SAI LẦM!!! 😱 Nguồn Gốc Tư Duy và Suy Nghĩ Của Bạn Không Phải Từ Đại Não?

Ms. Ruby ✓
5.5K Người theo dõi
Một tháng trước, nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng người Đức, Serbin Hasselfelder cho biết,
nghiên cứu mới nhất phát hiện, bộ não của chúng ta đúng là đã tận dụng hiệu ứng lượng tự.
Hóa ra, Roger Penrose đã đúng.
40 năm trước, ông đã sự đoán rằng các electrons trong đáy não chúng ta liên lạc với vũ trụ mọi lúc.
Đó chính là nguồn gốc thực sự của ý thức con người.
Linh cảm của chúng ta, những giấc mơ của chúng ta thực sự đến từ nơi sâu thẳm vũ trụ sao?
Nếu đúng như vậy, thì liệu nó có chỉ dưới hạn ở linh cảm và ước mơ thôi không?
Có nhiều thứ hơn như siêu giác quan và tìm ý thức tập thể, liệu cũng bắt nguồn từ sâu thẳm vũ trụ?
Hôm nay, chúng ta sẽ nói về câu chuyện đằng sau những điều này.
Tâm linh liên thông với vũ trụ
Xin chào các bạn, mình là Miss Ruby.
Thời gian quay trở về năm 1995, cựu tổng thống Jimmy Carter đến thăm đại học Emory, Hoa Kỳ.
Ông được biết đến với danh hiệu vị tổng thống từ nông trại đến nhà trắng.
Một vị tổng thống vô cùng thân thiện với người dân.
Chẳng bao lâu, cô trò chuyện cứ nói, cứ nói, rồi nói đến chủ đề mà các sinh viên đều rất hương thú.
Người ngoài hành tinh và UFO.
Rất nhiều tổng thống Mỹ đều được hỏi qua vấn đề này trước công chúng.
Trong đó, Clinton nói, chuyện này tôi đã từng hỏi nhà trắng,
nhưng tôi nghĩ chắc mình không phải tổng thống dân bầu duy nhất bị cấp dưới nói cho có lệ.
Obama thì nói, tôi từng hỏi rồi, nhưng tôi không thể nói cho bạn được.
Biden nói, vấn đề này tôi phải hỏi Obama.
Còn Trump thì khoa trương nhất, nói thẳng rằng chúng ta đã có một đội siêu lực lượng,
nhưng hy vọng chúng ta không bao giờ phải dùng đến những vũ khí đáng sợ đó.
Chỉ có thể nói là rất trăm, đây đâu thể được tính là một câu trả lời trực tiếp.
Tuy nhiên, tổng thống Carter thì lại khác.
Lúc đó, ông ấy đã kể cho sinh viên nghe một câu chuyện mà đích thân mình đã trải qua
liên quan đến chiến tranh lạnh Mỹ-Sô, phòng thí nghiệm bí mật của CIA
và cả tác chiến của lực lượng đặc nhiệm nước thứ ba…
Những chuyện này thật khó tin, các sinh viên ngồi nghe mà ai nấy quay sang nhìn nhau.
Đúng như dự đoán, những gì cựu tổng thống phát biểu sau đó đã bị dọn sạch sẽ.
Chỉ để lại lâu truyền như một truyền thuyết đổ thị.
Thế nhưng có thật đều là truyền thuyết đổ thị thôi không?
Năm 2016, một nhà văn lý học Tiến Sy Tak đã xuất hiện tại buổi ký tặng sách
của tổng thống Carter.
Tổng thống Carter và ông Tak nhìn nhau cười.
Tháng đó đã hơn 50 năm trôi qua rồi.
Cả hai đều đã ở tuổi xế chiều.
Tiến Sy Tak không từ bỏ việc điều tra câu chuyện năm đó.
Tổng thống Carter cũng không vô trách nhiệm mà trẻ giấu sự thật.
Bởi vì chính trong cuốn tự chuyện này, tổng thống Carter lúc đó đã 92 tuổi,
lại một lần nữa kể ra câu chuyện về nhà trắng đó.
Hóa ra, nó thực sự không phải là truyền thuyết.
Tháng 5 năm 1978, một máy bay ném bom của liên xô cũ Tu-22
khổng mai rơi xuống biển Trung Châu Phi.
Nơi này lúc đó được gọi là Dryer, giờ gọi là Congo.
Sáng hôm sau, Công tin báo CIA đã báo cáo vụ việc này lên tổng thống Carter.
CIA vốn không nói đó là Tu-22, chỉ nói với tổng thống rằng
trên chiếc máy bay đó chứa một số tài liệu mật quan trọng.
Hiện giờ chúng ta đang dùng vệ tinh và một số thiết bị trinh sát tầm cao khác
để tìm kiếm máy bay, nhưng chưa có kết quả gì.
Chúng ta phải nhanh chóng tìm được nó trước liên xô.
Và rồi trong sách, tổng thống Carter có viết thế này.
Ngày hôm đó, trong tình trạng cư do sự mãi không quyết,
một đọc vụ CIA ở California đã giới thiệu một người nữ có khả năng thiền lý nhãn.
Cô ta đã viết ra hệ toà độ. Sự thật đã chứng minh nó là chính xác.
Mấy ngày sau, tôi đã nhìn thấy những tấm ảnh máy bay.
Nó nằm tại một khu vực héo lánh và đã bị phá hủy hoàn toàn.
Khi không thông báo cho tổng thống CIA, chúng tôi đã phái một tiêu đội đến đó
và đã tìm thấy tài liệu cùng di thể hành khách trên máy bay.
Điều này có phải cứng điệu quá không? Vũ khí bí mật của quân đội Mỹ
lại là thiền lý nhãn, là quà cầu ma thuật của phù thủy.
Thế nhưng tổng thống Carter nói thế này. Nhìn lại nhà vật lý học có tên Tagg kia,
thực ra ông ấy chính là chỉ huy bí mật chương trình nghiên cứu về khả năng thấu thị.
Tổng thống lấy ra vài bức phát thảo và nói với truyền thông,
đây chính là thứ mà người phụ nữ thiền lý nhãn năm xưa vẽ.
Thật sự rất giống với thực tế. Và khi hỏi tiếp, thưa ông Tagg,
tại sao ông lại lựa chọn đứng ra kể lại những chuyện này?
Hóa ra, xét cả công lẫn tư thì đằng sau câu chuyện,
ông Tagg đều có một nút thắt cần phải tháo gỡ.
Thời gian quay trở về 5 năm trước, năm 2019, ông Tagg lúc đó 85 tuổi
và ông biết rằng thời gian của mình không còn nhiều nữa.
Ông phải tháo gỡ nút thắt trong lòng mình.
Ông tìm một ký giả và rồi đưa anh ta đến nghĩa trang ở Bắc Hollywood.
Ông Tagg cuối đầu đếm từng cái một, số 700, chính là ở đây, Patrice.
Không có bất cứ ký hiệu gì, đây không phải sự đái ngộ mà ông nên có.
Có lẽ đây là lần cuối, tôi đến thăm ông rồi.
Một tiếng xét từ trên trời đổ xuống.
Ông Tagg nói với ký giả, người được trồn cất dưới đây, ông Pat,
là một anh hùng vô danh.
Ông ấy từng nói một câu như thế này,
bạn càng muốn giấu điều gì thì nó sẽ càng tỏa sáng
như ngọn hải đăng trong không gian tâm hồn của bạn.
Chẳng có thứ gì có thể thực sự che giấu được.
Tôi không còn sống được bao lâu nữa,
nhưng tôi sẽ dành phần đời còn lại để chứng minh cho Pat.
Patrice mất năm 1975, không có khám nghiệm tử thi, không có thông báo.
Khi người nhà và ông Tagg đến nơi,
thì họ chỉ nhận được một hộp trò cốt.
Năm đó, ông Pat mới chỉ 57 tuổi.
Mặc dù mắc bệnh tim, nhưng sau khi qua đời tại khách sạn,
về lý mà nói thì không nên bị hỏa táng sớm như vậy chứ.
Huống hồ, lúc đó ông ấy còn là một nhân viên tinh báo,
đang làm việc trực tiếp cho CIA.
Ông Tagg nói, chỉ ông ấy đã giới thiệu Pat vào Cục Tinh báo
và chỉ sau 4 tháng làm việc, thì ông ấy đã qua đời.
Khi còn sống, ông Pat thường là một cảnh sát hình sự xuất sắc,
nhiều lần phá được những vụ án kỳ lạ.
Trong đó nổi tiếng nhất là vụ án năm 1974.
Lúc đó Patty Hearst, trau gái của gia tộc Hearst,
chùm ngành xuất bản của Mỹ bị bắt cóc.
Sau đó một tổ chức cực đoàn đã nhận trách nhiệm vụ bắt cóc này.
Thái độ của nhóm này rất bành trướng,
về cơ bản là không hợp tác với cảnh sát.
Còn phía bên kia, xanh tính ngạn nhân rất nhạy cảm.
Giới truyền thông điên cuồng cây áp lực cho phía cảnh sát.
Lúc đó cách tốt nhất là tìm ra nơi ẩn náu của đám bắt cóc cô cháu
và rồi đột kích điểm ẩn náu, giải cứu cháu gái.
Tuy nhiên, tìm ra được nơi ẩn náu đâu có dễ như thế.
Nhưng đúng lúc này, Pat, người vốn đã nghỉ hưu rồi lại quay trở lại đội cảnh sát.
Ông yêu cầu danh sách nghi phạm của nội bộ cảnh sát
và rồi bắt đầu lật từng trang, từng trang một để tìm.
Đột nhiên, Pat chỉ tay vào một người có tên Donald.
Đây chính là chủ miều.
Ngoài ra, tôi còn nhìn thấy hai bình xăng lớn màu trắng nằm đối diện đường cao tốc.
Cháu gái đang bị giam giữ tại một khu dân cư gần đó.
Một cảnh sát trẻ có mặt tại hiện trường liên nói, tôi biết, tôi biết chỗ này.
Nhưng nhìn những người khác thì ai nấy lặng thình, thậm chí còn có chút ngán ngẩm.
Trong đầu nghĩ, ông Pat này lúc nào cũng vậy.
Cứ khi mọi người đang căng thẳng thì lại làm ra vẻ một bà bói già.
Mặc dù trực giác của ông cũng từng giúp cảnh sát phá án.
Thế nhưng cũng có lúc không linh nghiệm mà.
Sự việc lần này vô cùng hệ trọng.
Vô số truyền thông đang chằm chằm theo dõi.
Ồ, ý của ông là để chúng tôi xông ra ngoài nói với truyền thông rằng.
Đi theo chúng tôi, thầy mò của chúng tôi đã phát hiện ra điểm ấn áu rồi.
Hãy cùng chúng tôi đột kích, là như vậy hả.
Điều này có thực tế không?
Rất nhanh, cả đội im lặng tập thể.
Mảnh mới này của Pat gọi như bị lựa chọn bỏ qua.
Và sau này, sự thật chứng minh, Pat đã đúng.
Chủ miều đúng là tên Donald đó.
Nơi giam cháu gái, đúng là trong một căn nhà gỗ gần chỗ chứa dầu.
Lúc đó, tiến sĩ Tuck cũng có mặt tại đó.
Ông ấy đang làm việc tại Viện Nghiên cứu Stanford thuộc CIA.
Có mặt cùng ông ấy lúc đó, còn có một nhà vật lý khác, tiến sĩ Harpatov.
Hai người họ lúc đó đang dẫn đầu một nghiên cứu siêu giác quan.
Và Pat chính là người có siêu giác quan.
Một đối tượng nghiên cứu của hai người họ.
Cụ thể thì bối cảnh nghiên cứu của họ là như thế này.
Có lẽ mọi người đã từng nghe nói về truyền thiết đồ thị Kính Kholziev, bắt nguồn từ Nga.
Từ xưa đến nay, có rất nhiều khoa học già nghiên cứu các ngành khoa học bên lề
như thời không, tâm linh và chiều không gian khác.
Trong đó, Kính Kholziev ra đời những năm 1960 là dẫn đầu trong số đó.
Nikolai Kholziev, được mệnh danh là thiên tài bị lắng quên.
Năm 20 tuổi, ông tốt nghiệp đại học.
Năm 23 tuổi, làm việc tại Đài Thiên văn Phukovo.
Được công nhận là một trong những nhà vật lý thiên văn trển vọng nhất Nga.
Nhưng đến năm 28 tuổi thì ông bị bắt vào tù.
Và vì cách biệt với thế giới bên ngoài, không biết là thế giới đã phát hiện ra năng lượng hạt nhân.
Kholziev thậm chí còn tự mình sáng lập một bộ lý thuyết liên quan đến lý do tại sao mặt trời vẫn luôn bốc cháy.
Đây chính là nguồn gốc cơ bản của truyền thuyết đồ thị rằng bề mặt của mặt trời là 28 độ.
Tàu thăm gió Parker Solar đã bay được 6 năm.
Đến năm sau, 2025, sự kiến sẽ đáp đến mặt trăng.
Lúc đó chúng ta sẽ có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về truyền thuyết đồ thị này.
Sau đó, Kholziev còn tiên tri về hiện tượng thuần biến mặt trăng, bầu khí quyển sao kim,
và tất cả đều đã được chứng thực từng cái một.
Nhưng đến những năm 1960, khi Kholziev ở độ tuổi 50,
những điều mà ông tiên đoán thì những người bình thường như chúng ta đã không tiếp thù được nữa rồi.
Ông bắt đầu nghiên cứu cơ học nhân quả và lý thuyết thời gian.
Lý luận của ông hoàn toàn khác hẳn với quan điểm của anh Sanh về thời không,
tức không gian và thời gian.
Do đó, trong khuôn cổ lý thuyết của ông, liền sinh ra lý thuyết trường não nổi tiếng
và công nghệ gương Kholziev kiểm soát trường não, đảo ngược thời không.
Về gương Kholziev, cô máy thời gian, chúng ta đã nói cụ thể trong video
Gương thời gian Kholziev. Bạn nào quan tâm, có thể tìm hiểu thêm nha.
Nói tóm lại, kỹ thuật đen của Nga đã có từ xa xưa.
Theo điều tra của CIA Hoa Kỳ, khởi điểm nghiên cứu của Nga được cho là sự kiện Kazajski năm 1919.
Lúc đó thế chiến I vừa mới kết thúc.
Mọi người muốn quên đi quá khứ, quên đi đau khổ,
thậm chí ngay cả đến quan tâm hiện tại cũng hơi có chút lỗi thời rồi.
Tựa ngừng với đó là sự khởi đầu của khoa học viễn tưởng
và sự quan tâm cao độ của mọi người đối với các hiện tượng tâm linh.
Điểm này đặc biệt nghiêm trọng ở những người châu Âu và Nga chịu ảnh hưởng nặng của chiến tranh.
Lúc đó tại châu Âu thiện hành một cách nói gọi là phát thanh tâm linh.
Nói rằng sức mạnh tinh thần của một người sẽ phân tán khắp công gian vũ trụ,
giống như một chương trình phát sóng vậy.
Và những người thân tương thích hoặc người có siêu giác quan có thể bắt được loại phát sóng tâm linh này,
đồng thời cảm nhận được thông điệp mà đầu bên kia của chương trình phát sóng muốn chuyển tải.
Tiếp đó, đến năm 1919, có một chú Hề người Nga.
Một ngày nọ anh ta đột nhiên thấy bồn trồn bất an.
Nghe thấy âm thanh tiếng thịa rơi xuống đất rất rõ.
Mà xung quanh anh ta không có một chiếc thịa nào cả.
Trường giác anh mách bảo người bản thân của mình đã gặp nạn rồi.
Quả nhiên mấy tuần sau đó tin người bạn qua đời truyền đến.
Thời gian mất chính là thời khắc mà anh ta nghe thấy tiếng thịa rơi xuống đất.
Chú Hề đau đớn vô cùng.
Nhưng trong đời sống hiện thực thì anh ta phải kiếm sống bằng cách chọc cho mọi người cười.
Anh ta đã giản dựng câu chuyện bi thảm thành một vỡ hài kịch.
Trên sân khấu chọc cười mua vùi cho từng lớp, từng lớp quý tộc, nhà thơ, học giả vừa bước ra từ trong chiến tranh.
Thế nhưng những ai từng xem vỡ kịch này thì lại đều phát hiện.
Đang cười, đang cười, liền khóc lúc nào không biết.
Nhà nào không có người thần qua đời trong chiến tranh.
Ai mà không từng có kiểu điểm báo tâm linh sợ hãi bồn trồn như thế.
Và thế là các nhà khoa học bắt đầu xem xét một cách nghiêm túc những bí ẩn trong đó.
Đặc biệt là nhà khoa học Nga Kazayski.
Ông ấy đã định nghĩa loại nhận biết tâm linh này là siêu cảm quan hay ngoại cảm.
Còn người dân Mỹ bên kia đại dương.
Trước chiến tranh, nhìn thấy phương hướng nghiên cứu của người Nga, ai nấy đều cười.
Sao giờ các người lại hành động như những tên lừa biệp thánh thần vậy?
Chúng ta vẫn cứ nghiên cứu chút cơ học lượng tử, thuyết tương đối, còn thực tế hơn.
Thế nhưng, khi thế chiến 2 kết thúc và chiến tranh lạnh bùng nổ vào năm 1962,
Mỹ đột nhiên bị đánh thức bởi một cuốn sưu tập luận văn của Nga gói tên
Thí nghiệm khoảng cách xa.
Trong đây lại toàn là các loại nghiên cứu siêu giác quan mà người Nga thực hiện.
Trong đó thậm chí còn nhắc đến một loại thời không bỏ qua.
Một loại siêu năng lực của con người dùng siêu giác quan là có thể trực tiếp
nhìn thấy các loại cảnh tượng, quá khứ, tương lai và hiện tại.
Được gọi là giáo thị.
Vào thời điểm đó, sự cánh tranh của Mỹ-Sô đã từ đại dương, đất liền,
mở rộng đến lĩnh vực không gian vũ trụ.
Và giờ thì hay rồi.
Người Mỹ đột nhiên phát hiện trong lĩnh vực tâm linh ở duy độ cao hơn nữa,
thì người Nga cũng đi trước họ cả mấy chục năm.
Như này thì còn gì nữa, bắt buộc phải bắt kịp.
Và vừa hay lúc này tại Đại học Stanford lại xảy ra một chuyện như thế này.
Tark và Haar được gọi là cặp đôi hoàn hảo của Stanford.
Cả hai đều là chuyên gia uy tín nghiên cứu lĩnh vực laser.
Tark thì giỏi về thí nghiệm, còn Haar thì trú trọng vào lý thuyết.
Nhưng đồng thời, hai anh em này lại đều có chung một sở thích,
đó là âm thầm máy mò chút nghiên cứu siêu giác quan bên phía châu Âu kia.
Ví dụ lúc đó vì tham gia dự án của Hải quân,
mà Haar có thể tự do ra vào một phòng thí nghiệm từ trường cấp quốc gia.
Trong phòng thí nghiệm này có một phòng chắn,
giống như căn phòng siêu tính âm có thể cách ly mọi sóng âm bên ngoài vậy.
Căn phòng chắn này không chỉ có thể cách ngăn sóng âm,
còn có thể ngăn cách tất cả sóng điện tử.
Haar bệnh nghĩ, thị giác dựa vào sóng ánh sáng,
thính giác dựa vào sóng âm thanh,
xúc giác, khưu giác và vị giác dựa vào tín hiệu điện.
Vậy thì ngoài 5 loại giác quan này là siêu giác quan,
liệu có phải nhờ vào điện trường, từ trường hoặc một loại sóng điện tử nào đó không nhỉ?
Vì vậy, ngày hôm đó Haar đã âm thầm đưa một người
có khả năng siêu giác quan lẹn vào phòng thí nghiệm,
muốn để cho người này thử xem trong phòng chắn này
liệu có còn chi giác của siêu giác quan hay không.
Kết quả không ngờ là người sở hữu siêu giác quan này
vừa nghe kế hoạch thí nghiệm của Haar liền bật cười.
Anh ta nói, anh có tin là tôi có thể làm cho con trò tử tính của anh
chạy loạn lên giống như điều chỉnh đồng hồ không?
Họ nghĩ, sao có thể được?
Căn phòng chắn này nằm sâu 9m dưới lòng đất,
chặn tất cả điện trường, từ trường, từ bên ngoài.
Dù cho anh có là gì thì tôi cũng không tin
anh có thể khiến lực tử của mình xuyên thâu áo giáp dài 9m của quân đội Mỹ.
Và rồi thí nghiệm đã bắt đầu, Haar đã kinh ngạc đến đưa người.
Trên cận sóng đếm, đúng là đã dừng lại một lúc,
con trò đúng là đã di chuyển.
Trời ạ, điều này đã vượt qua kiến thức vật lý đã biết của tôi.
Và người có siêu dắc quan mà Haar đưa đến đây, không ai khác,
chính là thần nhìn xa mà mọi người đã rất quen thuộc, Ingo Swann.
Nhưng tiếp ngay sau đó, chuông báo động trong phòng thí nghiệm vàng lên.
Haar bị bắt quả tàng tại trận.
Không còn nghi ngờ gì, cả Stanford và quân đội Mỹ
đều muốn đưa kẻ đột phá phi pháp này ra trước công lý.
Nhưng đồng thời, nhờ sự giải cứu và chạy vải của Tuck,
CIA đã can thiệp vụ án.
Họ đã mang cả 3 người, Tuck, Haar và Swann đi.
Và còn cử thêm một thiến sĩ tâm lý học tên Green đến,
để anh ta giám sát quá trình nghiên cứu của Haar và Tuck.
Kể từ đó, một tổ chức bí mật mang tên Viện Nghiên cứu Quốc tế Stanford
đã chính thức mở cửa.
Họ bắt đầu giúp CIA chiêu mộ những người có siêu dắc quan trên toàn nước Mỹ,
đồng thời nghiên cứu sâu thêm về những bí ẩn vật lý trên cơ thể họ.
Không lâu sau, Swann đưa một người bạn đến và nói là người này cũng có siêu dắc quan.
Và người bạn này chính là viên cảnh sát đang nghỉ hưu bí ẩn, Pat Bryce.
Ngày hôm đó, hai người Haar và Tuck đặc biệt thiết kế cho Swann một thí nghiệm.
Nhưng không ngờ rằng cuộc thí nghiệm này lại trở thành màn trình diễn của người qua đường, Pat.
Thí nghiệm mã số Scannet, trong đó scan nghĩa là web, net, tọa độ.
Thí nghiệm bắt đầu, hai người Haar và Tuck sắp xếp nhiều đối tượng thí nghiệm tham gia
và mỗi người sẽ vào một căn phòng bí mật.
Sau đó, sẽ do người giám sát thí nghiệm là tiến sĩ Green chọn ngẫu nhiên một tọa độ từ sổ địa chỉ.
Sau đó tọa độ sẽ được chia cho các đối tượng thí nghiệm trong mỗi buồng bí mật.
Sau này, tiến sĩ Green nói, hoàn hảo, quá hoàn hảo.
Sau khi tự mình kiểm tra xong thí nghiệm thì đánh giá rất cao sự chặt chẽ của hai người Haar và Tuck.
Đây là kiểu thí nghiệm mù đôi rất khoa học.
Người đưa ra tọa độ, không biết tọa độ là gì, thì người tham gia thí nghiệm đương nhiên là không biết rồi.
Về mặt lý thuyết mà nói, họ chỉ có thể dựa vào khả năng siêu giác quan của chính mình để giáo thị tọa độ,
rồi sau đó dùng ngôn ngữ và bản phác thảo miêu tả tình hình của tọa độ.
Tiếp theo đó, Tuck đã đưa cho chúng tôi xem hai bức tranh như thế này.
Chúng lần lượt là tọa độ mà Swan và Pat vẽ ra.
Nhưng Green sau đó nói, khi mình nhìn thấy hai bức ảnh này, thực sự đã rất thất vọng.
Đây là đầu với đầu vậy chứ.
Cho dù là gọi điện thoại hay nhờ bạn đi kiểm tra, thì trên tọa độ đều là những căn nhà gỗ rất đơn sơ.
Còn các anh thì giỏi thật. Vẽ ra là căn nhà gỗ đây sao?
Xem ra, gì mà giáo thị thần thông, siêu giác quan, gì đó đều là xàm xí.
Bao gồm cả hai người Harv và Tuck, khi họ so sánh giữa thực tế và bản phác thảo,
ai nấy đều chầm tư, tại sao lại như vậy được chứ?
Mà cả Swan và Pat đều miêu tả, họ nhìn thấy một cơ sở trông giống như một căn cứ quân sự.
Swan nói có radar, có nhân viên ra vào.
Mà Pat cũng nói có cửa quân rất lớn, lên đến nỗi đủ cho một chiếc xe jeep lái thẳng vào.
Dưới lòng đất có bốn tầng, có hành lang dài, khóa mặt khẩu,
còn có các loại số hiệu hồ sơ, thư mục dự án, v.v.v.
Tuck không tin đây là mô tả mà Swan và Pat thông đồng từ trước.
Ông quyết định đích thần lái xe, đến xem sao.
Nhưng khi đến tọa độ, ông vô cùng thất vọng, ở đây đúng là một căn nhà gỗ.
Nhưng mà sau căn nhà gỗ đó, ông lại phát hiện ra một con đường đất đi lên núi.
Men theo con đường đất này tiếp tục lên núi.
Chẳng bao lâu sau, đập vào tầm mắt thì đúng là một cánh cửa cuộn lớn
và lính canh của quân đội Mỹ chặn ông ấy lại.
Trong lòng Tuck thắt lại, không biết là vui mừng hay lo lắng nữa.
Sau khi quay về, Tuck đang ngay lập tức báo cáo cho phía quân đội,
đồng thời tìm cách chứng thực thêm, yêu cầu họ xác minh
liệu ở đó họ có một căn cứ quân sự như thế này hay không.
Phía trong cùng tầng thứ tư dưới lòng đất, liệu có một phòng nghiên cứu phát triển
có tên OST hay không?
Có phải trong đó có rất nhiều hồ sơ?
Số hiệu hồ sơ có phải kiểu tên các loại bóng PA như bóng nhỏ,
bóng số 14, bóng số 8, bóng số 4?
Còn nữa, trên bức tường phía bắc dưới tầng hầm của các anh,
có phải ghi biểu ngữ chiến dịch cậy PA hay không?
Đây đều là những chi tiết trong miêu tả xào thị của Pat.
Tiếp theo, Green, Harv và Tuck đều kể lại rằng chỉ hơn 30 tiếng sau,
toàn bộ viện nghiên cứu Stanford đã bị quân Mỹ bao vây.
Nhìn tình thế đó tưởng chừng như không ai trong chúng tôi có thể sống sót, thoát ra ngoài được.
Những tòa độ đó là gì?
Hóa ra đây là căn cứ bí mật cấp cao nhất của Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ,
là trận địa đi đầu trong cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Sô.
Các anh giỏi còn gọi thẳng ra số hiệu hồ sơ,
thậm chí ngay cả đến biệt hiệu chiến dịch cũng đều biết hết.
Cho nên, những thứ bên trong hồ sơ, anh biết không?
Việc triển khai an ninh quốc gia, anh biết không?
Nói tóm lại, anh có phải sán điệp liền sô không?
Tha khởi nhầm 1.000 còn hơn bỏ sót 1.
Trong vòng thí nghiệm này của các anh, một tờ giấy cũng không được sót lại.
May có người trong CIA đến bảo lãnh kịp thời,
mấy người bọn họ cuối cùng mới thoát khỏi kiếp nạn này.
Tuy nhiên, loại giải thích như phép thuật thế này,
anh nghĩ rằng người của Cơ quan An ninh Quốc gia có thể tin được không?
Tuck nghi ngờ chính sau vụ này, thù phạm chính Pat bắt đầu bị quân đội Mỹ
bí mật theo dõi.
Loại siêu năng lực này quá nguy hiểm.
Đây cũng rất có thể đã gieo mầm cho cái chết của Pat.
Tất nhiên, với tư cách nhà tài trợ, CIA sau khi nhận được kết quả giao thị này
cũng vừa bất ngờ, vừa vui mừng.
Họ quyết định thử khả năng của Pat một lần nữa.
Năm 1974, CIA yêu cầu ông Pat giao thị một căn cứ quân sự của Liên Xô
mà họ cũng không chắc chắn.
Nơi này cách Moscow không xa và rất bí ẩn.
Có cảm giác như đang sản xuất một số loại vũ khí khác thường nào đó.
Pat kể lại rằng, hôm đó Pat cố ý đeo kính.
Một nhân viên CIA còn trêu chọc, giao thị mà cũng cần kính sao.
Pat cũng rất hài hước nói, tôi già rồi, như này nhìn rõ hơn một chút.
Trên thực tế, năm xưa Pat và những người khác từng tiến hành nghiên cứu trị tiết.
Kết quả việc giao thị vốn không phải xuất hiện ở trước mắt,
mà giống như một loại tin tức rót thẳng vào nã bộ.
Sau đó, Pat trong khi giao thị nói,
tôi nhìn thấy một chiếc cần trục dàn khổng lồ, rất lớn.
Còn có người từ trong đó đi ra nữa.
Đại khái là như thế này.
Vừa nói, ông ấy đã vẽ ra hình dáng của chiếc cần trục khổng lồ này.
Pat tiếp tục tìm hiểu sâu hơn.
Ông ấy lại nói, ở dưới lòng đất, ông nhìn thấy một quả cầu khổng lồ.
Một quả bóng thép vẫn chưa hoàn thiện.
Đường kính ít nhất 60 feet, 18 mét.
Đại khái như thế này.
Khổng lồ sau, camera do thám tầm cao của Hoa Kỳ đã chụp được cần cầu khổng lồ.
So sánh với hình ảnh giao thị của Pat,
chỉ có thể nói là khiến cho người ta ấn lạnh sống lưng.
Hơn nữa, dựa trên tỷ lệ người với bánh xe trong ảnh chụp lén ước tính được,
chiếc cầu trục dàn khổng lồ này đúng là to đến đáng sợ.
Tuy nhiên, quả cầu mà Pat giao thị được ở đâu,
cho đến tận 3 năm sau, năm 1977,
gián điệp Mỹ mới truyền về mấy bức ảnh này,
gần như y hệt dữ liệu mà Pat giao thị được.
Nó sau đó đã được xác nhận là không vũ khí trùng hạt,
mà liên số bí mật nghiên cứu phát triển.
Loại vũ khí này dùng để bắn hạ các vệ tinh ro thám của quân đội Hoa Kỳ.
Nhưng mà lúc này thì ông Pat đã qua đời 2 năm rồi.
Nếu là như thế này, thì có phải thứ mà người có khả năng giao thị nhìn thấy,
không phải ở trường không gian này, mà là ở không gian khác.
Câu chuyện kể đến đây,
ông Pat khi về già đã đưa ra rất nhiều ảnh giao thị của họ năm xưa.
Có những công viên và tòa nhà gần như y hệt nhau.
Có những tòa nhà hình tròn với tầm nhìn từ trên xuống rồi từ mặt bên.
Có hành lang mà phương hướng của nó hoàn toàn chính xác.
Còn có nhiều khu vui chơi dành cho trẻ em,
với những chi tiết được đánh dấu rất rõ ràng.
Ông Pat nói, bản thân ông hối hận nhất là sau sự kiện cần trục khổng lồ đó,
đã đồng ý để Pat rời khỏi viện nghiên cứu Stanford và chính thức gia nhập CIA.
Từ sau khi sang đó, rất nhiều công việc của Pat thì ông ấy không nắm rõ nữa.
Mặc dù do đạo luật tự do thông tin,
hiện nay CIA đã giải mật hơn 70.000 trang hồ sơ giao thị.
Thế nhưng, người tính mắt nhìn là sẽ biết ngay.
Rất nhiều trong đó là những đoạn mã rất dài.
Họ vẫn che dấu rất nhiều sự việc.
Từ những tài liệu được giải mật này,
có người đã tổng kết ra một cách nói về 3 chàng lính ngựa lầm Stanford,
cũng tức là 3 người sở hữu siêu giác quan mạnh nhất
mà đội nhóm HARTAC đã bổi dưỡng ra từ viện nghiên cứu Stanford.
Lần lượt là Ingo Swann, người giao thị mặt trăng.
Joseph McManigault, gián điệp tâm linh đã thực hiện hàng trăm nhiệm vụ,
từng giành được khuân trương đặc biệt của quân đội Hoa Kỳ.
Rất nhiều người cho rằng đây là người có siêu giác quan mạnh nhất trong lịch sử Mỹ.
Nhưng mà ông HARTAC lại cho rằng mạnh nhất vẫn là Pat Price.
Đáng tiếc thay, ông ấy chết một cách không rõ ràng.
Một mình đi công tác đến Alaska, rồi lại một mình chết trong khách sạn.
Pháp Y nói là bệnh tim của ông tái phát.
Nhưng hồ sơ bảo hiểm lại cho thấy,
cồng lâu trước chuyến công tác, ông Pat vừa mới mua một hợp đồng bảo hiểm lớn.
Người hưởng chính là vợ mình.
Cứ giống như ông ấy đã sự cảm được cái chết của chính mình vậy.
Đối với cái chết của Pat thì ông HARTAC không suy đoán quá nhiều.
Và có thể ông ấy vẫn đang điều tra.
Nhưng về phía truyền thuyết đồ thị,
cái chết của ông Pat được cho là có liên quan đến vụ sát hại điệp viền của Liên Xô,
liên quan đến điều tra chiếu không gian khác tại tam giác Alaska,
còn liên quan đến 4 căn cứ người ngoài hành tinh quan trọng,
và cả cuộc chiến tâm linh giữa Mỹ và Liên Xô, v.v.v.
Nói tóm lại, đây là nghiên cứu về siêu giác quan diễn ra tại Mỹ 50 năm trước.
Ngoài những tiết lộ của ông HARTAC,
còn có bằng chứng gián tiếp từ hai vị tiến sĩ Hart và Green.
Còn cả hơn 70.000 trang hồ sơ CIA được giải mật.
Mặc dù quá lý kỳ, nhưng đây chắc chắn là câu chuyện từng xảy ra thật.
Cho nên, vấn đề tiếp theo chính là siêu giác quan của con người rốt cuộc là đến từ đâu?
Nguyên lý vật lý đằng sau nó rốt cuộc là gì?
Đừng quên rằng, HARTAC, họ vốn là tiến sĩ vật lý của Stanford.
Họ còn có những nghiên cứu về sau đó nữa.
Còn về thứ được cho là nguyên lý của nó,
chúng ta hãy trở lại câu chuyện lúc mở đầu về nhân vật thần kỳ Roger Penrose đó.
Trở về những năm 1910, toàn châu Âu đau đớn tột cùng đó.
Thời gian trở về năm 1916, khi chiến tranh ở châu Âu đang hoành hành.
Tại một trường công quý tộc ở Anh, một công tử quý tộc đã từ chối thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Anh ấy xuất thân từ gia đình Penrose.
Anh ấy nói với chủ yếu rằng, tôi sẽ không bao giờ cầm súng.
Điều này liên quan đến tín ngưỡng của tôi.
Nếu anh nghi ngờ tôi, vậy hãy để tôi làm y sĩ và đi sâu vào những chiến thảo tiền tuyến cốc liệt nhất.
Tiếp theo đó, sau 2 năm rưỡi thực hiện nghĩa vụ quân sự,
công tử nhà Penrose trở lại đại học Cambridge.
Ông đã lựa chọn truyền ngành tâm lý học bởi vì ông đã nhìn thấy tiện ngục thực sự trên trái đất
không phải là máu me trên chiến trường, mà là những tổn thương tâm lý khủng khiếp sau chiến tranh.
Ông muốn giải đáp ý ẩn về thế giới tâm lý con người và muốn giúp họ thoát khỏi khổ đau.
Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học công nghệ lúc bấy giờ,
ông đã vô tình trở thành một trong những người sáng lập ra di chuyển học đương thời.
Tưởng trường như đã xa vời với tâm nguyện của mình, nhưng sau đó sự thật lại chứng minh
ông đã sinh ra được một cậu con trai còn có tài năng thiên bẩm hơn mình nữa, Roger Penrose.
Không biết mọi người còn nhớ chiếc cầu thang có đi thế nào cũng không hết trong Inception,
kẻ đánh cắp giấc mơ.
Có phải giấc mơ mộng, kể cả toàn bộ cảnh tượng của Inception nữa,
có phải mang đến một loại cảm giác kỳ ảo đến từ nơi sâu thẳm vũ trụ.
Thực ra, những bực thang vô tận, không gian đánh cắp giấc mơ, lật chuyển trời đất,
về mặt khoa học thì đều được gọi là không gian Penrose.
Chuyện kể rằng vào năm 1958, Penrose nhỏ về nhà khi được nghỉ học,
nhìn thấy cha mình đang vẽ một mô hình tâm lý rất chiều tượng.
Penrose nhỏ đột nhiên nảy ra một ý tưởng.
Cậu nói với cha rằng, liệu trong hình học có tồn tại một loại nghịch lý nào hay không?
Từ điểm bắt đầu đến điểm kết thúc, cầu thang không bao giờ kết thúc,
hình tâm giác tuần hoàn lặp lại.
Đây là điều có tồn tại đó là, dùng mặt phẳng 2 chiều chúng ta có thể mô phỏng lại,
nhưng dùng tọa độ 3 chiều thì chúng ta lại không thể thực hiện được.
Tuy nhiên, khi chúng ta mở rộng tọa độ thành 4 chiều,
hóa ra trong thế giới 4 chiều hay thế giới thời không thực,
thì lại đúng toàn là không gian nghịch lý, tuần hoàn, lặp lại này.
Đoạn trình bày và phân tích này rất đặc sắc, có lẽ do tôi tóm tác chưa đủ tốt.
Nhưng chính đoạn trình bày phân tích một số hình tăm tác và bậc thang như này
sau khi được công bố giới khoa học đã đặt nó theo tên của Penrose.
Và đều tin rằng 2 cha con nhà Penrose vô tình đã bắt gặp sự thật về thế giới 4 chiều.
Về sau đó nữa, vào những năm 1980, ông Penrose Conn đã xuất bảm một cuốn sách thần kỳ có tên
Tâm chim mới của Hoàng đế.
Thật sự quá thần kỳ.
Từ 40 năm trước đã tiền trì nào là lỗ đen, tuần hoàn vô hạn vũ trụ,
electron trong não và electron sâu thẳm trong vũ trụ, lượng tử vướng mắt, v.v.v.
Những thứ khiến cho người xem tề dại cả da đầu.
Vào thời 40 năm trước thì đây rõ là một cuốn tiểu thuyết hoào viễn tưởng.
Còn 40 năm sau thì sao?
Năm 2020, Penrose đã đoạt giải Nobel vật lý vì dự đoán chính xác lỗ đen.
Và đây mới chỉ là tầng dự đoán đầu tiên của ông ấy.
Sau lỗ đen, tầng dự đoán thứ hai là tuần hoàn vô hạn vũ trụ.
Lỗ đen và vụ nổ lớn tuần hoàn lập đi lập lại.
Vũ trụ sinh sinh bất tức, trưởng tồn mãi mãi.
Có phải nghe rất khó hiểu đúng không?
Vậy mà học thuyết này, cùng với sự khám phá của chúng ta về lỗ đen và sóng hấp dẫn,
thì nó hiện đang dần trở thành giả thuyết chủ lưu về mô hình vũ trụ,
được gọi là vũ trụ học tuần hoàn thích hợp hay vũ trụ học luân hồi.
Nói một cách đơn giản, mô hình vũ trụ tuần hoàn lập đi lập lại
cực giống với lục đạo luân hồi và tam thiên đại thiên thế giới mà Đức Phật giảng.
Chúng ta chẳng qua chỉ là một lần trải nghiệm, một kiếp trong một vòng tuần hoàn mà thôi.
Ý thức là gì? Ý thức không phải là đại não.
Đại não chỉ là một thiết bị tiếp nhận ý thức trong thân xác mà thôi.
Còn sự thật về ý thức, nó chính là bản thân vũ trụ.
Do đó, tầng dự đoán thứ ba của Penrose đã ra đời.
Trong đại não của chúng ta có một cơ quan gọi là vi ống.
Vi ống là cấu trúc không cơ bản nhất cấu thành lên tế bào thần kinh não.
Trong vi ống có một số electrons.
Những electrons này sẽ sử dụng hiệu ứng siêu thời không của giao tiếp lượng tự
để giao tiếp với một số electrons nơi sâu thẳng vũ trụ.
Đây chính là nguồn gốc thực sự của ý thức.
Chúng ta không phải đại não, chúng ta không phải thân xác.
Chúng ta là chính vũ trụ.
Rất đơn giản.
Tiếp dục suy luận theo logic này,
có phải một số thân xác sẽ tiếp nhận thiết bị dễ hơn người bình thường?
Hoặc ngay trong video trước chúng ta có nhắc đến,
các môn pháp tù luyện của vật da các nơi hay tu tiên đạo da cũng vậy.
Rất nhiều phương pháp đều có thể giúp con người tự nâng cấp được thiết bị tiếp nhận.
Một khi thân xác nâng cấp, một khi tu luyện thành tiên,
vậy đây chẳng phải thần thông trong vật da, bán tiên trong đạo da
và còn siêu giác quan trong mắt các nhà khoa học nói đến hay sao?
Có đúng là như vậy không?
Trong cuộc phỏng vấn ông Tak, ông cũng đề cập đến lối tư duy lượng tự, tưởng tự như vậy.
Nhưng ông Tak cho rằng, còn có một người từng thực sự du hành vào không gian vũ trụ,
thực sự thực hành tù luyện còn hiểu rõ hơn mình nữa.
Phi hành gia này chính là Michel,
là phi hành gia thứ 6 đặt chân lên mặt trăng trong lịch sử nhuận loại.
Có người nói, sau khi Armstrong,
người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng quay trở về,
thì trở thành một chiếc học gia ẩn giật.
Người thứ 2 đặt chân lên mặt trăng Buzz Aldrin,
thì trở thành một ông già cáo kỉnh dễ nổi nóng.
Còn người thứ 3 lên mặt trăng Pete Corret,
sau khi trở về thì biến thành một chùm xã hội đen,
thích moto tìm kiếm cảm giác mạnh, vân vân và vân vân.
Nghiềm trọng nhất là người thứ 6 lên mặt trăng Edgar Michel,
thì biến thành một người mê mẩn dở hơi, suốt đời theo đuổi
và ca ngợi những thứ gì mà siêu cảm quan, siêu hiện thực.
Tuy nhiên, nếu nghe kỹ câu chuyện Michel kể,
hãy xem ông đã giải thích khả năng siêu cảm giác như thế nào.
Hóa ra ông ấy nói,
Về cơ bản mà nói, chúng ta đang thảo luận,
giải thích về những thứ mà chúng ta nhìn thấy.
Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta, cả suốt mấy thế kỷ qua,
và đương nhiên, cùng tất cả phi hành gia,
những người đã rời khỏi trái đất và quay đầu nhìn lại trái đất.
Chúng tôi gọi là hiệu ứng bức tranh lớn.
Nhìn sự vật dưới một góc nhìn mới.
Từ góc độ thương khung, bầu trời rộng lớn nhìn trái đất.
Chúng ta chỉ là một phần rất rất nhỏ của vũ trụ rộng lớn mà chúng ta nói đến.
Tôi đã hoàn thành sứ mệnh đáp lên mặt trăng.
Và trên đường về nhà, ngắm nhìn bầu trời trôi qua.
Sự vĩ đại của nó trợt lé lên trong tôi.
Trong ánh hào quang, tôi nhìn thấy một từ tiếng phạn cổ có tên Samadhi.
Tràng thái của Samadhi có nghĩa là bạn dùng giác quan của mình
nhìn thấy hình dáng vốn có của sự vật.
Bạn sẽ trải nghiệm từ tận đáy lòng mình.
Tất cả mọi thứ đều là một trình thể.
Bạn cũng dần lĩnh hội được rằng, bạn có thể đến thăm cả trình thể này.
Chúng ta là những vị sao.
Từ ý nghĩa này mà nói, chúng ta đều là một thể.
Xin hỏi, bạn có cảm xúc như thế nào?
Chúng ta cần biết rằng, Michelle là một tiến sĩ khoa học của MIT.
Tại sao đi một chuyến vào vũ trụ trở về điền Samadhi?
Về là thuyết vũ trụ thống nhất vậy?
Có lẽ tất cả chân tướng sự thật nằm trong kinh điển vật gia và đạo gia cũng nên.
Bạn và tôi, trời đất, vũ trụ, thời không đều là một thể.
Chúng ta chẳng qua chỉ là một chùm electrons nằm sâu trong vũ trụ mà thôi.
Trong lời tiên tri của Penrose, chúng ta phát nổ tuần hoàn, đời đời kiếp kiếp,
luân hồi trong thế giới vật chất này.
Nếu như thế này, vậy thì những siêu cảm quan kia cũng không khó để giải thích nữa rồi.
Những người có siêu giác quan chẳng qua là những người nhìn thấy bản chất của vũ trụ,
chân tướng của vũ trụ trước chúng ta mà thôi.
Nhân quà không gian thời gian, đây chẳng qua chỉ là hư vọng thế gian,
cứ giống như thân xác chói buộc lấy chúng ta mà thôi.
Còn không biết bạn có suy nghĩ như thế nào?
Bạn có cảm giác khoa học đã chứng thưởng được tu tiên,
và có lẽ nào đây mới chính là nhiệm vụ của khoa học.
Chắc hẳn đây là một chủ đề rất hại não đúng không?
Hãy nghe các bạn cùng chia sẻ suy nghĩ của mình ở phần bình luận phía bên dưới video nhé!
Trọng đạo đức kinh có viết, thái cực sinh lưỡng nghi,
và từ xưa đến nay trong triết học và cả khoa học đều tin rằng,
vạn vật trên đời đều có hai mặt chính phản.
Ví dụ trắng đen, chính phụ, sáng tối, âm dương.
Vì vậy có người tin rằng đằng sau thế giới này của chúng ta,
còn có một thế giới sống hết nó.
Điều này về mặt khoa học chưa thể chứng thưởng được,
nhưng các nhà vật lý học đã chứng minh,
trên thế giới này ngoài vật chất mà con mắt chúng ta có thể nhìn thấy được,
cơ thể chúng ta có thể chạm vào được,
còn có loại vạn vật chất có khối lượng tương đương với nó tồn tại.
Từ vạn vật chất xuất hiện nhiều trong các bộ phim tiểu thuyết và khoa học viễn tưởng,
thường được miêu tả như một thứ vừa thần bí lại kỳ lạ.
Trong bộ phim Star Trek, Dù hành các vị sao,
vạn vật chất còn là nguồn năng lượng thúc đẩy động cơ
được vượt tốc độ ánh sáng của tàu vũ trụ Enterprise.
Khi chuyến thám hiểm diễn ra không được xuân sẻ,
còn có khả năng khiến thời gian quay ngược lại nhiều ngày nữa.
Không chỉ vậy, người ta còn cho rằng vạn vật chất là nguồn cốc của vạn vật trên thế giới.
Sức mạnh của thần cũng ẩn chứa trong đó.
Vậy vật chất này đúng là thần kỳ đến vậy sao?
Còn các nhà vật lý nghĩ gì về nó?
Hôm nay chúng ta hãy cùng nói về
Vạn vật chất
Xin chào các bạn, mình là Miss Ruby.
Một ngày tháng 10 năm 1927 ở Brasov, thủ đô nước Mỹ.
Thời tiết nắng đẹp, một nhóm quý ông ăn mặc bánh bao xa bên ngoài trời
xếp hàng sẵn để chuẩn bị chụp ảnh.
Trong đó một người Anh có vẻ thẹn thùng mắc cỡ.
Anh ta vừa nhận bằng tiến sĩ vật lý lý thuyết tại Đại học Cambridge
có tên Paul Dirac.
Paul Dirac hào hứng đi ngang qua đám đông.
Nhìn sang trái rồi lưỡi ngó sang phải.
Muốn nói chuyện với người bên cạnh nhưng e thẹn lại luống cuốn không mở được miệng.
Nhóm người xếp hàng ngay ngắn trước một tòa nhà.
Nhóm ảnh ra tách một cái và đã chụp được bức ảnh này.
Bức ảnh đứng mạnh xanh là bức ảnh thế kỷ.
Ông Dirac ở vị trí này.
Xin hãy nhìn những người xung quanh ông ta
thì mọi người sẽ biết tại sao ông không dám bắt lời nói chuyện rồi.
Phía trước là Anh Xanh, Mark Blank, bà Marie Curie.
Bên cạnh là Arthur Compton, Niels Bohr.
Phía sau là Pauli, Schrödinger, Heisenberg và những người khác.
Tất cả đều là những nhân vật đỉnh nhất giới vật lý đầu thế kỷ 20.
Trẻ một bức ảnh có 17 người đoạt giải Nobel.
Một số người trong đó đã đoạt giải trước
và một số giành được giải thưởng sau cuộc họp này.
Dirac lúc đó chỉ như một người học việc giữa những tên tuổi lớn này.
Những người trong ảnh đều có mặt ở đây
để tham dự hội nghị survey lần thứ năm.
Đây là hội nghị cấp cao nhất trong giới vật lý.
Ông Dirac lúc đó mặc dù còn non trẻ,
nhưng vì những nghiên cứu xuất sắc trong vật lý lượng tự
mà có được tấm vé tham dự hội nghị lần này.
Tại cuộc họp, hai trường phái lớn trong vật lý lý thuyết lượng tự
do Einstein và Bo đứng đầu đã diễn ra tranh luận sôi nổi.
Einstein với mái tóc dối bù lớn tiếng nói
Thượng Đế không chơi chó xuất sắc.
Ý là tính không xác định trong thế giới lượng tự là một chó đùa.
Thế nhưng Bo cũng lớn tiếng vặn lại.
Ông không thể chỉ đạo Thượng Đế phải làm như thế nào.
Ý là phía bên trong thế giới lượng tự
là ẩn số mà con người chúng ta không thể tìm hiểu rõ được.
Hai bên tranh luận quyết liệt đến mức mặt đỏ tía tai, không phân thắng thua.
Sau buổi họp, một nhóm người trẻ cùng ngồi trong quán cà phê nói chuyện.
Mọi người còn đang hồi tưởng lại những phát biểu đặc sắc
của hai nhân vật cỡ bự vừa rồi.
Người vẫn luôn im lặng mấy lâu là Dirac đã bất ngờ lên tiếng.
Ông nói, tôi thấy hai nhà bác học không cần nhắc đến Thượng Đế
bởi vì rất có khả năng Thượng Đế vốn không tồn tại.
Dirac nói tiếp, trong Thánh Kinh Sáng Thế Kỳ có viết
Anh Sáng là được sinh ra từ hư không hỗn độn
nhưng mà Anh Sáng là có năng lượng.
Làm sao có thể sinh ra từ hư không, không có bất cứ thứ gì được chứ?
Điều này thực sự là vô lý.
Vì vậy, Thượng Đế là không tồn tại.
Không sai, đây chính là những gì mà Dirac nghĩ lúc đó.
Thế nhưng chỉ có thể nói là lúc đó.
Suy nghĩ của Dirac sau này thay đổi như thế nào
thì chúng ta hãy đợi đáp án trong quá trình ông chứng thực suy nghĩ của mình.
Chuyện kể rằng, khi Dirac vừa mới dứt lời,
tất cả mọi người đều nhìn ông ta như một quái vật vậy.
Vừa hay lúc đó hai sớn bớt và Paulie đang ngồi uống cà phê ngay bên cạnh.
Vừa nghe xong những gì Dirac nói thì hà hà cười lên tiếng.
Cười để nỗi khiến cho Dirac xấu hổ, mặt đỏ bừng lên và không dám nói thêm gì nữa.
Paulie cười nói, niềm tin của Dirac là Thượng Đế không tồn tại,
ông chính là nhà tiên tri.
Nói xong, cả khán phòng lại bật lên cười.
Mặc dù lúc đó đang là thời đại khoa học phát triển,
thế nhưng phần lớn các nhà khoa học lúc đó vốn không phải người vô thần.
Họ thực ra là hữu thần, tin rằng Thượng Đế có tồn tại.
Chỉ là họ không tin tưởng tôn giáo lúc bấy giờ mà thôi.
Dirac bị cười nhạo, trong lòng cảm thấy có chút ấm ức.
Mặc dù bạn tin vốn là người nút nháp, không giỏi xáo tiếp,
nhưng trong ông ấy vẫn khá cứng cỏi và tự tin.
Sau buổi hội nghị đó, Dirac làm việc chăm chỉ để chứng minh suy nghĩ của mình.
Thượng Đế vốn không có tồn tại trong thế giới vật lý.
Dirac quyết định dùng câu nói đầu tiên trong sáng thế ký làm đối tượng phản nghiệm.
Câu này được viết như sau.
Ban đầu, Chúa tạo ra trời đất.
Đất là hư không hỗn độn, vực sâu tăm tối.
Linh của Chúa di chuyển trên mặt nước.
Chúa nói cần có ánh sáng, nên liền có ánh sáng.
Dirac bắt đầu tìm tòi làm thế nào để thông qua phương pháp khoa học.
Chứng thực việc sinh ra ánh sáng là cần năng lượng.
Hư không không có năng lượng, cho nên ánh sáng không phải là Thượng Đế tạo ra từ hư không.
Như này cũng đã gián tiếp chứng minh Thượng Đế không tồn tại.
Đây là hướng suy nghĩ của ông ấy.
Ông Dirac đã nghĩ đến phương pháp sở trường của mình.
Bắt đầu từ lượng từ vi mô.
Dirac có thể tham gia hội nghị cấp cao nhất trong sứ vật lý học.
Vậy thì tài năng của ông ta cũng là rất xuất sắc.
Vì vậy, ông vùi đầu vào bàn làm việc liên tục viết.
Một năm sau, ông thực sự đã dùng công thức toán học
mà rút ra phương trình cấu trúc nguyên tử, giải thích các hạt vi mô.
Với kết quả này, ông Dirac mừng rỡ.
Ông cho rằng cuối cùng mình đã tìm ra phương hướng sinh ra ánh sáng chính xác rồi.
Trong một hội nghị học thuật, Dirac đã rất tự hào giải thích phát hiện của mình trước các học giả.
Trung tâm của nguyên tử là hạt nhân nguyên tử mang điện tích xương.
Xung quanh hạt nhân nguyên tử là các điện tử Electron mang điện tích âm.
Chúng quay với tốc độ cao quanh hạt nhân nguyên tử.
Ông Dirac vừa nói, vừa xoẹt xoẹt xoẹt biết ra phương trình của mình.
Đáng viết, đột nhiên Dirac phát giác ra có gì đó không ổn.
Phương trình của mình thật kỳ lạ.
Sao lại có thể chấp nhận được sự tồn tại của các Electron mang điện âm?
Nhưng mà theo suy nghĩ của mình trước kia, năng lượng đều phải là xương mới đúng chứ.
Sao lại có Electron mang năng lượng âm được?
Dirac đột nhiên phát hiện ra bác của chính mình.
Và thế là ông ta lại quay trở lại ban làm việc, tiếp tục trầm ngầm suy ngẫm.
Mấy ngày sau, cuối cùng ông Dirac đã đưa ra một ý tưởng cực lớn.
Chân không mà chúng ta thường nói đến vốn không phải không có gì cả,
mà là một biển lớn không đáy.
Năng lượng của Electron nằm trên mức nước biển bằng không.
Electron dưới mức nước biển đều nằm ở các vị trí khác nhau có mức năng lượng âm.
Toàn bộ đại dương tĩnh lặng, không có sóng. Đây chính là chân không.
Dirac rất hài lòng với trí tưởng tượng này của mình.
Đây là một vòng khép kín hoàn hảo, có thể giải thích tất cả mọi thứ.
Thế nhưng khi ông ta vừa đứng dậy, trong đầu chật lé lên một ý nghĩ.
Trời ạ, biển cả chân không này, chẳng phải chính là hư không sản sinh ra ánh sáng nói đến trong sáng thế kỷ đó sao?
Dirac đã rất sốc.
Ý nguyện ban đầu của ông ta là muốn chứng minh rằng trong hư không, không có năng lượng.
Thế nhưng kết quả hiện tại lại xác nhận rằng, trong hư không có năng lượng, mà lại còn là năng lượng âm nữa.
Phản ứng đầu tiên của ông ta là, chẳng lẽ công thức toán học của mình đã sai.
Ông ta lập tức ngồi xuống, cầm bút lên tiếp tục tính.
Mấy ngày sau, Dirac bất lực thừa nhận rằng công thức không có sai.
Trong thế giới lượng tử đích thực tồn tại hư không mang năng lượng âm.
Tuy nhiên Dirac là một người hết mực khiêm tốn, dù sao cũng đã chứng minh suy nghĩ của mình trước kia là sai.
Vậy thì thay đổi thôi, từ trong hư không suy tính lại xem, ánh sáng là được sinh ra như thế nào.
Và thế là Dirac đã bày bổng trí tưởng tượng ra một khung cảnh như thế này.
Trong hư không có một đại dương tĩnh lặng, một nguồn năng lượng không xác định bắn vào đại dương.
Năng lượng vừa hay chuyên cho một electron.
Vì vậy electron sau khi hấp thụ năng lượng lập tức nhảy vọt ra khỏi mặt biển, biến thành electron mang năng lượng dương.
Còn ở vị trí ban đầu trong đại dương sẽ sinh ra một electron mới.
Thế nhưng electron này với electron nhảy khỏi mặt biển kia lại hoàn toàn ngược nhau.
Nó mang năng lượng dương gọi là positron hay phản electron.
Một khi phản electron và electron thông thường va vào nhau, sẽ phóng ra một tia sáng gọi là tia gamma.
Dirac nói, nguồn năng lượng không xác định này chính là đến từ thần.
Còn tia gamma chính là ánh sáng sinh ra từ trong hư không.
Ông Dirac lúc này thở dài một tiếng và ra thượng đế lại là nhà khoa học cao mình đến vậy.
Tội phục rồi, tự trách mình kém gọi.
Trí thưởng tượng của ông Dirac vừa được đưa ra thì liền bị cho là khoa học viễn tưởng,
bởi vì chẳng ai hiểu được ông ấy đang nói cái gì nữa.
Thế nhưng mọi người đều cảm thấy ông ấy thật giỏi.
Năm 1933, Dirac, người lúc đó đã gạt hái nhiều thành công trong lĩnh vực vật lý lượng tử,
cuối cùng cũng đã đoàn xài Nobel, cùng đứng trên bục vinh quang với những tên tuổi lớn khác.
Cho đến tận mấy năm sau mới có người thực sự đo ra được phản electron.
Bởi vì electron vốn dĩ nên mang nghiện âm mà,
cho nên phản electron được các nhà vật lý quy về loại phản vật chất.
Vậy theo như tính toán của Dirac, phản vật chất ngoài phản electron ra thì chắc còn có phản vật chất nguyên tử.
Còn người lúc đó mới chỉ quan sát ra được những hạt ở cấp độ hạ nguyên tử như phản electron, phản proton.
Còn về phản vật chất nguyên tử có hình dáng như thế nào thì không ai biết rồi.
Cho đến năm 1995, các nhà vật lý tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu mới làm va chạm ra được
nguyên tử hydro phản vật chất đầu tiên trong máy va chạm hạt tốc độ cao.
Mọi người mới bằng hoàng tỉnh ngộ, hoa ra phản vật chất mà tiền bối đi trước là ông Dirac nói đến là có thật.
Vậy phản vật chất trông như thế nào?
Hình ảnh phía bên trái là một nguyên tử hydro bình thường trong thế giới của chúng ta.
Trung tâm của nó là một proton tích điện dương ở giữa.
Vòng bên ngoài là một electron tích điện âm.
Electron quay quanh proton ở giữa.
Hình ảnh phía bên phải chính là cấu trúc của một nguyên tử hydro phản vật chất.
Ở giữa là một proton tích điện âm gọi là phản proton.
Vòng ngoài là một electron tích điện dương gọi là positron hay hạt phản electron.
Positron quay quanh hạt phản proton ở trung tâm.
Nhìn thấy nguyên tử hydro phản vật chất, tất cả các khoa học già đều nốn nháo.
Mọi thứ trong thế giới phản vật chất này hóa ra đều phản ngược lại với vật chất trong thế giới của chúng ta.
Vậy phải rằng điều này có nghĩa là tất cả các nguyên tố trong bảng tuần hoàn đều có khả năng giống như nguyên tử hydro có bạn đồng hành trong thế giới phản vật chất của mình.
Ví dụ có nguyên tử carbon thì sẽ có nguyên tử phản carbon.
Nếu có nguyên tử nitr thì sẽ có nguyên tử phản nitr.
Có khoa học già càng nghĩ càng huyền bí.
Trong thế giới phản vật chất có phản mặt trời, đốt cháy các nguyên tử phản hydro.
Mọi thứ trong thế giới này đều được cấu thành từ phản vật chất, bao gồm cả sinh mệnh, tóc, da, DNA của họ.
Tất cả đều giống chúng ta, chỉ là đều được làm từ phản vật chất.
Thế nhưng mọi người biết không, tất cả những thứ này đều chỉ là trí tưởng tượng bày bổ mà thôi.
Trong hiện thực của chúng ta là tuyệt đối không thể quan sát ra được thế giới phản vật chất.
Bởi vì phản vật chất không thể tồn tại một cách ổn định trong thế giới của chúng ta.
Thế nhưng các fan hâm mộ khoa học viễn tưởng vẫn tràn chế mơ mộng với phản vật chất.
Bởi vì có người lấy phương trình tương đương khối lượng năng lượng của anh xanh chuyển đổi thử.
Năng lượng giải phóng bởi 1 gram phản vật chất tương đương với 2 quả bom nguyên tử Litterboy,
tương đương với sức công phá của khoảng hơn 30.000 tấn TNT.
Điều này thực sự quá đáng kinh ngạp.
Hơn nữa, nếu có người thiết kế ra được một động cơ phản vật chất,
vậy thì tàu vũ trụ của con người đừng nói đến lao sang ngoài hệ mặt trời.
Lao ra khỏi hệ ngân hàng cũng là việc chỉ trong vài phút.
Trong loạt phim khoa học viễn tưởng Star Trek, du hành các phỉ sao chính là dùng khái niệm động cơ phản vật chất.
Thực ra thiết kế tên lửa phản vật chất rất đơn giản và trực quan.
Chỉ cần cho phản vật chất vào thùng chứa an toàn và rồi liên tục đi vào buồng phản ứng.
Nó kết hợp nổ với vật chất thông thường thì sẽ sinh ra năng lượng ánh sáng mạnh mẽ.
Đoạn một tiếng là có thể tạo ra lực đẩy cực lớn.
Đẩy tên lửa tiến về phía trước với tốc độ cao.
Hơn nữa, sàn phòng của vụ nổ chỉ có năng lượng ánh sáng, không có bất kỳ vật chất nào khác.
Có thể nói là 100% bảo vệ môi trường.
Ngay khi mọi người đều đang tưởng rằng phản vật chất chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng chủ quan của tiểu thuyết khoa học viễn tưởng,
bất ngờ có tình đồn lan truyền, rất có thể NASA đã phát triển ra được vũ khí phản vật chất.
Năm 2004, trong một hội nghị của NASA, một chuyên gia đạn dược tên Kenneth Edwards đến từ Florida
đã thảo luận nghiêm túc về tiềm năng của phản vật chất trong phát triển vũ khí.
Người đàn ông này đã lấy một ví dụ như thế này.
Ông nói, năm 1995, tại thành phố Oklahoma Mỹ đã xảy ra một vụ tấn công.
Tòa nhà liên bang Alfred Mora ở trung tâm thành phố bị đánh bom khiến hơn 800 người thương vong,
làm hư hại hơn 300 tòa nhà và gây thiệt hại 600 triệu USD.
Sau khi điều tra, FBI xác định quả bom khủng bố tấn công tương đương sức nổ khoảng 1.800 kg TNT.
Edwards chuyển chủ đề nói, mọi người biết không, nếu như dùng phản vật chất làm bom,
chỉ cần 20 nanogram phản electron, tức là 1 phần 50 triệu gam là có thể làm được điều này.
Đã tương đương với sức nổ 1.8 tấn TNT.
Hơn nữa, còn không xinh giá bất cứ vật chất độc hại nào, 100% thần thiện môi trường.
Edwards vừa dứt lời, ai đấy đều sốc.
Các phóng viên đã thốt lên trong báo cáo của mình rằng,
quân đội Mỹ đã phát triển ra vũ khí phản vật chất có thể diệt địch bốc hơi.
Phóng viên của tờ San Francisco Chronicle ngay lập tức tìm đến phát ngôn viên của Không quân hỏi.
Mà câu trả lời của phát ngôn viên cũng rất kỳ lạ.
Anh ta nói, chúng tôi nghiêm cấm nhân viên công bố bất cứ thông tin nào liên quan đến dự án nghiên cứu phản vật chất.
Mọi người nghe xong á khẩu.
Vậy câu trả lời này tương đương thừa nhận dự án nghiên cứu vũ khí phản vật chất có tồn tại mà.
Các fan hâm mộ khoa học viễn tưởng vui hết nốc.
Nếu quân đội Mỹ đã có thể phát triển thành công vũ khí phản vật chất,
vậy chẳng phải nói tên lửa phản vật chất trong Star Trek cũng rất thực tế sao.
Vậy thì con người phóng sang ngoài hệ mặt trời đến hệ ngân hạ cũng không còn xa với nữa.
Thế nhưng có đúng như vậy không?
Trước khi trả lời vấn đề này, chúng ta cần đặt ra một vấn đề khác trước đáp.
Đó là đi đâu tìm phản vật chất đây.
Hiện tại các nhà khoa học chỉ có thể quan sát được phản vật chất ở hai nguồn.
Thứ nhất, phản vật chất thỉnh thoảng được tìm thấy trong các tiếng vũ trụ,
nhưng số lượng cực nhỏ, hầu như không đáng kể.
Thứ hai, đó là phản vật chất đơn giản mà các nhà vật lý tổng hợp trong máy xa tốc hạt năng lượng cao.
Ví dụ như các nguyên tử phản hydro được tạo ra trong máy va chạm hạt tốc độ cao
trong Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu chúng ta có đề cập phía trước.
Tuy nhiên số lượng cũng cực ít, hơn nữa có thể va chạm ra được không?
Còn phải xem vận máy nữa.
Ngoài ra còn có một vấn đề thực tế hơn nữa là phản vật chất là chất đắt nhất trên thế giới.
Tính theo giá hiện tại, để tạo ra một gam phản vật chất cần tiêu tốn hơn 60.000 tỷ đô.
So sánh với đó, phát triển ra một quả bom nguyên tử trong dự án Manhattan.
Tính ra giá hiện tại thì chỉ tiêu tốn hơn 23 tỷ đô.
Tổng GDP của Hoa Kỳ vào năm 2022 mới có 25.000 tỷ đô,
mà tạo ra một gam phản vật chất đã tiêu tốn hơn 60.000 tỷ đô rồi.
Vậy thì một gam phản vật chất này đã đủ khiến cả nước Mỹ phá sản.
Cho nên cách nói không quân Mỹ đã có vũ khí phản vật chất không đáng tin cậy.
Nhưng điều này cũng vốn không có nghĩa là quân đội Mỹ hiện đang không nghiên cứu phản vật chất.
Các khoa học gia của NASA từng đưa ra một phương án giải quyết,
xây dựng nhà máy chuyên sản xuất phản vật chất.
Tật nhiên, chuyên gia của NASA vốn không giải thích chi tiết cho công chúng.
Chỉ cho biết thông qua cách này, chi phí sản xuất phản vật chất
có thể giảm xuống mỗi gam khoảng 5 tỷ đô.
Mức giá này xem ra nghe có vẻ chấp nhận được.
Thế nhưng đối với vũ khí, sức nổ tối đa của một quả bom hạt nhân B61
có thể lên tới 50.000 tấn TNT, giá trị 28 triệu đô.
Cho nên so sánh thì vũ khí phản vật chất vẫn còn quá đắt.
Bộ phim khoa học viễn tưởng Dù hành các vị sao đã cung cấp một lối tử suy khác.
Dù sao thì việc tự tạo ra nó đã không đỡ nổi.
Vậy thì vào vũ trụ tìm xem, đi tìm những hành tinh phản vật chất.
Đương nhiên, nếu như con người thực sự có thể tìm thấy các hành tinh phản vật chất
trong quá trình dù hành giữa các vị sao,
có thể đối với nền văn minh trái đất mà nói cũng không phải một việc tốt.
Bởi vì hàng tốt giá rẻ, loài vũ khí phản vật chất cực nguy hiểm như vậy
rất có thể có khắp mọi nơi.
Vậy thì nếu như hành tinh phản vật chất được tìm thấy rồi,
trái đất chắc cũng bị hủy luôn rồi.
Hơn nữa với trình độ công nghệ hiện nay,
cho dù có tìm ra được phản vật chất,
làm sao để có thể lưu trữ nó trong thế giới của chúng ta lại càng khó khăn hơn nữa.
Bởi vì chỉ cần nó chạm vào bất cứ vật chất nào trong thế giới của chúng ta,
bất kể là không khí hay thành trong của trụ thép trong thùng chữa,
thì nó sẽ ngay lập tức biến thành một luồng ánh sáng, không còn lại gì.
Trung tâm nghiên cứu hạt nhân châu Âu lưu trữ phản vật chất như thế này.
Trước tiên, trong máy ra tốc và chạm sinh ra phản vật chất,
loài hạt này sẽ chạy dọc theo đường ống ra tốc với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng.
Với tốc độ như thế này, phòng thí nghiệm không thể lưu trữ nó được.
Vì vậy, trước tiên các nhà nghiên cứu phải giảm tốc độ của phản vật chất,
sau đó sử dụng một vật chứa có tử trường mạnh để vây hãm nó lại,
không để nó chạm vào thành trong của thùng chứa.
Như vậy, phản vật chất mới có thể được lưu trữ.
Tuy nhiên, một khi mất điện hoặc máy móc gặp sự cố,
phản vật chất chạm phải thành trong của vật chứa thì sẽ biến mất, không dấu vết.
Thế là xong.
Vì vậy, cho dù là vũ khí phản vật chất hay tên lửa phản vật chất,
hiện tại cũng giống như thời đại của ông Dirac,
đây vẫn là một đề tài khoa học biến tưởng.
Giới khoa học vẫn đang nghiên cứu phản vật chất,
thế nhưng có một vấn đề vẫn luôn khiến các khoa học gia phải đau đầu.
Đó chính là, thời điểm ban đầu khi vũ trụ sinh ra,
số lượng vật chất và phản vật chất nên là bằng nhau mới phải.
Vậy thì sau khi va chạm khiến cho vũ trụ có ánh sáng,
vật chất và phản vật chất phải là triệt tiêu lẫn nhau mới phải,
vậy thì cũng không tồn tại thế giới vật chất có thể nhìn thấy của chúng ta nữa rồi.
Vậy thì tại sao lại còn tồn tại hệ mặt trời, hệ ngân hà và toàn bộ vũ trụ của chúng ta đây?
Vì vậy, một loại giải thích như thế này đã xuất hiện.
Thế giới vật chất mà chúng ta đang sống là một phần vật chất còn sót lại sau vụ va chạm đó,
là tàn tích chưa phản ứng hết.
Nói cách khác, có một luồng sức mạnh thần kỳ đã thay đổi tình đối xứng của vũ trụ.
Sau sự va chạm lớn giữa vật chất và phản vật chất,
đã cố ý giữ lại một phần vật chất nếu mới hình thành hệ mặt trời
và các hành tinh thiên hà vật chất khác.
Nếu như giữ lại một phần vật chất, hình thành một vũ trụ vật chất,
vậy thì cũng có khả năng cũng đã giữ lại một phần phản vật chất
và hình thành lên vũ trụ phản vật chất.
Hơn nữa, sức mạnh thần kỳ này đã phân tách vũ trụ vật chất
và vũ trụ phản vật chất ra, khiến cho va chạm không xảy ra nữa,
không chia tiêu lẫn nhau nữa.
Chẳng lẽ nào đúng như ông Dirac suy đoán,
chính là nguồn năng lượng mà thần đã chuyển vào đó sao?
Là bàn tay của thần đã tách rời vật chất và phản vật chất,
khiến cho hai bên vĩnh viễn không tiếp xúc với nhau sao?
Trang lập vấn đề này thì trong hiểu biết của Quang hiện nay
vẫn còn là một bí ẩn.
Có người nói, thần nói cần ánh sáng liền có ánh sáng
và ra lại có ý nghĩa thầm sầu đến vậy.
Vậy liệu có phải là khi chúng ta làm rõ được phản vật chất
thì cũng sẽ tìm được thần?
Còn không biết bạn thì có suy nghĩ như thế nào?
Bạn nghe các bạn cùng chia sẻ suy nghĩ của mình
ở phần bình luận phía bên dưới video nhé.
Và phần chia sẻ của chúng ta ngày hôm nay xin tạm dừng tại đây thôi.
Nếu bạn thấy video này hoặc những nội dung
trên kênh Miss Ruby của chúng ta thật sự hữu ích,
thì xin hãy chia sẻ cho một người bạn của mình cùng tìm hiểu nữa nhé.
Xin cảm ơn các bạn rất nhiều. Xin chào và hẹn gặp lại!
