Tại sao Phú Quốc gần Campuchia hơn nhưng lại thuộc Việt Nam

TÔI YÊU BÌNH DƯƠNG
1.4K Người theo dõi
Có một tấm bản đồ được treo trong phòng tiếp khách của chính phủ Campuchia
không phải bản đồ trang trí, không phải bản đồ lịch sử.
Đó là bản đồ chính thức được treo trong buổi tiếp kiến ngoại giao cấp cao với Nga vào tháng 12 năm 2025.
Và trên tấm bản đồ đó, hòn đảo lớn nhất Việt Nam, Phú Quốc được tô màu thuộc lãnh thổ Campuchia.
Nhưng điều kỳ lạ là Phú Quốc không phải lãnh thổ tranh chấp, không có vùng sám pháp lý,
không có phán quyết quốc tế nào còn bỏ ngỏ.
Vậy tại sao một quốc gia có thể vẽ lại bản đồ của nước khác giữa ban ngày ban mặt,
ngay trước mắt cộng đồng quốc tế? Câu hỏi này không có câu trả lời ngắn.
Để hiểu được nó, chúng ta phải đi ngược lại hơn 3 thế kỷ,
đến thời điểm mà hòn đảo này chưa có tên, chưa có người quản lý,
và chưa ai biết nó sẽ trở thành tâm điểm của một trong những tranh cãi địa chính trị dài dẳng nhất Đông Nam Á.
Hôm nay chúng ta sẽ giải mã toàn bộ câu chuyện đó.
Nếu bạn nhìn vào bản đồ Vịnh Thái Lan, Phú Quốc nằm ở một vị trí gần như là nghịch lý về mặt địa lý.
Hòn đảo cách bờ biển tỉnh Kiên Giang của Việt Nam khoảng 40km về phía Tây.
Nhưng nếu quay về hướng Bắc Tây Bắc, từ mũi phía Bắc của đảo đến bờ biển tỉnh Campos
của Campuchia chỉ khoảng 17 hải lý, sấp xỉ 31km theo đường chim bay.
Về mặt khoảng cách thô, Phú Quốc gần Campuchia hơn gần Rạch Giá.
Đây chính xác là điểm mà địa lý bắt đầu tạo ra vấn đề.
Không phải vì khoảng cách quyết định chủ quyền, luật quốc tế không vận hành theo kiểu đó,
mà vì khoảng cách địa lý này là lý do khiến một số người có thể hiểu nhầm rằng
sự gần gũi về không gian đồng nghĩa với sự thuộc về về lãnh thổ.
Đó là một hiểu nhầm nguy hiểm, và chúng ta sẽ tháo gỡ nó từng lớp một.
Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất Việt Nam với diện tích hơn 575km vuông,
dài khoảng 50km từ Bắc xuống Nam, rộng nhất khoảng 25km.
Một dãy núi được gọi là 99 ngọn chạy dọc từ Bắc xuống Nam như xương sống của đảo,
đỉnh cao nhất là núi Chúa với 603m, rừng nguyên sinh phủ phần lớn diện tích.
Bờ Tây là những bãi cát trắng mịn, từng được xem là ít người biết đến nhất thế giới.
Bờ Đông là rừng ngập mặn và đất bùn lầy.
Trong tiếng khơ mê, hòn đảo này được gọi là Cold Trout,
nhưng đó chưa phải điều đặc biệt nhất về mảnh đất này.
Điều đặc biệt là cách địa lý đã quyết định số phận lịch sử của nó.
Không phải theo hướng mà nhiều người nghĩ.
Hãy bắt đầu từ một sự thật ít người để ý.
Trước thế kỷ 17, không có nhà nước nào thực sự kiểm soát Phú Quốc.
Vịnh Thái Lan khi đó là một không gian mở,
nơi các tuyến hàng hải trắng chịt nhưng quyền lực nhà nước lại rất mờ nhạt.
Campuchia, hay chính xác hơn là Trần Lạp,
tên gọi lịch sử của Vương quốc Khơ Mê, tồn tại gần về mặt địa lý.
Nhưng nền văn minh Khơ Mê là một nền văn minh của đồng bằng sông nước nội địa,
bám chặt vào hệ thống canh tác lúa nước và kiểm soát sông ngòi.
Các trung tâm quyền lực của họ nằm ở U Đông, Phnom Penh và vùng biển Hồ,
tức là sâu trong nội lục.
Điều này không phải ngẫu nhiên, đó là sản phẩm của địa lý.
Một nền văn minh được xây dựng trên nông nghiệp tới tiêu và kiểm soát lưu vực
sẽ đặt tất cả nguồn lực hành chính và quân sự vào các vùng đất liền màu mỡ.
Biển đảo xa xôi là vùng ngoại vi không có giá trị chiến lược đủ để đầu tư bộ máy quản trị.
Chưa kể từ thế kỷ 17 trở đi, Trần Lạp bước vào một giai đoạn khủng hoảng
nội bộ kéo dài với các cuộc tranh giành quyền lực,
Vì thế, dù Phú Quốc nằm gần bờ biển Campuchia hơn về mặt địa lý,
Trần Lạp không có bộ máy hành chính, không có đồn trú quân sự,
không có cộng đồng cư dân định cư dài lâu được quản lý bởi nhà nước Khmer trên hòn đảo này.
Chỉ có vài ngư dân và thương nhân qua lại theo mùa.
Đây là một vùng đất vô chủ theo nghĩa pháp lý và một vùng đất vô chủ sẽ không mãi vô chủ.
Câu hỏi thực sự là ai đã đặt bộ máy nhà nước đầu tiên lên Phú Quốc?
Năm 1671, một đoàn thuyền rời khỏi vùng biển phía nam Trung Quốc.
Trên thuyền có khoảng 400 người, gia đình, binh sĩ và sĩ phu,
dẫn đầu bởi một thương nhân người Hoa tên Mạc Cửu, quê ở Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông.
Họ không ra đi vì mạo hiểm hay thèm muốn phiêu lưu.
Họ ra đi vì nhà Thanh vừa thay thế nhà mình,
và với tư cách là người Hoa không chấp nhận trật tự mới, ở lại là lựa chọn nguy hiểm.
Đây là làn sóng di cư mà lịch sử Đông Nam Á ghi nhận như một trong những cuộc
chuyển dịch dân số có tác động lớn nhất đến hình thái khu vực.
Mạc Cửu tìm một nơi đáp ứng ba tiêu chí.
Đủ xa quyền lực của các đế chế lớn để tự do hoạt động,
nằm trên tuyến đường giao thương biển có giá trị và chưa bị nhà nước nào kiểm soát chặt.
Vùng biển Hà Tiên và Vịnh Thái Lan thỏa mãn cả ba.
Ông đặt chân lên vùng đất này do hỏi và biết nó thuộc ảnh hưởng danh nghĩa của Trân Lạp,
rồi tìm đường đến U Đông xin tị nạn.
Nhưng lúc đó, nội bộ Trân Lạp đang loạn, sự trào đón mang tính hình thức.
Mạc Cửu được cho phép ở lại nhưng không nhận được bất kỳ hỗ trợ quân sự hay hành chính nào.
Điều này phù hợp với một quy luật địa lý.
Nhà nước suy yếu, không có khả năng quản trị vùng xa xôi, dù danh nghĩa họ có quyền ở đó.
Từ khoảng năm 1680, Mạc Cửu bắt đầu lập ấp.
Ông xây dựng các điểm định cư giải rác từ Hà Tiên, Đạch Giá đến các đảo ngoài Khơi,
trong đó có Phú Quốc.
Ông lập 7 thương cảng dọc bờ biển, biến vùng đất hoang thành một trung tâm giao thương sầm quất.
Tàu buôn từ Siem, Trân Lạp và các thương nhân khu vực đổ về đây, Phú Quốc,
khi đó còn được gọi là Koh Trao theo tiếng Khmer,
trở thành một trong những trạm rừng quan trọng trên tuyến hàng hải vịnh Thái Lan.
Nhưng sự thịnh vượng luôn đi kèm rủi ro,
và ở đây là nơi địa lý một lần nữa đóng vai trò quyết định.
Siem La, tức Thái Lan ngày nay,
là một cường quốc biển có truyền thống sử dụng sức mạnh quân sự
để kiểm soát các trung tâm ven biển và tuyến hàng hải trong khu vực.
Năm 1717, Siem tấn công và tàn phá Hà Tiên.
Đây không phải là lần cuối cùng.
Mạc Cửu hiểu rằng một thương cảng phôn thịnh không có hậu thuẫn quân sự đủ mạnh
là miếng mùi ngon cho bất kỳ thế lực nào muốn mở rộng ảnh hưởng xuống vịnh Thái Lan.
Bảo hộ của Trân Lạp chỉ là hình thức.
Trân Lạp không có lực lượng để bảo vệ vùng ven biển của chính mình,
chứ chưa nói đến các đảo xa bờ trước sức ép của Siem.
Mạc Cửu đứng trước một lựa chọn sinh tồn,
và ông đưa ra một quyết định có tầm vóc lịch sử.
Năm 1708, Mạc Cửu liên lạc với Chúa Nguyễn Phúc Chu,
người đứng đầu đàng trong, tức phần phía nam của Việt Nam dưới thời các chúa Nguyễn.
Đây không phải hành động xin bảo hộ thông thường.
Ông không chỉ xin một lá thư bảo đảm.
Đến năm 1714, Mạc Cửu chính thức xin làm thuộc hạ và được phong chức Tổng binh Trấn Hà Tiên.
Năm 1724, ông dân toàn bộ vùng đất mình quản lý,
Đây là thời điểm Việt Nam xác lập chủ quyền nhà nước đầu tiên tại Phú Quốc.
Tại sao hành động này có giá trị pháp lý?
Vì nó đáp ứng đúng tiêu chí mà luật pháp quốc tế gọi là chiếm hước thực sự,
tức là một nhà nước thiết lập quyền kiểm soát đối với vùng đất vô chủ
thông qua bộ máy hành chính và quản trị thực tế, không phải chỉ trên danh nghĩa.
Và đây là điểm mấu chốt,
Trân Lạp không thể đáp ứng tiêu chí đó vì họ chưa bao giờ có bộ máy quản lý thực tế trên đảo,
còn Chúa Nguyễn thì có.
Dưới thời Nguyễn Phúc Chu và các đời Chúa Nguyễn tiếp theo,
Phú Quốc được đặt trong phạm vi hành chính của Trấn Hà Tiên,
theo phủ biên Tạp Lục, một bộ tư liệu hành chính quan trọng của thời kỳ này.
Chúa Nguyễn còn tổ chức đội Bắc Hải để khai thác và quản lý vùng biển Hà Tiên
và các đảo ngoài khơi.
Nhân lực được tuyển từ các địa phương ven biển được cấp giấy sai của châu Đình,
và đội này hoạt động dưới sự kiêm quản của đội Hoàng Sa.
Đây là một cơ chế quản lý biển đảo thống nhất và có hồ sơ ghi chép rõ ràng.
Khi đặt chân lên Phú Quốc năm 1770 để sử dụng hòn đảo như một căn cứ tạm thời,
đã ghi nhận trong nhật ký của mình rằng cư dân trên đảo sử dụng tiếng Việt để giao tiếp,
không phải tiếng Khmer.
Đây là một bằng chứng độc lập từ người ngoài quốc,
xác nhận rằng vào thời điểm đó Phú Quốc đã là một cộng đồng người Việt
ổn định dưới sự quản lý của Đăng Trong.
Tiếp tục theo dòng thời gian, từ 1782 đến 1786,
Nguyễn Ánh, người sau này, trở thành vua Gia Long,
chọn Phú Quốc làm căn cứ khi bị quân Tây Sơn truy đuổi.
Hòn đảo không phải là nơi trú ẩn tạm thời của một người nưu vong.
Đó là một vùng lãnh thổ mà lực lượng trung thành với dòng họ Nguyễn có thể dựa vào
vì nó đã thuộc hệ thống kiểm soát của họ từ nhiều thập kỷ trước.
Năm 1802, sau khi đánh bại Tây Sơn, vua Gia Long thống nhất đất nước,
Phú Quốc tự động trở thành một phần của Đại Việt thống nhất dưới Trường Nguyễn.
Đây không phải là sự sám nhập mới,
đó là sự kế thừa liền mạch từ hệ thống quản trị đã có từ trước.
Năm 1806, Thượng thư bộ binh Lê Quang Định dâng lên vua Gia Long bộ Hoàng Việt nhất thống
dư địa chí, bộ địa chí chính thức đầu tiên của Triều Nguyễn.
Trong đó, Phú Quốc được mô tả là đảo nằm ngoài khơi phía tây nam huyện Hà Châu,
cách đất liền khoảng một ngày một đêm đường biển,
địa hình núi rừng rậm rạp được xem là bức trắn tự nhiên ngoài biển cho vùng Hà Tiên.
Đây là hồ sơ hành chính, không phải tuyên bố ngoại giao, không phải ý kiến học giả.
Đây là văn bản chính thức của một nhà nước ghi nhận lãnh thổ của mình.
Nhưng phần quan trọng nhất đến dưới thời Minh Mạng.
Nếu Triều Nguyễn quản lý Phú Quốc theo kiểu gián tiếp qua họ mạc,
thì Triều Nguyễn dưới thời Minh Mạng đã chuyển sang quản lý trực tiếp bằng bộ máy nhà nước.
Từ năm 1821, Triều Đình cho xây dựng các công trình phòng thủ bằng đất trên đảo.
Đây là lần đầu tiên nhà nước đặt công trình quân sự chính thức trên Phú Quốc,
đánh dấu sự chuyển dịch từ quản lý gián tiếp sang hiện diện nhà nước trực tiếp.
Năm 1832, Minh Mạng tái tổ chức bộ máy hành chính toàn quốc,
các trấn được tổ chức lại thành tỉnh.
Phú Quốc được đặt trong huyện Hà Châu, Phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên,
với đơn vị hành chính mang tên Tổng Phú Quốc gồm 10 thôn,
mỗi thôn đều có thôn trưởng được ghi danh trong địa bạ chính thức.
Theo nghiên cứu địa bạ Triều Nguyễn tỉnh Hà Tiên,
diện tích dụng đất trựu thuế của Phú Quốc chỉ khoảng 17 mâu,
một con số rất nhỏ so với tổng diện tích hơn 60.000 hà của đảo.
Sự tranh lạch này không phải sai sót,
nó phản ánh đúng đặc điểm sinh kế của cư dân.
Họ sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản và khai thác lâm sản,
không phải nông nghiệp canh tác.
Nhưng dù sinh kế thế nào, họ vẫn là cư dân được nhà nước Việt Nam ghi nhận,
quản lý và bảo vệ.
Vậy trước khi Pháp đặt chân đến Nam Kỳ,
Phú Quốc đã là một phần được quản lý ổn định,
liên tục và có hồ sơ rõ ràng trong bộ máy nhà nước Việt Nam.
Đây là nơi câu chuyện bắt đầu phức tạp hơn.
Khi thực dân Pháp đặt chân đến Đông Dương, họ tạo ra một cấu trúc hành chính kép.
Nam Kỳ là đất thuộc địa trực tiếp, Campuchia là đất bảo hộ.
Hai vùng cùng trong một liên bang Đông Dương nhưng áp dụng các cơ chế quản lý khác nhau.
Và trên biển chưa có một đường phân định hành chính được xác định bằng tọa độ cụ thể,
buôn lậu, trốn thuế và tranh chấp thẩm quyền cảnh sát trên biển phát sinh mạnh.
Năm 1939, Toàn quyền Đông Dương ký một văn bản nội bộ để giải quyết vấn đề này,
vẽ một đường phân định thẩm quyền hành chính giữa Nam Kỳ và Campuchia trên biển.
Đường này sau được gọi là đường Brevier theo tên của Toàn quyền Jules Brevier.
Và đây là điểm mà nhiều người cố tình hoặc vô tình đã đọc sai lịch sử.
Trong văn bản năm 1939, Toàn quyền Brevier dùng từ tranh chấp để mô tả tình trạng
của một số đảo trong Vịnh Thái Lan.
Phía phủ nhận chủ quyền Việt Nam dùng từ này như bằng chứng rằng chủ quyền chưa được xác định.
Nhưng đọc toàn bộ văn bản, bức tranh hoàn toàn khác.
Chính trong cùng văn bản đó, Brevier nhấn mạnh rằng mục đích của đường phân định
chỉ là xác định thẩm quyền quản lý và cảnh sát, tức thẩm quyền hành chính nội bộ.
Còn vấn đề chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo thì được bảo lưu từ thực trạng lịch sử,
tức là dựa trên thực tế quản lý đã có từ trước đó.
Thêm vào đó, chính hoàng đế Napoleon III của Pháp đã xác nhận vào năm 1855 rằng
Phú Quốc thuộc chủ quyền Việt Nam trước cả khi đường Brevier được vẽ.
Phú Quốc không trở thành lãnh thổ Việt Nam nhờ đường Brevier.
Đường này chỉ là công cụ hành chính để hợp thức hóa một thực trạng quản trị
đã tồn tại hơn hai thế kỷ trước đó.
Nhưng câu chuyện vẫn chưa kết thúc.
Vì có một giai đoạn trong thế kỷ 20 mà chủ quyền Phú Quốc không chỉ là vấn đề bản đồ,
nó trở thành vấn đề sống còn theo nghĩa đen.
Sau năm 1975, khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào đất nước Thống nhất,
Khmer Đỏ dưới sự lãnh đạo của Pol Pot đã thực hiện nhiều cuộc tấn công
vào lãnh thổ Việt Nam dọc biên giới Tây Nam.
Phú Quốc nằm trong tầm ngắm.
Chính quyền Khmer Đỏ không bao giờ công nhận Phú Quốc thuộc Việt Nam.
Họ gọi hòn đảo này là Cold Trial và coi đó là lãnh thổ bị chiếm đóng.
Trong bối cảnh đó, lực lượng quân sự Việt Nam phải hiện diện đủ mạnh trên đảo
để ngăn chặn bất kỳ hành động leo thang nào.
Đây là lớp lịch sử mà ít kịch bản nào nhắc đến.
Phú Quốc không chỉ được bảo vệ bằng văn bản pháp lý, nó được bảo vệ bằng máu.
Và sự hiện diện thực tế qua nhiều thế kỷ, từ đội Bắc Hải của Chúa Nguyễn,
qua các đồn phòng thủ của Minh Mạng,
đến sự hiện diện quân sự thời hiện đại, chuỗi liên tục này không bao giờ đứt gãy.
Đến năm 1999, Chính phủ Việt Nam và Campuchia ký thỏa thuận thống nhất
về đường phân định trên biển trong vùng nước lịch sử, trong đó Phú Quốc thuộc chủ quyền Việt Nam.
Đây là cam kết pháp lý giữa hai nhà nước có chủ quyền, ký kết công khai và được quốc tế ghi nhận.
Đây cũng là lần cuối cùng Campuchia ở cấp độ chính phủ
chính thức thừa nhận Phú Quốc là lãnh thổ Việt Nam.
Vậy tại sao tấm bản đồ vẫn xuất hiện trong phòng tiêu khách?
Để hiểu điều này, chúng ta phải tách biệt hai tầng khác nhau.
Lập trường chính thức của nhà nước Campuchia
và các luồng ý kiến dân tộc chủ nghĩa bên trong xã hội Campuchia.
Không có nhà lãnh đạo Campuchia nào ở cấp độ nhà nước hiện tại tuyên bố chủ quyền
đối với Phú Quốc như một chính sách chính thức, vì làm vậy sẽ vi phạm điều ước mà chính họ đã ký.
Nhưng câu chuyện về Coal Trail là một phần trong ký ức tập thể
của người Khmer được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ.
Khi một tấm bản đồ như vậy xuất hiện trong phòng tiêu khách ngoại giao,
có nhiều cách đọc khác nhau.
Đó có thể là một sự bất cần hành chính.
Đó có thể là một thông điệp gửi đến khán giả trong nước.
Đó cũng có thể là một hành động thử phản ứng của cộng đồng quốc tế.
Bất kể lý do là gì, một điều rõ ràng, tấm bản đồ không thay đổi được thực tế pháp lý.
Và thực tế pháp lý đó được xây dựng không phải trong vài năm hay vài thập kỷ,
mà qua hơn ba thế kỷ quản lý liên tục,
không bị gián đoạn bởi bất kỳ bộ máy quản trị tương đương nào từ phía khác.
Luật pháp quốc tế nhìn nhận chủ quyền lãnh thổ dựa trên hai tiêu chí cốt lõi.
Thứ nhất là chiếm hữu thực sự.
Quốc gia phải xác lập chủ quyền đối với vùng đất vô chủ bằng bộ máy quản trị thực tế.
Việt Nam thỏa mãn tiêu chí này từ đầu thế kỷ 18
khi mặt cử quy thuận Chúa Nguyễn và Phú Quốc được đưa vào hệ thống hành chính chính thức.
Thứ hai là thời hiệu.
Quản lý công khai, hòa bình và liên tục trong thời gian dài
mà không bị thay thế bởi bộ máy quản trị tương đương.
Phú Quốc thỏa mãn tiêu chí này qua hơn 3 thế kỷ.
Từ thời Chúa Nguyễn, qua Triều Nguyễn, qua thời Pháp thuộc và đến các nhà nước Việt Nam hiện đại.
Chưa có giai đoạn nào trong suốt quãng thời gian đó mà Campuchia có thể chứng minh
bộ máy quản trị thực tế của họ trên đảo.
Không có sổ bộ hành chính, không có quan lại, không có đơn vị đồn trú,
không có cộng đồng cư dân được quản lý bởi nhà nước Khmer.
Đây là nghịch lý thực sự của câu chuyện Phú Quốc.
Hòn đảo gần Campuchia hơn về khoảng cách vật lý
Địa lý tạo ra ảo giác về sự thuộc về.
Nhưng chính địa lý cũng giải thích tại sao Campuchia không bao giờ có đủ năng lực
để biến ảo giác đó thành thực tế.
Một nền văn minh đại lục bám chặt vào nội địa và suy yếu từ thế kỷ 17,
không thể mở rộng quyền lực ra biển đảo xa xôi khi chính bờ cõi trong đất liền còn không giữ được.
Mạ Cửu hiểu điều này, Chúa Nguyễn hiểu điều này, Triều Nguyễn hiểu điều này.
Và ngay cả người Pháp khi vẽ đường Brevier năm 1939
cũng không vẽ đường đó để trao chủ quyền,
mà để hợp thức hóa một thực trạng mà ai cũng đã biết từ lâu.
Vậy rốt cuộc, khi một tấm bản đồ xuất hiện trong phòng tiếp khách ngoại giao
và vẽ lại đường biên giới của một quốc gia khác, điều gì đang thực sự xảy ra?
Liệu đó là một hành động của sự thiếu hiểu biết,
hay là một chiến lược có tính toán nhằm tái định hình nhận thức lịch sử qua nhiều thế hệ?
Và nếu lịch sử đã rõ ràng đến vậy,
tại sao câu hỏi về Cô Trâu vẫn tiếp tục tồn tại trong ký ức tập thể của một dân tộc?
Và điều đó nói lên điều gì về sức mạnh của địa lý trong việc định hình cảm xúc
ngay cả khi pháp lý đã kết thúc từ lâu?
Hay đây chỉ là minh chứng cho một sự thật khắc nhiệt hơn?
Rằng đường biên giới trên bản đồ luôn chỉ là hậu quả
của những cuộc chơi quyền lực đã xảy ra hàng thế kỷ trước,
và người thắng cuộc không phải lúc nào cũng là người hét to nhất,
mà là người đã ở đó, quản lý thực sự và không rời đi.
