Tại Sao Càng Có Nhiều, Bạn Càng Mất? Triết Lý Lão Tử "Đánh Thức" Kẻ Mê Muội!

Đình Sự
538 người theo dõi
Tháo chiếc cà vạt sau một ngày rã rời, gỡ tấm danh thiếp sang trọng xuống khỏi ve áo, lùi bước vào căn phòng tĩnh lặng lúc khuya khuất.
Đã bao giờ, giữa những khoảng lặng thinh hiếm hoi của nửa đời người, chúng ta chợt nhận ra đôi vai mình đang kiệt sức dưới một sức nạn vô hình.
Sức nạn ấy không đơn thuần là cơm áo gạo tiền, không phải là những gánh lo vật chất thông thường.
Nó là sự mệt nhoài khi phải gồng mình bảo vệ những vỏ bọc, duy trì những hình tướng và gìn giữ những danh sưng do chính chúng ta nhọc nhằn kiến tạo nên.
Và hôm nay, Cổ Kim Thư Quán muốn cùng quý vị lật mở lại những dòng chiêm nghiệm sâu thẳm bậc nhất của Đạo Đức Kinh,
lội ngược dòng thời gian để tìm về một toa thuốc giải độc cho căn bệnh nan y đang làm cạn kiệt năng lượng của chúng ta ở lưng chừng con dốc cuộc đời.
Từ thời xa xưa, khi phục khi vạch những nét đầu tiên để hình thành nên bát quái, nhân loại bắt đầu ý thức được cội nguồn muôn loại.
Nhưng chính vì sự xuất hiện của những nét vạch biểu tượng ấy, con người cũng từ từ gắn chặt tâm trí vào các hình tướng bề ngoài.
Nhìn trời thì chấp vào hình tướng của trời, nhìn đất thì kẹt vào hình thể của đất, nhìn người thì chỉ thấy vỏ bọc của người.
Hàng ngàn năm cứ thế trôi qua, con người ngày càng mê đắm vào hình tướng, điên đảo vì những thứ bầy ra trước mắt mà quên mất những thứ ẩn sâu đằng sau.
Lão tử, đứng từ góc nhìn của một bậc chiết nhân thấu suốt đất trời, nhận ra một mối nguy hiểm khôn lường.
Ông hiểu rằng nếu cứ tiếp tục bám chấp vào tướng mạo bề ngoài như vậy, chúng ta sẽ tự nhốt mình trong một cái lồng chật hẹp, không thể bước thêm một bước nào trên hành trình tìm kiếm sự tự tại nội tâm.
Ông quyết ý phải phá bỏ cái bóng ma của hình tướng đó để thắp lên ngọn đèn của cội nguồn, nhưng lão tử lại rơi vào một nỗi phân vân lớn.
Ông sợ rằng khi mình cất công đập vỡ cái chấp vào tướng mạo rồi đưa ra một khái niệm mới tạm gọi là đạo,
thì người đời lại một lần nữa, mù quáng mà ôm chặt lấy chữ đạo, lại tiếp tục bám chấp vào một cái danh sưng mới.
Nỗi lo âu ấy khiến ông nghẹn lời. Một chân lý khi đã thốt ra bằng lời nói, lập tức nó biến thành một cái khung chật hẹp, đánh mất đi sự rộng mở khôn cùng của bản thể.
Sự cẩn trọng tột độ của ông động lại trong câu mở đầu kinh điển của cuốn sách vĩ đại Đạo Khả Đạo Phi Thường Đạo.
Khái niệm đạo nếu có thể dùng ngôn từ để phân tích, để gạch đầu dòng, thì đó chẳng còn là cái đạo thường hằng, tự nhiên của vũ trụ nữa.
Đó thực chất là một lời cảnh tỉnh sắc lạnh.
Lão tử muốn nhắn nhủ người đời rằng, ông vì lòng chắc ẩn mà nói ra những điều người xưa chưa kịp nói.
Nhưng xin đừng lầm tưởng thứ ngôn từ ông dùng là chân lý tuyệt đối.
Lời nói chỉ là ngón tay chỉ trăng, đừng nhìn trầm trầm vào ngón tay mà quên đi vầng trăng sáng vàng vặc giữa màn đêm.
Tiếp nối lời cảnh tỉnh đó, ông viết, danh khả danh, phi thường danh.
Bất kỳ một tên gọi nào, một chức danh nào, một khi đã được gắn cho hiện tượng hay con người, nó lập tức mang trong mình sự giới hạn.
Tuổi đôi mươi, chúng ta hâm hở lao vào đời với một khao khát cháy bỏng là định danh bản thân.
Chúng ta nhặt nhạnh từng mảnh ghép để khoác lên người.
Phải có một chức danh trên danh thiếp.
Phải có một vị trí vững vàng trong công ty.
Phải được gọi là người thành đạt, người có quyền, người cha mẫu mực, người vợ đảm đa.
Chúng ta khao khát thu thập những cái nhãn mát ấy như những tấm hủy trường sáng trói minh chứng cho sự tồn tại của mình.
Nhưng khi những nếp nhăn bắt đầu im dấu trên khóe mắt, khi quỹ thời gian không còn là vô tận, ta mới giật mình nhận ra.
Chính những cái danh ấy lại là thứ siềng xích trói buộc ta chặt nhất.
Người ta sợ mất đi cái ghế trường phòng nên phải luồn cúi.
Người ta sợ mất đi cái danh xưng người đạo đức nên phải sống giả tạo, che đẩy những tổn thương sâu hóm trong lòng.
Ta đi xa đến mức để bảo tồn một cái nhãn mát vô tri, ta đành lòng giết chết chính sự chân thật của bản thể.
Lịch sử từng ghi lại câu chuyện về hứa do, một bậc hiền chiết sống vào thời vua nghiêu.
Tương truyền, vua nghiêu tuổi đã cao, thấy hứa do là người tài đức vẹn toàn, sống thanh cao thoát tục,
liền đích thân băng rừng lội suối tìm đến tận nơi để xin nhường lại ngôi báu.
Đứng trước cơ hội quyền lực tột đỉnh mà vạn người khao khát, một cơ hội để tên tuổi lưu danh muôn thuở.
Hứa do không những không vui mừng mà còn cao mày từ chối thẳng thần.
Ông cho rằng những âm thanh của danh vọng quyền lực ấy là thứ ô ế,
làm vận độc đi tâm hồn thanh tịnh mà ông giày công gìn giữ.
Khi vua nghiêu ra về, hứa do lập tức chạy ra bờ suối, vốc nước suối trong mà rửa tay mình,
như muốn gột sạch đi một thứ bụi bặm vô hình vừa bám vào.
Kỳ lạ thay, lúc đó có một ẩn trĩ khác là xào phủ đang dắt trâu xuống bờ suối uống nước.
Thấy hứa do rửa tay, xào phủ hỏi lý do.
Nghe xong câu chuyện, xào phủ bèn dắt trâu đi ngược lên thượng nguồn.
Hứa do ngạc nhiên hỏi tại sao.
Xào phủ đáp lời, ta sợ con trâu của ta uống phải thứ nước đã bị vẩn độc bởi những lời danh lợi mà ông vừa rửa xuống.
Câu chuyện thâm sâu ấy dội vào lòng chúng ta một tiếng chuông cảnh tỉnh.
Đối với những bậc chân tu như hứa do và xào phủ, danh vọng không phải là ngai vàng lộng lẫy.
Nó là một gánh nặng, là thứ bụi trận ô trọc có thể đầu độc tâm hồn tinh khiết.
Hình ảnh con chim tiêu liêu làm tổ trong rừng sâu, dù có cả cánh rừng ngan trượm, thì nó cũng chỉ cần một nhành cây nhỏ.
Con chuột đồng uống nước sông, dù sông có giọng lớn bao la, thì nó cũng chỉ uống vừa đầy cái bụng bé nho nhỏ.
Chúng ta thu thập bao nhiêu danh sưng, bao nhiêu của cải trần gian, cuối cùng cũng chỉ cần một khoảng lặng trong tâm hồn, một chỗ ngả lưng không mọng mị.
Vậy cớ sao lại cõng trên vai cả một núi danh nặng trĩu, để rồi chìm nghìm giữa đại dương phiền não?
Nhấp một ngụm trà đắng, xin quý vị hãy thở ra một hơi thật nhẹ, và nhìn nhận lại ngọn nguồn của mọi gánh nặng ấy.
Căn nguyên của việc rượt đuổi những cái danh phủ phiếm thực chất đều xuất phát từ lòng khao khát chữ hữu, hay nói trắng ra là sự ám ảnh vì mưu cầu sở hữu.
Đời người là một chuỗi ngày vật lộn không ngừng nghỉ để lấp đầy những khoảng trống. Chúng ta đo đếm hạnh phúc bằng những thứ ta có được.
Có tiền tài, có danh vọng, có nhà cao cửa rộng, có con cái ngoan ngoãn, tất cả đều xoay quanh chữ có.
Thế nhưng lão tử lại nhẹ nhàng vạch trần một sự thật phũ phàng, nguồn cơn của tất cả mọi nỗi thống khổ trên thế gian này, nằm chính ở con chữ ấy.
Tâm lý học hiện đại đã chỉ ra một khuyên hướng hành vi gọi là hiệu ứng sở hữu.
Khi con người ta chưa có một món đồ, họ khao khát nó. Nhưng khi họ đã nắm nó trong tay, họ sinh ra một nỗi sợ hãi tột cùng mang tên mất mát.
Con người ta thả nhiên đi qua trăm ngàn ngôi nhà bề thế, không có mình trong đó, nhưng lại tức tối đến mất ngủ khi người hàng xóm mua được chiếc xe xịn hơn mình, xây được bức tường cao hơn rào nhà mình.
Nó sinh ra một căn bệnh thời đại mang tên trạng thái lo âu về địa vị. Tại sao anh ta lại có nhiều hơn tôi? Tại sao cô ấy lại thăng tiến nhanh hơn tôi?
Chúng ta nếm trải đau khổ không phải vì chúng ta thiếu thốn tới mức chết đói, mà vì chúng ta mãi miết đo lường phần có của mình với phần có của người khác.
Sự so sánh ấy đẩy con người vào một vòng xoáy không đáy. Càng gom góp, nội tâm càng chật trội, càng vuôn đắp cho cổng cảnh, những đêm mất ngủ càng kéo dài vô tận.
Giữa cơn mê sàng của nhân loại chạy đua theo chữ hữu, lão tử hướng ánh mắt chúng ta về một chiều kích hoàn toàn khác, đó là chữ vô.
Ông viết, vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu. Vạn vật sinh sôi từ cái vô thủy vô trung.
Hãy thử hình dung về chiếc chén ta dùng để uống nước mỗi ngày. Chiếc chén được nhào nặn từ đất xét, nung qua lửa đỏ mới thành hình.
Nhưng thứ thực sự mang lại tác dụng cho chiếc chén không phải là thành gốm mỏng ngoài kia, mà chính là khoảng không gian trống rỗng bên trong.
Không có khoảng trống vô hình đó, chén cũng chỉ là cục đất nung đặc ruột, chẳng thể chứa đựng được giọt nước nào.
Ngôi nhà chúng ta đang ở cũng vậy. Tường dày, rào cao, cột trụ liêm vững trãi chỉ là phần hiểu để kiến tạo nên danh giới.
Nhưng thứ nuôi dưỡng cuộc sống của gia đình, thứ ta sử dụng để đi lại, hít thở và sinh hoạt lại là cái không gian trống rỗng bên trong bốn bức tưởng ấy.
Vậy mà, suốt dặm dài sinh mệnh, con người chân mắt thịt chỉ mãi miết đi ca tụng phần viền ngoài mà quên mất sự vĩ đại của khoảng trống nội tạng.
Chính vì thế, Bạc Hiền triết khuyên rằng thường vô dục, dĩ quan kỳ diệu.
Hãy tự đặt mình vào trạng thái không bấu víu, không cưỡng cầu sở hữu, không mưu đoạt cách có, để dùng tinh thần mà quan sát sự màu nhiệm của vũ trụ.
Đến đây, chúng ta lại chạm mặt một chữ vô cùng vi diệu, đó là chữ quan.
Nó khác hẳn với chữ kiến. Kiến là dùng đôi mắt vật lý để nhìn.
Nhìn thấy tiền tài rơi vãi liền khởi lòng tham.
Nhìn thấy quyền lực vẫy gọi liền khởi tâm tranh đoạt.
Đôi mắt rất dễ bị thị giác lừa gạt, bị những lớp vỏ hào nhoáng che mở.
Còn quan là sự lùi lại, là nhắm đôi mắt vật lý lại.
Dùng chính tinh thần thuần khiết nhất để thẩm thấu mọi biến động đang diễn ra.
Khi tâm trí không còn bị kéo chạch đi vì ganh đua hay thèm khác,
ta quan sát vạn vật giống như việc đứng trên một ngọn tháp cao, nhìn xuống dòng sông cuồn cuộn.
Nước cuốn đi cành cây khô, lật ngửa những hòn đá tảng.
Nhưng người đứng trên tháp thì tĩnh lặng, không buồn vui, không nhảy xuống bắt đền dòng nước.
Đó gọi là thẩm thấu.
Lại nhớ đến một câu chuyện kinh điển của đạo gia Trang Tử gõ bồn ca hát.
Khi người vợ đầu gối tay ấp bao năm của Trang Tử qua đời, Huệ Thi, một người bạn thân, đến bành bồng điếu viếng.
Nhưng kỳ lạ thay, giữa cảnh tang thương bối rối,
người ta không thấy những dòng lệ tuôn trào, không nghe thấy những tiếng than vãn bi ai nứt nẻ lòng ngực.
Huệ Thi bước vào, hoàng hồn thấy Trang Tử đang ngồi khoanh chân,
cầm rùi gõ vào một chiếc chậu sành, miệng còn ngân nga một khúc ca lạ.
Huệ Thi giận dữ thốt lên, ông đã chung sống, lại có con với bà ấy.
Nay người ta mất, không khóc đã đành, lại còn gõ bồn mà hát.
Trò hề gì thế này?
Trang Tử điềm nhiên hạ chiếc rùi xuống, thở hát ra một hơi tĩnh tạng.
Đâu phải tôi không buồn?
Khi nàng mới nhắm mắt, tôi cũng đau đớn như bao người trần mắt thịt khác.
Thế nhưng, tôi lắng lại đôi phút để suy ngẫm về điểm khơi nguồn của sinh mệnh.
Từ thỏa hồng hoang, nàng vốn chưa hề tồn tại.
Nàng ở trạng thái rỗng không vô hình, vô tướng.
Rồi hình thành khí, khí tụ lại mà thành cơ thể.
Cơ thể ấy vay mượn của đất trời để có sự sống.
Mượn trăm năm rồi thì cũng đến lúc phải trả.
Sự sống và cái chết cũng tựa như bánh xe luân chuyển của bốn mùa xuân hạ thu đông.
Nàng ấy giờ đây đang yên nghỉ ở trong cái tĩnh lặng của vũ trụ rộng rinh này.
Cớ chi tôi lại dùng cái nhỏ mọn của phạm phu tục tử,
mà khóc lóc đòi lại một thứ đồ vốn dĩ mình đi mượn.
Khúc ca của trang tử không là một tiếng hát vô tâm,
mà là khúc trang ca thức tỉnh những linh hồn đang mắc kẹt giữa sinh và tử, giữa được và mất.
Vạn vật trên đời này đều tuân thủ một chu trình biến dịch không ngừng nghỉ,
từ không sinh ra có, rồi từ có lại trở về không.
Nó minh chứng rõ nét cho chiết lý vô hữu luân chuyển.
Mọi thứ chỉ chuyển hóa, chứ không vĩnh viễn mất đi.
Nếu chúng ta dùng nhãn quang u luân mà nhìn,
cái chết là một tận cùng đen tối,
sự mất mát là một lưỡi kiếm xé tọa con tim.
Nhưng nếu dùng chính chiếc chìa khóa quan của Lão Tử,
ta sẽ thấy sự ra đi chỉ là bước chuyển mình từ hữu trở về lại sân nhà vô,
là gỡ bỏ hình tướng để hòa vào một đại ngã bao la hơn.
Khi ta luyện được sự thẩm thấu ấy,
mọi danh giới giữa vô và hữu bỗng dưng nhòa đi.
Lão Tử nói, hai thứ ấy tuy gọi bằng danh sưng khác nhau,
nhưng thực chất cùng tuôn trào từ một cội nguồn.
Chúng không hề đối lập triệt tiêu nhau,
mà chúng đang nương tựa vào nhau,
tương tác và khiêu vũ cùng nhau trên dòng thời gian bất tận.
Khái niệm đối lập thực chất chỉ là ảo tưởng do tư duy con người tạo ra
để tự chói buộc tâm trí mình.
Cứ mãi miết phân chia đen trắng, đúng sai, có và không.
Ta tự đẩy mình vào sự cứng nhất, ngột ngạt.
Thái độ sống đúng đắn nhất là để cho vạn vật đối đải với nhau,
dung hợp nhẹ nhàng.
Sự thấu hiểu tận cùng về bản chất thống nhất ấy
được lão tử gọi bằng hai chữ huyền đồng.
Huyền đồng là một mức độ nhận thức vượt mặt đám đông.
Người đời nhìn vào thấy phân ly, thấy mất mát, thấy tùi nhục.
Người có nhận thức huyền đồng nhìn vào thì mỉm cười,
nhận ra mọi thứ chỉ là những giai đoạn luân chuyển của một thực tại vĩ đại.
Từ tận cùng của sự tĩnh tại đó,
ánh sáng bắt đầu le lói sau chuỗi ngày dài u tối.
Đó chính là cảnh giới huyền chi hựu huyền,
trúng diệu chi môn, một cảnh giới sâu thẳm rồi lại càng thêm sâu thẳm.
Cửa ngõ của một sự màu nhiệm sẽ tự động mở tung, lạ lùng thay,
chính ở cái khoảnh khắc ta buông tay từ bỏ mọi khao khát được nắm bắt nó.
Khi lột bỏ được bộ chiến giác của sĩ diện,
gỡ đi những chức danh vô hồn mà miệng đời thường tung hô,
ta bỗng chốc thấy cơ thể nhẹ tanh, tựa lông hồng.
Tài sản trần gian đôi khi tuột tay tan biến,
tưởng chừng như đất trời sụp đổ.
Nhưng đó thực ra là lúc một khoảng trống vô hình được tạo ra
để tâm hồn đón nhận một chương khởi sắc mới mẻ,
tựa như việc đổ hết cạn trà cũ đi mới có chỗ để thay vào làn trà thanh nhãn.
Cuộc đời suy cho cùng không phải là hành trình cộng thêm để vuôn đắp hình tướng,
mà là nghệ thuật làm phép trừ.
Trừ đi một chút nóng giận làm đen lút tâm linh,
bớt đi một lòng đố kị hẹp hỏi gặm nhấm năm tháng,
buông xuống một chút sĩ diện hảo huyền vốn chỉ có giá trị trên miệng lưỡi người đời.
Nhưng thưa quý vị, làm phép trừ không đồng nghĩa với việc chúng ta dũ bỏ mọi trách nhiệm,
chối bỏ gia đình hay lên núi đi tu để trốn tránh thế sự.
Sự buông xả thực sự mà lão tử hay trang tử muốn hướng tới
không nằm ở việc vứt bỏ vật chất mà là vứt bỏ cái tâm vướng mắt vào vật chất.
Quý vị vẫn có thể mặc lụa là gấm vóc,
vẫn có thể ngồi trong những căn nhà sang trọng,
vẫn điều hành hàng trăm nhân viên.
Nhưng trong thâm tâm, quý vị không để những thứ đó định nghĩa con người mình.
Khi có, ta trân trọng thưởng thức tận cùng phước báu.
Khi mất, ta mỉm cười xòe đôi bàn tay trắng mà không mảy may xót ra.
Đó mới là cảnh giới cao nhất của người thấu đạt đạo lý.
Giữa nhịp sống vội vã hiện đại,
nơi mà con cháu chúng ta đang quay cuồng trong vòng xoáy của KPI,
của những bảng xếp hạn tài sản,
của những lợt thích vô hình trên mạng xã hội,
thì sự tĩnh tại của người đi trước chính là ngọn hải đăng vững chãi nhất.
Một người cha, người mẹ biết buông bỏ bớt cái danh xưng phụ huynh hoàn hảo,
không ép con phải mang bộ mặt rạng rỡ của gia đình ra khoe khoang với thế giới,
sẽ nuôi dưỡng nên những đứa trẻ có nội lực vững vàng.
Khi chúng ta thực hành được Chữ Vô,
tự khắc chúng ta đã tạo ra một khoảng không gian an toàn vô giá
để những người xung quanh ta được thở,
được sống đúng với bản thể chân thật của họ.
Trừ cho đến khi ta cảm giác tay mình chẳng còn gì để mất,
ta sẽ tình cờ hạnh ngộ gặp lại thứ tĩnh lặng tuyệt đối của tâm hồn mình
y như cái lúc mới hoa hoa cất tiếng tạ từ cõi vô vành.
Nếu quý vị thấy lòng rũ xương tĩnh lặng lại sau những dòng chia sẻ vừa rồi,
xin hãy giữ lấy sự tĩnh tâm ấy làm hành trang cho những ngày sắp tới.
Không bám níu, không xót xa, không phán xét,
hãy để dòng chảy sinh mệnh nhẹ nhàng tắm mát những vết xước bên trong.
Đừng quên đán lại chia sẻ đôi chút cảm nhận của mình
và đồng hành cùng cổ Kim Thư Quán trong những chặng đường tiếp theo.
Chúc quý vị những ngày tháng thảnh thơi,
chút bỏ được gánh ngặng vô hình để đôi chân bước đi tự tại.
Xin chào và hẹn gặp lại trong những cuộc trò chuyện lần sau.
