Hiểu Rõ Về QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT Và Bài Chú Tâm Đắc Nhất - CHÚ ĐẠI BI | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
537 người theo dõi
Chào mừng các bạn đã đến với kênh Thế Giới Cô Đại.
Tôi là MC Quang Thiên, rất vui được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay.
3.000 năm trước, một vị Phật đã truyền lại một câu chú có sức mạnh đến mức mà chỉ cần nghe một lần.
Một vị Bồ Tát liền vượt qua hàng vô lượng kiếp tu hành.
Câu chú ấy không phải thân thoại mà nó vẫn vang lên mỗi sáng trong hàng ngàn ngôi chùa Việt Nam.
Đó chính là Đại Bì Chú.
Bạn có từng tự hỏi vì sao người ta tin rằng chỉ cần niệm câu chú này có thể hóa giải tội nghiệp,
chữa lành bệnh tật, tránh tai nạn, thậm chí khiến gió thổi qua thân cũng cứu được chúng sinh.
Vì sao Quang Thiên Bồ Tát, người mà ta tưởng chỉ là một vị cứu khổ,
lại được Đức Phật tiết lộ từng là một vị Phật thật sự, hiệu là tránh pháp mình như lại.
Câu chuyện hôm nay sẽ đưa bạn đi sâu vào kinh Đại Bì Tâm Đà-La-Ni,
bàn kinh hé lộ nguồn gốc, sức mạnh và bí mật của Đại Bì Chú,
để bạn hiểu vì sao chỉ 6 âm thanh, tường trưng đơn giản,
lại có thể làm chấn động cả cõi người và trời.
Đừng rơi mắt khỏi màn hình nhé.
Chúng ta hãy cùng bắt đầu ngay bây giờ.
Nói đến các vị Bồ Tát trong Phật giáo,
đa số chúng ta sẽ nghĩ ngay đến Quán Thế Âm.
Điểm này chắc không có gì phải bàn.
Nhưng nếu hỏi tiếp, nhắc đến Quán Thế Âm,
bạn nhớ câu chú nào trước tiên?
Câu trả lời sẽ chia làm 2 hướng.
Có người nói đó là Đại Bì Chú,
có người lại nói Lục Tự Đại Mình Chú mới là thần chú mạnh nhất của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Thật bất ngờ, cả 2 câu trả lời đều đúng.
Đại Bì Chú là câu chú gắn với Quán Thế Âm,
được truyền tụng rộng nhất trong Phật giáo Hán truyền.
Còn Lục Tự Đại Mình Chú là câu chú phổ biến nhất trong Phật giáo Tây Tạng.
Trong truyền thông Hán truyền,
Đại Bì Chú là một trong những bài chú bắt buộc tụng vào thời khoa sáng ở mọi chùa.
Còn tại vùng Tây Tạng,
hầu như đứa trẻ nào vừa bập bẹ gọi mẹ là đã biết niệm Lục Tự Đại Mình Chú.
Hôm nay, chúng ta sẽ tập trung nói về câu chú gắn với Quán Thế Âm,
được lưu truyền rộng nhất ở vùng Hán địa, Đại Bì Chú.
Như đã nói, vị thế của Đại Bì Chú trong Hán địa vô cùng trọng yếu.
Hầu như ở mọi chùa, vào thời khoa sáng đều tụng Kinh Lang Nghiêm,
rồi Đại Bì Chú theo sau.
Đây là phần không thể thiếu.
Nhiều người thắc mắc rằng,
tại sao Đại Bì Chú lại quan trọng đến thế?
Bài chú nhìn thi dài, dù ngắn hơn Kinh Lang Nghiêm rất nhiều,
đọc cũng khó trôi chảy hơn so với nhiều thần chú khác.
Kể cả so với thập tiểu chú phía sau.
Ấy vậy mà không chỉ chưa tăng ni tụng hàng sáng,
rất nhiều Phật tử tại ra cũng đưa vào thời khoa mỗi ngày, thậm chí là thuộc lòng.
Vì sao một bài chú có vẻ dài và khó đọc như vậy,
lại có vị trí đặc biệt trong Phật giáo Hán truyền?
Có người đáp, vì công đức của Đại Bì Chú rất lớn,
tích lũy phúc báo, tiêu trừ tội trướng, giải ách,
trưa tám vạn bốn nghìn loại bệnh, không rơi vào đường ác,
thành tiêu tác nguyện trong đời.
Quả thật, Kinh Đại Bì Tâm Đà-La-Ni có nói rất nhiều về công đức của bài chú này.
Nhưng những công đức như thế, nhiều thần chú khác,
nhiều Kinh khác, danh hiệu các Phật Bồ-Tát khác cũng đều có.
Thế vì sao Đại Bì Chú lại được đặt ở vị trí thời khoa bắt buộc trong Phật giáo Hán truyền?
Muốn trả lời, cần tìm ngay trong Kinh Đại Bì Tâm Đà-La-Ni.
Trong Kinh cho thấy, Đại Bì Chú có nhân duyên đặc biệt để xuất hiện,
mà nhân duyên ấy còn liên hệ tới nhân quả tiền thân của chính quán thê âm.
Ngài rốt cuộc có lai lịch thế nào, tất cả đều được giải bày.
Chính điểm này là nguyên do quan trọng khiến Đại Bì Chú được lưu truyền rộng rãi
và có địa vị tôn quý ở Hán địa.
Sau đây, chúng ta cùng xem qua Đại Bì Chú rốt cuộc có nhân duyên đặc biệt gì,
dùng mạo chân thực của quán thê âm ra sao và nhân duyên tiền kiếp của Ngài là như thế nào.
Bài Chú này được ghi trong buộc Kinh có tên đầy đủ
Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thê Âm Bồ-Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bì Tâm Đà-La-Ni Kinh.
Thường gọi tắt là Kinh Đại Bì Tâm Đà-La-Ni.
So với nhiều Kinh văn quen thuộc, Kinh này có hai điểm khác thường.
Trước hết là nơi thuyết Kinh rất đặc biệt.
Điểm đặc biệt thứ hai là nhân vật trung tâm của Kinh.
Đầu tiên, hãy định vị bối cảnh cho rõ ràng.
Pháp hội trong câu chuyện không diễn ra ở sân nhà Đức Phật quen thuộc
như Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên hay Xá Vệ Quốc
mà được mở ngay tại đảo tràng của quán thê âm Phổ Đà Lạc Ca Sơn.
Nghe tên Phổ Đà có quen không?
Trong truyền thống Hán truyền, bốn thánh địa gắn với bốn vị Bồ Tát
và thánh địa của quán thê âm chính là núi Phổ Đà.
Điều quan trọng là tên Phổ Đà bắt nguồn trực tiếp từ Kinh Đại Bì Tâm Đà-La-Ni
nơi ghi rõ pháp hội được diễn ra ở Phổ Đà Lạc Ca.
Từ đây mới hình thành truyền thống tôn sưng Phổ Đà Sơn
là thánh địa của quán thê âm trong thế giới Hán truyền.
Nói cách khác, địa danh trong kinh không chỉ là một chỗ trốn
mà còn là trứng tín lịch sử, tôn giáo.
Pháp được thuyết ngay tại chủ trường của quán âm
vì thế mới có uy lực và ảnh hưởng sâu rộng về sau.
Nói cách khác, trong bản kinh này
Đức Thích Cà Mâu Ni dẫn đại chúng đến đảo tràng của quán thê âm Bồ Tát
và tuyên thuyết ngay tại chính chủ trường của quán thê âm.
Điều này rất thú vị
vì phần nhiều kinh điển được dạng ở sân nhà của Đức Phật
như kỳ thọ cấp cô độc viên, giáo vệ quốc, v.v.
Còn những bản kinh được thuyết ngay tại đảo tràng
của một vị Bồ Tát thì khá hiếm.
Đó là cái đặc biệt thứ nhất, chính là địa điểm.
Đến đặc biệt thứ hai là nhân vật chính.
Bạn có thể nghĩ Phật đã dẫn chúng sinh đến đó
vậy thì chắc chắn Phật là người thuyết Pháp.
Thực ra không phải.
Dù phần mở đầu ghi Đức Phật dẫn đông đảo đại chúng
đến đảo tràng của quán thê âm
nhưng câu chuyện trong kinh lại khởi lên
từ hào quang của quán thê âm Bồ Tát.
Toàn thân ngài phóng quang chiếu khắp 10 phương thế giới.
Trong kinh điển, phóng quang là cảnh thường thấy
trong kinh làng nghiêm, kinh Pháp Hoa.
Ánh sáng ở đây 2 tầng nghĩa như sau.
Về nghĩa cạn, quang minh tượng trưng cho ấm áp và sáng tỏ
đối lại với lạnh lẽo và bóng tối.
Ánh sáng của chư Phật Bồ Tát
đem lại an ủi và sáng suốt cho chúng sinh.
Nhờ quang minh ấy, si ám bên trong được phá trừ,
nhục nhãn, hẹp hòi được mở tung,
bị Phật quang chạm đến, thân tâm an lạc
rồi sẽ có ngày khai ngộ vào cửa.
Còn về nghĩa sâu,
thì quang chính là bản giác nơi mỗi người
là Phật tâm sẵn đủ.
Khi chư Phật Bồ Tát phóng quang
đó cũng là trì điểm cho những căn cơ đã thuần thuộc.
Đường ánh quang, hành giả có thể thấy tự tánh,
thậm chí là đường xứ thành Phật.
Điều này hoàn toàn có thể.
Ngay tại Pháp hồi ấy,
Quán Thế Âm trước tiên phóng quang chiếu khắp 10 phương.
Khi đó, có một vị Bồ Tát
tên là Tổng Trì Vương Khởi Nhi
bèn đứng dậy hỏi Phật rằng
ánh sáng này từ đâu, là ai phóng ra.
Được Phật đáp,
ông nên biết chính Quán Thế Âm Bồ Tát
vị chủ nhân của Pháp hội hôm nay đã phóng quang.
Và ngài không phóng quang vô cớ,
như ta đã nói,
chư Phật Bồ Tát phóng quang
đều vì lợi ích chúng sinh.
Hôm nay Quán Thế Âm phóng quang
cũng là để lợi ích hiệu tình.
Vậy, xin cung thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát.
Sau lời Phật,
Quán Thế Âm Bồ Tát đăng đàn.
Vì thế,
nhân vật chính của bản kinh này
không phải Đức Thích Cà Mô Ni.
Ngài ở đây
giống như vị chủ trì Pháp hội,
giới thiệu và hỗ trợ cho chính Quán Thế Âm Bồ Tát.
Lúc ấy,
Quán Thế Âm Bạch Phật
còn có một chân ngôn
có thể đem lại an lạc cho chúng sinh.
Danh của chân ngôn ấy
là Đại Bi Chú.
Nguyệt văn
là Đại Bi Tâm Đà-La-Ni.
Đà-La-Ni
tức là chân ngôn.
Đây là diệu chú
có lợi ích vô lượng hiệu tình.
Hôm nay,
con xin tuyên thuyết Kính Cầu Thế Tôn cho phép.
Phật dạy,
tốt lắm,
vậy hãy nói đi.
Thế là Quán Thế Âm Bạch.
Bài chú này
vào thủa xa xưa vô lượng khiếp trước.
Một vị Phật
tên Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai
đã truyền cho con
để lợi ích con
và lợi ích chúng sinh khi ấy.
Khi truyền,
Ngài con đặt tay lên đỉnh đều con
rồi tông chú.
Con nhận chọn truyền thừa ấy.
Điều kỳ diệu là
nghe xong bài chú,
con liền từ bậc sơ địa
lên thẳng bát địa.
Sơ địa lên bát địa nghĩa là gì?
Xin lược giải thứ lớp tu trứng
theo giáo lý hiển truyền.
Từ lúc một người phát Bồ Đề Tâm,
phát nguyện thành Phật để độ chúng sinh
cho đến khi thành Phật,
thông thường phải trải qua
ba A Tăng Kỳ khiếp.
A Tăng Kỳ là âm phạn
nghĩa là vô lượng.
Còn khiếp
là khoảng thời gian một vũ trụ
thành, tru, hoài, không chọn vẹn.
Có thể nói
đây là quá trình cực kỳ dài lâu.
Ba A Tăng Kỳ khiếp
được hiểu nôm na như sau.
A Tăng Kỳ thứ nhất
là lúc phát Bồ Đề Tâm đến sơ địa.
Dưới sơ địa
gọi là Pham Phu Bồ Tát.
Lúc này công phu và trí tuệ còn hạn chế.
Từ sơ địa trở lên
mới thực sự chứng ngộ tánh không,
phát sinh nhiều năng lực siêu Việt.
Nhưng vẫn còn rất xa quả Phật.
A Tăng Kỳ thứ hai
là từ nhị địa lên thất địa.
A Tăng Kỳ thứ ba
là từ bát địa đến Phật địa.
Như vậy,
theo chính lời quan thế âm,
trước khi nghe Đại Bi Chú,
Ngài đang ở sơ địa.
Nghe xong,
Ngài vượt qua tròn A Tăng Kỳ thứ hai,
tức chặn nhị thất địa
và nhập thẳng bát địa
bước vào A Tăng Kỳ thứ ba.
Chỉ một lần nghe Đại Bi Chú
mà có thể siêu vượt công đức tu hành
của một đại A Tăng Kỳ khiếp.
Đủ thấy uy lực của bài Chú lớn đến mức nào.
Ngoài ra,
khi nhắc đến quan thế âm ở hán địa,
nhiều người quen gọi
là thiên thủ thiền nhãn quan thế âm.
Vậy,
danh sưng này từ đâu ra?
Cũng chính từ Pháp hội lần ấy,
quan thế âm nói rằng,
sau khi nghe Chú,
con phát nguyện,
nếu đời sau con có thể lợi lạc
và an vui cho tất cả chúng sinh,
nguyện thân con đầy đủ một nghìn tay
và một nghìn bát.
Phát nguyện xong,
liên hiện thiên tướng thiên thủ thiền nhãn.
Thiền nhãn,
biểu trưng thấy khắp nỗi khổ của hiệu tình.
Thiền thủ,
biểu trưng vơn đến mọi nơi để cứu giúp,
giải trừ khổ đàn.
Đó là nguồn gốc danh hiệu
thiên thủ thiền nhãn quan thế âm.
Vậy nên,
nói nhân vật trung tâm của bộ kinh này rất đặc biệt.
Không phải chính Đức Thích Cam Mâu Ni,
mà là quan thế âm Bồ-Tát.
Đức Phật chưa bị chủ trì Pháp hội,
giới thiệu và chứng minh.
Còn chủ vai là quan thế âm,
người tuyên nói Đại Bi-tâm Đà-La-Ni
để lợi ích vô lượng chúng sinh.
Hơn nữa,
danh xưng thiên thủ thiền nhãn quan thế âm
cũng chính là do Đại Nguyện
mà Ngài phát ngay trong Pháp hội này,
được quan thế âm tự miệng tuyên nói,
liên hệ tới một nhân duyên tiền kiếp của Ngài.
Quan trọng hơn,
quan thế âm không chỉ là nhân vật trung tâm của kinh.
Ở nửa sao của bản kinh,
Đức Thích Cam Mâu Ni
có đích thân hé lộ lai lịch chân thật của quan thế âm.
Rốt cuộc Ngài là ai?
Bản lai diện mục thế nào?
Phần này xin để sau.
Như vừa nói,
Đại Bi-chú vi diệu đến mức
quan thế âm vừa nghe xong
liền siêu vượt một đài A-tăng kỷ kiếp
từ sơ địa thẳng lên bát địa.
Nhiều bạn sẽ thắc mắc,
Chú là gì?
Nghe bí ẩn lắm.
Xưa nay Đông Tây đều nhắc đến.
Chú trong Phật giáo từ đâu mà có?
Vì sao Thiên Quang Vương tĩnh trụ như lại
lại có Đại Bi-chú
để chuyên cho quan thế âm?
Từ góc nhìn Phật giáo,
Thần Chú là thành quả tu trứng
của chữ Phật Bồ-Tát.
Chữ Phật Bồ-Tát vốn cũng do Phạm Phu
như chúng ta tu dân mà thành.
Đem đời sống con người mà nói
Phật Pháp quy về ba mặt
Thân, Khẩu, Ý.
Ở địa vị Phạm Phu
Thân Khẩu Ý vẫn là Thân Phạm
Lợi Phạm, Ý Phạm.
Khi thành Phật
Ba mặt ấy biến hiện khác hẳn.
Thân thành ba thân
Pháp thân, Báo thân, Ứng Hóa thân.
Khẩu Hiền bay thành Trần Ngôn
Thần Chú.
Mỗi vị Phật Bồ-Tát đều có Chú riêng.
Bạn thành Phật
Bạn cũng sẽ có Chú riêng của mình.
Còn ý viên
Thành trí tuệ mình không.
Điều cốt yếu cần hiểu
Chú chính là kết quả hiển lộ
Của Khẩu, nơi quả Phật.
Lời nói Phạm Phu
Đến khi chứng quả hiển dụng thành Ngôn
Tức Thần Chú.
Lại có người hỏi
Vì sao niệm Chú lại hiệu nghiệp
Nghe như chẳng khoa học
Đọc mấy âm tiết lạ lùng
Mà sao lại có tác dụng
Việc này nên nhìn nhận vào hai tầng
Thứ nhất
Là tầng cạn
Vì Chú là thành quả
Và cũng là dấu ấn thân phận
Của một vị Phật Bồ-Tát
Bạn có thể hình dung Chú như cách liên lạc
Gặp bạn mới
Người ta đưa danh thiếp
Có tên, chức vị, liên hệ
Chú là đường dây
Để Phạm Phu kết nối với chư Phật Bồ-Tát
Tựa như số điện thoại
Hay tài khoản trên mạng xã hội
Bạn điệm Chú
Tức là bấm số
Kết tuyến với Ngài
Khi kết nối thông
Năng lực của Phật chuyển đến bạn không gián đoạn
Vì thế mà linh
Còn về tầng sâu
Ở ý nghĩa rốt giáo
Chú chính là vị Phật Bồ-Tát ấy
Khi thành Phật
Chú tức bản thân Ngài
Điểm này được nhiều cao tăng đại đức giảng rõ
Đừng hiểu đây là Chú
Của một vị nào đó như vật rời dạng
Khi ta nói đến một chân ngôn nào đó
Thí dụ như lục tự Đại Mình Chú
Của Quán Thế Âm
Om Mani Padme Hum
Chính là tâm Chú của Quán Thế Âm Bồ-Tát
Nhưng sâu xa mà nói
Đó chính là Quán Thế Âm Bồ-Tát
Tức là khi bạn niệm
Om Mani Padme Hum
Bạn đang trở thành Quán Thế Âm
Nghe vậy
Nhiều người sẽ nghi ngờ
Tôi cũng từng tụng qua
Sao vẫn chưa thành Quán Thế Âm
Thực ra lý thuyết thì là như thế này
Khi niệm Chú
Bạn hòa nhập với bản thể của vị Phật
Hay Bồ-Tát ấy
Nhưng thực hành thì khó đạt đến toàn vẹn
Vì chất lượng trì Chú của chúng ta
Chưa đủ, tâm tán loạn
Chí thấy thấp, niềm tin chưa sâu
Do đó
Không thể ngay lập tức biến thành Quán Thế Âm
Tuy nhiên
Vì chân ngôn chính là Ngài
Nên khi bạn niệm
Dù ít hay nhiều
Bạn vẫn thấm được năng lượng của Quán Thế Âm
Đã tiếp xúc với năng lượng của Ngài
Làm sao có thể không linh
Dù bạn chưa thấy hiệu quả
Rõ rệt bên ngoài
Nhưng trong nội tâm
Chuyển hóa âm thầm vẫn diễn ra
Càng tụng lâu, càng tụng sâu
Càng tụng bằng tâm thành tình
Và nhất niệm
Hiệu quả ấy càng mạnh mẽ, càng hiển lộ
Đó là tầng sâu của lý do
Vì sao Chí Chú lại linh nhiệm
Bởi Chú chính là Phật
Bồ-Tát
Khi bạn niệm Chú
Bạn đang trở thành chính vị Phật ấy
Dù chỉ Phật nào
Mà khi bạn là Phật
Còn điều gì không thể hóa giải
Trước khi đến với phần quan trọng nhất
Của video ngày hôm nay
Là công năng cụ thể của Đại Bì Chú
Tôi xin giới thiệu hiện nay
Tim Thế Giới Cổ Đại
Có thêm một kênh chuyên tìm hiểu
Về những bí ẩn lịch sử, tôn giáo
Nếu các bạn có thấy trên trang chủ
Thì nhớ ủng hộ kênh nhé
Ngoài ra cách hiệu quả nhất
Để có thể thấy kênh
Là tìm kiếm Thế Giới Thần Thoại
Chúng tôi xin cam kết đưa đến bạn
Những thông tin hiệu ích nhất và sâu sắc nhất
Và giờ thì chúng ta trở lại
Với chủ đề ngày hôm nay
Đó là Đại Bì Chú
Như đã nói
Đại Bì Chú có những câu công năng phổ thông
Tiêu tội, tăng phúc, trừ nạn
Mạnh khỏe, sống lâu, chuyển vận
Nhưng ngoài ra
Còn có những công năng đặc biệt
Và thực tế được ghi chép
Trong kinh Đại Bì Tâm Đà-La-Ni
Trong kinh
Quán Thế Âm dạy rằng
Nếu ai chỉ tụng Đại Bì Thần Chú
Mà không được vô lượng tam muội
Và biện tài, ta thề không thành tránh giác
Câu này nghĩa là
Nếu bạn chỉ Đại Bì Chú
Mà không đạt được đình
Tức tam muội và biện tài vô ngại
Nói năng tự tại
Khéo léo, đầy trí tuệ
Thì Quán Thế Âm cũng không thành Phật
Thế nào là biện tài?
Hiểu đơn giản
Đó là khả năng ngôn ngữ
Nói có sức thuyết phục, rõ ràng, thiện xảo
Trong thời đại này
Biết nói đúng, nói trúng
Chính là một năng lực bí giá
Còn tam muội samadhi là gì?
Là sức định
Là tâm an Chú sâu lắng
Bình tĩnh và vững vàng
Quán Thế Âm đã hứa rằng
Người chi Đại Bì Chú
Sẽ được định lực và biện tài
Biện tài giúp bạn
Ứng đối tự nhiên, thuyết phục người khác
Còn định lực
Giúp bạn vững tâm giữa biển đồng
Không sợ hãi, không dối loạn
Định lực là căn bản
Của trí tuệ, là nền
Của mọi sự sáng suốt
Người có định lực không dễ nội hào
Không lo âu, không rằn vặt
Đó là những thứ
Khiến người hiện đại khổ sở nhất
Ngày nay ai cũng nói
Ước gì được sống trong một môi trường
Không còn mệt mỏi, không còn tiêu hào
Tinh thần
Nhưng thật ra, chỉ cần chi Đại Bì Chú
Bạn đã tự tạo ra môi trường ấy
Trong tâm
Khi có định, bạn không còn nội hào
Đó là điều có thể khẳng định
Ngoài ra
Quán Thế Âm còn dạy rằng
Người chi Đại Bì Chú
Sẽ tránh được 15 loại cái chết giữ
Con người ai rồi
Cũng phải rời thế gian
Nhưng ai cũng mong ra đi an lành
Không đau đớn, không oán hận
Trong văn hóa A Đông
Thiện Trung là một trong ngũ phúc lớn nhất
Người tu hành còn mong
Khi lâm trung, được vãng sinh
Được an niên tự tại
Chính vì vậy
Đại Bì Chú không chỉ ra hộ cuộc sống
Mà còn truyền hóa
Các khoảnh khắc sau cùng của đời người
Còn 15 loại chết giữ ấy
Cụ thể là gì
Thứ nhất, người chi Đại Bì Chú
Sẽ không bao giờ triệt đói
Thứ hai, không bị hành hình
Đánh đập đến chết
Thứ ba, không bị oan ra
Kẻ thù hại chết
Thứ tư, dù ra chiến trường
Người niệm Đại Bì Chú sẽ không bị thường vong
Đạn dường như có mắt
Sẽ không bay về phía bàn
Thứ năm và thứ sáu
Ở nơi hoang dã
Bạn không bị thú giữ cán xé
Không bị rắn động, côn trùng làm hại
Thứ bảy
Nạn nước và nạn lửa đều tránh được
Bạn không chết vì lũ lụt hay hỏa hoàng
Thứ tám
Không bị trúng độc mà chết
Thứ chín
Không bị ỉm bùa tà thuật hại chết
Thứ mười
Không bị điên loạn phát cuồng mà chết
Thứ mười một trong kinh viết
Không vì nuôi cây vách đá mà rơi chết
Nói cách khác
Không chết vì rơi từ trên cao xuống
Với người thời này có thể hiểu là
Nếu bạn đi máy bay
Niệm Đại Bì Chú sẽ khiến hành trình bình an
Không sợ rời máy bay
Thứ mười hai
Nếu có kẻ ác muốn nguyền rùa
Dùng tà pháp hại bạn
Họ cũng không thể làm gì được
Thứ mười ba
Không bị quỷ thần giữ hoặc tà đạo hại chết
Thứ mười bốn
Là không bị bệnh hiểm nghèo
Bệnh khổ triền miên mà chết
Nhiều người đến cuối đời
Chiêu bệnh tật nặng nề, giật đau đớn
Chỉ Đại Bì Chú có thể tránh được điều ấy
Thứ mười lăm
Không tự sát
Nghĩa là không khởi tâm tuyệt vọng
Dù đối diện nghịch cảnh lớn đến đâu
Cũng không rơi vào con đường tự hủy
Tóm lại
Người Chi Đại Bì Chú sẽ tránh được
Mười lăm loại cái chết giữ
Và át sẽ được thiện chung ra đi an ổn
Nhẹ nhàng
Không chỉ vậy
Trong phần sau của kinh còn nói rằng
Người Chi Đại Bì Chú không chỉ tránh
Mười lăm điều giữ khi chết
Mà còn được mười lăm điều lành khi sống
Gọi là mười lăm thiện sinh
Những thiện sinh này
Là mười lăm phúc lợi trong đời sống hiện tại
Hoặc đời sau của người Chi Chú
Thứ nhất
Là gặp được minh quân
Hoặc nói theo ngôn ngữ ngày nay
Đó chính là gặp được chính quyền lãnh đạo tốt
Thứ hai
Là sinh vào quốc gia tốt đẹp
Không chỉ có chính trị ổn định
Mà còn bao gồm điều kiện tự nhiên
Xã hội, văn hóa, an lành
Nếu ai muốn tìm một nơi
Tốt hơn để sống
Hãy bắt đầu bằng việc Chi Đại Bì Chú
Thứ ba
Sinh vào thời đại Thái Bình Thịnh Vương
Tránh khỏi những thời loạn, chiến tranh
Đói kém, dịch bệnh
Thứ tư
Thường gặp thiện hiểu trí thức, bạn bè
Cộng sự tốt, không gặp kẻ phản bội
Hay bè bạn xấu
Thứ năm
Thân thể khỏe mạnh, lục căn đầy đủ
Không tật nguyền
Thứ sáu
Tâm tu hành thuần thục, dễ tiến đảo
Dễ giữ tránh niềm
Thứ bảy
Không rơi vào cảnh hạ tiện, ô nhục
Thứ tám
Giác quyến, bạn bè, đồng nghiệp hòa thuận
Không xung đột, không quán hận
Thứ chín
Tài lộc sung túc, cuộc sống đủ đầy
Thứ mười
Được người khác kính trọng, tôn quý
Thứ mười một
Tài sản không bị cướp đoạt
Dù có kẻ xấu bưu toan
Thứ mười hai
Mọi sở nguyện đều được viền mãn
Cầu gì được nấy trong khôn khổ thiện Pháp
Thứ mười ba
Được chư thiện thần, hộ Pháp
Long thiên thường xuyên bảo vệ
Thứ mười bốn
Dù ở đâu cũng thường gặp Phật Pháp
Được thấy Phật, nghe Pháp
Gặp người hướng thiện
Nhờ đó có cơ hội giải thoát
Thứ mười lăm
Là nghe Pháp sâu xa có thể hiểu
Và chứng ngộ
Không mê mờ, không lạc lối
Như vậy
Chi Đại Bi Chú mang lại mười lăm công đức khi sống
Và mười lăm sự an lành khi chết
Cả hai đều thực tiễn
Và quý giá đối với con người thời này
Ngoài những lợi ích nghe quen thuộc như
Tiêu tai, chữa bệnh, tăng phúc
Đại Bi Chú còn có nhiều năng lực
Thần diệu hiếm thấy
Ví dụ
Chú có thể hạng phục quỷ thần
Trong kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni
Có đoạn nói rằng
Nếu người chỉ Đại Bi Chú
Nhập thất nơi rừng đuối
Có quỷ thần muốn quây nhiễu
Thì chỉ cần niệm một biến chú
Hoặc niệm nhiều lần
Thì tất cả ta quỷ đều phải rút lui
Không dám xâm phạm
Thứ hai là hạng phục quỷ thần
Kinh có chép rằng
Quỷ thần đều bị giang buộc
Nói nộm na
Dùng chính Đại Bi Chú làm dây
Bạn có thể trói
Không chỉ người mà cả quỷ thần
Niệm một biến
Cũng đủ khiến các loài ấy bị buộc chặt
Không dám quây nhiễu
Thứ ba
Nếu vẫn lo nó thoát ra hại mình
Bạn có thể kết giới
Vạch một danh giới bảo hộ
Hình dung như trong Tây Du Ký
Tôn Ngộ Không lấy như ý Kim Cô Bồng
Vẽ một vòng tròn
Dặn Thầy Đường Tăng đừng bước ra ngoài
Bạch cốt tinh đến gần
Làm mặt đất bốc lửa
Không thể vào được
Trong Kinh đều rất nhiều cách kết giới
Bằng Đại Bi Chú
Có dụng cụ như rào, nước sạch
Mè trắng, trò hoặc dây ngũ sắc
Về Pháp
Thì niệm 21 biến Đại Bi Chú
Để ra trì vật ấy
Rồi vạch, giải
Đặt quanh danh giới cần bảo vệ
Như nhà, phòng
Thậm chí là cả khu trung cư
Về hiệu dụng của nó
Thì tà đạo, yêu mị
Không thể sập nhập
Người trong an tâm tu học, sinh hoạt
Nhưng Đại Bi Chú
Không chỉ dừng ở việc cứu mình
Mà còn mở ra những phương tiện lợi tha
Vô cùng nhiệm màu
Giúp chúng sinh xung quanh cùng được lợi lạc
Thứ nhất
Lợi sinh nơi thủy tộc
Kinh nói, người tri Đại Bi Chú
Tắm gội giữa sông hồ biển cả
Năng lực từ thân người ấy thấm vào nước
Khiến chúng sinh thủy tộc
Cá, tôm, rùa, v.v
Tiêu trừ trọng tội
Được vãng sinh tịnh độ
Không phải người trí chú được vãng sinh
Điều ấy dĩ nhiên có nhân hạnh riêng
Mà là các loài trong vùng nước ấy
Được gia trì
Nhờ oai lực của người trí chú
Thời này ít ai tắm sông hồ
Nhưng nước tắm ở nhà cũng vậy
Nước chảy qua thân người trí chú
Rồi xôi xuống công rãnh
Hiệu hình, vô hình
Chúng sinh nơi đó đều được tiêu nghiệp
Kết duyên tịnh độ
Chỉ cần bạn Sơn trí đại bi chú
Thì lúc tắm đã vô tình lợi sinh
Lại còn tích phúc lớn cho chính mình
Thứ hai
Là lợi sinh theo gió
Kinh còn nói điều càng nhiệm màu
Dù không đăng tụng
Chỉ cần là người có trí đại bi chú
Khi đi trên đường
Gió lướt qua thân rồi thổi đến kẻ khác
Thì ai chạm làn gió ấy
Đều tiêu nghiệp trướng
Không còn đọa vào ba đường ác
Lại thường được sinh nơi có Phật
Có Pháp
Nghĩ xem
Chỉ bước đi giữa phố
Gió chạm vào ra
Là đã lợi ích vô lượng
Đúng là đại bi
Từ một người mà lan đến muôn loài
Tất cả những điều này
Đều nhằm nói lên rằng
Đại bi chú không chỉ hộ thân
Chư nạn
Mà còn tỏa rộng lợi lạc đến hiệu tình vô lượng
Từ kết giới phòng thân
Đến thủy tộc
Phong luân đều được nhờ
Đến đoạn này
Chắc chắn nhiều người nghe sẽ thắc mắc
Và câu hỏi ấy hoàn toàn hợp lý
Kinh nói rằng
Nếu người trì đại bi chú
Mà không được tàm muội và biện tài
Thì quán thế âm Bồ Tát sẽ không thành Phật
Nhưng quán thế âm vốn dĩ
Vẫn được gọi là Bồ Tát
Vậy ngài chưa thành Phật chứ
Nếu chưa thành Phật
Sao lại có thể không thành Phật
Đến đây
Đức Thích Cà Mâu Ni
Mới tiết lộ bí mật lớn nhất
Về thần Phật thật của quán thế âm
Trong phần sau của kinh đại bi
Tâm Đà Là Ni
Phật nói rõ rằng
Thiện nam tử
Quán thế âm Bồ Tát
Có oai đức thần thông
Không thể nghĩ bàn
Trong vô lượng kiếp quá khứ
Ngài đã thành Phật
Hiệu là tịnh hảo tránh pháp
Nói cách khác
Quán thế âm Bồ Tát
Thực ra đã thành Phật từ vô lượng kiếp
Giành hiệu là tránh pháp minh như lại
Thế thì tại sao
Giờ ngài vẫn được gọi là Bồ Tát
Phật lại giảng tiếp
Vì đại bi nguyện sâu dày
Muốn đem ăn vui và giác ngộ
Cho tất cả Bồ Tát cùng chúng sinh
Nên ngài hiện lại thân Bồ Tát
Để cứu đổ
Nghĩa là hình tượng quán thế âm Bồ Tát
Mà chúng ta biết
Chỉ là một hóa thân
Một bắt nã từ bi
Do tránh pháp minh như Lai Thị hiện ra
Để dễ gần gũi
Và cứu đội chúng sinh nơi thế giới này
Vì vậy quán thế âm thực chất
Đã là Phật đã viền mãn
Chỉ vì lòng bi nguyện vô lượng
Nên ẩn thân là Bồ Tát
Cũng như vậy mà ta hiểu được rằng
Khi ngài thề rằng
Nếu người chi đại bi chú
Mà không được ta muội và biện tài
Ta nguyện không thành Phật
Thì nguyện ấy đã viền mãn
Bởi ngài đã thành Phật rồi
Điều đó có nghĩa là
Chỉ cần thanh tâm chi đại bi chú
Chắc chắn bạn sẽ đạt được
Định lực và biện tài
Cùng vô lượng công đức khác
Nêu rõ trong kinh đại bi tâm Đà-La-Ni
Bằng chính chứng nguyện
Của một vị Phật sống giữa lòng đại bi
Khi xem đến đây
Ta mới hiểu vì sao đại bi chú
Không chỉ là một bài kinh tủng
Mà là một cánh cửa
Nơi con người có thể chạm đến tâm đại bi của vũ trụ
Nơi quán thế âm
Vẫn lặng lẽ hóa thân để cứu độ muôn loài
Từ thùa tránh pháp
Minh như lai truyền lại
Bài chú ấy đã vượt qua không gian và thời gian
Trở thành ngọn lửa sáng
Trong mọi chùa triền
Trong mọi buổi sớm
Và trong từng nhịp tim của người cầu nguyện
Dù bạn là ai
Chỉ cần khởi một niệm thành tâm
Chỉ cần để một hơi thở chạm vào
Sáu âm linh thiêng ấy
Thì tâm bạn đã nối với tâm Phật
Bạn không còn đơn độc
Giữa đời sống đầy sự sợ hãi này
Vì năng lượng đại bi ấy
Đang trẻ trong từng tế bào
Từng hơi gió, từng giọt nước
Và có lẽ ý nghĩa sâu xa nhất
Của kinh đại bi tâm Đà-La-Ni
Chính là đây
Không phải ta cầu một phép màu bên ngoài
Mà là để đánh thức Phật tính sẵn có
Trong chính mình
Để mỗi lời ta nói, mỗi bước đi
Cũng trở thành ánh sáng tự bi
Nối dài từ quán thế âm dựa thế gian
Chúc bạn sớm tu thành chính quả
Bạn nghĩ thế nào về Đại Bi Chú?
Hãy để lại ý kiến của bạn bên dưới phần bình luận nhé
Và đừng quên ủng hộ kênh nhé
