
thường nói lời gian dối
thị phi.
Người em trai cùng cha khát mẹ
thì hung bạo,
lòng dạ hẹp hòi,
nham hiểm.
Ba người họ câu kết
với nhau, nhiều lần
hại Thúng vào đường chết.
Lần thì
phụ thân và hai mẹ
con tượng nhờ Thúng
sửa kho thốc,
lừa Thúng trèo lên mái nhà.
Sau đó
họ ở dưới rút thang
rồi châm lửa đốt kho thốc
để Thúng mắc kẹt
trong đám cháy.
Nhưng Thúng may mắn
thoát được.
Lần khác, họ sai Thúng
đào giếng, chờ Thúng
trèo xuống dưới, liền lấy
đất đá lấp lại
để chôn sống Thúng.
Em gái, vốn không đồng tình
với việc làm của mẹ và tượng,
đã nói cho
hai người vợ của Thúng biết.
Nhờ vậy, Thúng
mới thoát chết.
Dẫu cha mẹ kế và em trai
luôn coi Thúng như cái dai
trong mắt, tìm đủ mọi cách
để hảm hại ông.
Nhưng từ đầu chí cuối,
ông vẫn một lòng hiếu để,
giữ đúng đạo làm con,
chưa từng tố cáo
ba người họ.
Ông vẫn cung kính, chú đáo
với cha mẹ, thương yêu
đùm bọc em trai,
hết lòng nỗ lực để gia đình
yên ấm, hòa thuận.
Khi bị cha đánh bằng gậy nhỏ,
thì ông đứng yên.
Khi bị cha đánh bằng gậy lớn,
hoặc người nhà muốn ám hại,
thì ông liền chạy trốn,
không để cha mẹ
và em trai trở thành tội nhân.
Nhưng hể nhà
có việc gì cần giúp đỡ,
ông luôn ở bên cạnh họ,
chờ cha mẹ sai bảo.
Năm hai mươi tuổi,
Thúng đã vang danh thiên hạ
nhờ đức hiếu hạnh
không ai sánh bằng,
cảm động cả trời đất.
Lúc Thúng khai hoang
trọng trọt ở Lịch Sơn,
trời sai voi lớn
xuống núi giúp cày bừa,
chim chóc bay xuống
giúp trừ cỏ dại.
Mọi người ai nấy
đều cảm thấy rất thần kỳ.
Khi làm ruộng ở Lịch Sơn,
Thúng chủ động
nhường mảnh ruộng màu mỡ của mình
cho người khác,
rồi tự khai hoang vùng đất mới.
Nòi gương Thúng,
người vùng Lịch Sơn
dần hình thành phong tục
tương thân tương ái,
chung sống chan hòa với nhau.
Khi Thúng đánh cá
ở Lôi Trạch,
ông nhường nơi có nhiều cá
cho người khác đánh bắt.
Còn mình thì chọn những vùng
ít cá để mưu sinh.
Dưới ảnh hưởng của ông,
dân chúng ở Lôi Trạch
cũng trở nên khiêm tốn,
hòa thuận và tương trợ nhau.
Khi Thúng đến Hà Tân
làm gốm,
thì gốm ở Hà Tân
không còn hàng thứ phẩm.
Ông đem hết những gì
mình biết, truyền dạy lại
cho thợ gốm trong vùng,
giúp gốm vùng Hà Tân
trở nên tinh xảo và bền chắc.
Ở đâu,
Thúng cũng nghĩ cho người khác trước,
khoan dung nhẫn nhịnh,
dùng đứt cảm hóa
người xung quanh.
Sách Thượng Thư Đại Truyện
viết rằng
Thúng không trèo mà cao,
không đi mà đến được
nơi xa.
Còn sử tí viết
một năm tụ học,
hai năm lập ấp,
ba năm thành đô.
Nơi đâu Thúng bỏ công sức,
nơi đó đều
khưng khởi phong thái lễ nghĩa.
Thúng đi đến đâu,
mọi người
cũng muốn theo.
Đạo hiếu của Thúng
là lấy đứt báo oán.
Cha mẹ yêu ta
nói hiếu kính không khó.
Nhưng cha mẹ
chán ghét ta,
ngược đải ta,
thậm chí hại mệnh ta,
mà trong lòng không mẩy may
oán hận,
không có ý đối nghịch.
Chí khí cao như vậy
chính là để lưu lại cho đời sau
phong phạm của bậc thánh nhân
và truyền thống
lấy đạo hiếu trị quốc.
Năm Thúng ba mươi tuổi,
vua Nghiêu tìm kiếm
nhân tài có đức trong thiên hạ
để nhường ngôi.
Tứ nhạc liền tiến cử Thúng.
Đế Nghiêu thử
thách Thúng bằng nhiều việc lớn
nhỏ, giao cho
ông làm tư đồ để rèn luyện.
Dù trị
gia, nội chính hay
ngoại giao, ông đều
xử lý rõ ràng, sáng suốt.
Người nhà
nhiều lần toan hại mệnh ông,
nhưng ông vẫn giữ vững
đạo hiếu, chỉ
tự trách bản thân làm
chưa đủ tốt, khiến
cha mẹ không hài lòng,
em trai ngỗ ngược.
Từ đó, liên tục
trâu dồi tu dưỡng bản thân.
Cuối cùng,
ông đã cảm hóa được cha mẹ
và em trai.
Vì vậy, vua Nghiêu
quyết định truyền ngôi cho Thúng.
Vua Thúng
đã mở rộng và giáo hóa
ngũ điển, làm rõ
năm mối luân thường,
phụ nghĩa, mẫu từ,
huynh hữu, đệ cung,
tử hiếu,
trở thành nền tảng
đạo đức lưu truyền cho
muôn đời sau.
Trúc Thư Kỷ Niên viết
Khi Thúng kế vị,
cỏ minh giáp
mọc lên bên thềm,
phượng hoàng làm tổ
giữa sân,
gõ vào khánh đá
mà ca khúc cử thiệu.
Trăm loài thú
theo nhau nhảy múa,
sao cảnh xuất hiện
ở chỗ sao phòng,
mặt đất xuất hiện
con ngựa thừa hoàng,
thiên hạ thái bình,
xuất hiện mây lạnh
khanh vân.
Qua đó có thể thấy
cổ nhân lựa chọn
bậc quân vương
đã đặt nết hiếu đứng đầu
trong các đức hạnh.
Bởi vì
Bách thiện hiếu vi tiên.
Trong trăm điều thiện
hiếu để đứng đầu,
mọi việc thiện
đều bắt đầu từ đức hiếu.
Một người tận hiếu
với cha mẹ thì nhất định
sẽ biết yêu thương,
bảo vệ bách tính trong thiên hạ.
Câu chuyện về
vua thuấn thời thượng cổ
còn cho thấy
các đạo lý làm người
mà nho da giảng dạy
từ tề gia trị quốc
hay lấy hiếu trị quốc
đều bắt nguồn
từ sự thực hành
và giáo hóa dân chúng
của các bậc thánh vương
thời cổ đại,
chứ không phải tự nho da sáng tạo ra.
Hơn nữa,
cách ứng xử
giữ người với người
được trình bày rất rõ ràng
và toàn diện.
Gặp bất công
thì lấy đức báo oán,
dùng nhân đức
cảm hóa lòng người.
Chí công vô tư
chứ không phải thứ tình cảm hẹp hòi.
Người tốt với ta
thì ta mới tốt với người.
Trong các triệu đại xưa,
tội bất hiếu
thường bị trừng phạt
rất nghiêm khắc.
Không được đặc xá
bất kể là đại thần,
tể tướng hay thậm chí
bậc đế vương.
Một khi phạm phải tội bất hiếu
thì đều chịu sự trừng phạt
như nhau.
Sách Thượng Thư
viết rằng
Có ba trăm hình phạt
không tội nào nặng hơn
tội bất hiếu.
Vào năm đồng trị thứ năm
từng xảy ra một vụ đại án
như thế này.
Trịnh Hán Trinh
là võ sinh ở Hán Xuyên
cùng vợ là Hoàng Thị
đánh đập ngược đải mẹ mình
suốt thời gian dài.
Bị hàng xóm cáo lên nhà huyện.
Đúng lúc
Tổng đốc Hồ Quảng
đang đi tuần vùng Hán Xuyên
ông Liền lập tức ra lệnh
bắt hai người này về quy án
và trực tiếp dân tấu
Ngày sau đó
một thánh chỉ được gửi đến Hán Xuyên
yêu cầu trừng phạt nghiêm khắc
tội bất hiếu.
Trong đó
Trịnh Hán Trinh và Hoàng Thị
bị lột da rồi đốt thành trò.
Người chú
và ba anh em họ khác
của Trịnh Hán Trinh
bị xử treo cổ.
Tộc trưởng bị xử treo cổ.
Hàng xóm láng giềng
chê dấu không báo quan.
Mỗi người bị đánh
80 dạy
và bị đưa đến Âu Long Giang
sung quân.
Người thầy dạy võ cho Trịnh Hán Trinh
bị đánh 80 dạy.
Quan địa phương
tắp phủ và cấp huyện
không giáo hóa tốt người dân
bị cách chức
đuổi về quê.
Mẹ ruột của Hoàng Thị
bị thích bốn chữ
nuôi con không dạy
lên mặt
và bắt đi diễu bảy tỉnh
để thị chúng.
Cha ruột của Hoàng Thị
vốn là Tú Tài Thi Trược
bị đánh 80 dạy
và lưu đầy
3.000 dặm.
Con trai của Trịnh Hán Trinh
mới 9 tháng tuổi
chuyển cho huyện Hán Xuyên
nuôi dạy và đổi tên
thành Học Thiện.
Nhà cửa ruộng vườn
của Trịnh Hán Trinh
để hoang vĩnh viễn.
Vua lệnh cho
Tổng đốc Hồ Quảng
bố cáo vụ án này
đến tất cả các tỉnh.
Hạ lệnh rằng
nếu có vụ án tương tự
thì cứ chịu theo đó mà làm.
Do đó
vụ án này nhanh chóng
gây chấn động cả nước.
Đối với người hiện đại
mà nói vụ án này
xử như vậy là quá hạ khắc
không thể hiểu nổi.
Tuy nhiên
trong các triều đại
trước thời nhà Thanh
tội bất hiếu luôn nằm trong
thập ác bất xá
tức là những trọng tội
không thể dung thứ.
Là vì
người xưa tin rằng
đạo hiếu liên quan
tới lạo trời
chỉ là người thời nay
không tin.
Sử sách có ghi lại câu chuyện rằng
vào thời nhà Hán
có một người nông dân nghèo
tên là Quách Cự
da cảnh rất bận cùng.
Ông có
ba người huynh đệ
sau khi phụ thân qua đời
có để lại một ít
tài sản.
Quách Cự phân chia hết
cho các anh em trai
rồi đón mẫu thân
về nhà mình chăm sóc phụng dưỡng.
Cả gia đình
sinh sống rất cần cụ
và tiết kiệm.
Sau này
trong nhà có thêm một đứa con
cuộc sống càng thêm
túng quẩn.
Mẫu thân của ông
cứ luôn nhường phần thức ăn ngon
cho cháu trai
khiến ông rất đau lòng.
Nên đến bữa cơm
Quách Cự thường nói
con ra ngoài chơi.
Một ngày nọ
đứa trẻ chẳng may
bị chết đuối khi chơi
cạnh bờ sông.
Để không làm mẹ đau lòng
Quách Cự dặn đi
dặn lại vợ mình.
Bất kể thế nào
cũng không được để mẫu thân biết.
Ông nói với vợ rằng
chúng ta còn có thể
sinh thêm con
nhưng mẫu thân mất đi
thì vĩnh viễn
không thể có lại.
Người vợ không dám
trái lời chồng
liền nhanh chóng đào hố.
Khi đào sâu xuống được
ba thước, lột nhiên
trên trời vang lên
một tiếng sóng rất lớn
làm chấn kinh
khiến đứa trẻ tỉnh lại.
Người vợ nhìn trong hố
thì thấy có một hũ vàng
bên trên viết 16 chữ
Thiên Ban Hoàng Kim
Hiếu tử Quách Cự
Quang bức đắc đoạt
Dân bức đắc thủ
Nghĩa là
Trời ban hũ vàng
Quách Cự hiếu thuận
Quang không được đoạt
Dân không được lấy
Hai vợ chồng Quách Cự
sau khi có được vàng
liền mang về nhà
phụng dưỡng mẫu thân
và nuôi nấn con cái
Quý vị thân mến
Quan điểm về hiếu đẻ
này nay khác rất nhiều
so với thời trước
Người xưa quan điểm rằng
nuôi được cha mẹ
chưa phải là hiếu
Hiếu chân chính
xuất phát từ tấm lòng
trí thành, trí hiếu
không để cha mẹ
phải nhọc lòng lo lắng
bất cứ điều gì về mình
Ngoại trừ sức khỏe
vốn là điều
nằm trong sinh, lão
bệnh, tử
không thể tránh được
Này nay, con cái trưởng thành
thường rời xa cha mẹ
lập gia đình riêng
bận rộn với công việc
và sự nghiệp
nên việc chăm sóc cha mẹ
thường giao phó cho người khác
Không ít người cho rằng
chỉ cần gửi tiền
về phụng dưỡng cha mẹ
là đã làm tròn đạo hiếu
Lại có không ít
ông bà, cha mẹ
dù lớn tuổi
vẫn phải tự mình
bương chảy mưu sinh
Câu ca giao
Một mẹ nuôi được mười con
nhưng mười con
không nuôi nổi một mẹ
đã trở thành câu nói
quen thuộc
trong xã hội hiện đại
Nhưng
trong văn hóa truyền thống Á Đông
đạo hiếu
là một trong những đức hạnh
mà bất cứ ai
cũng đều phải làm tròn
Cha mẹ già
như ngọn đèn trước gió
Đời này
liệu chúng ta còn gặp họ
được bao nhiêu lần
Có những người con xa xứ
mỗi năm chỉ có thể
trở về nhà một lần
Nếu cha mẹ
có thể sống thêm hai mươi
năm nữa
Vậy chẳng phải chúng ta
chỉ còn được gặp họ
hai mươi lần nữa sao
Cảm ơn quý vị đã lắng nghe
quan tâm và chia sẻ radio
của Nàng Sen kể chuyện
Đừng quên nhấn follow
để đón xem video mới vào thứ bảy hàng tuần
Hẹn gặp lại quý vị
ở những chương trình lần sau
Thân ái và chào tạm biệt
