Hãy nhớ VAY GÌ THÌ VAY chứ đừng VAY NGHIỆP - giết người ĐỀN MẠNG - nhân quả CÔNG BẰNG

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Trên đời này, vay gì thì vay, chứ tuyệt đối đừng vay nghiệp.
Có những chuyện tưởng đã chìm vào quên láng, nhưng nhân quả chưa từng bỏ sót một ai.
Người gieo nhân lành sẽ đón phúc báo, kẻ gieo ác nghiệp sớm muộn cũng phải trả.
Câu chuyện hôm nay là minh chứng dợn người cho chân lý ấy.
Nơi mà tiền bạc, quyền thế cũng không thể cứu được một linh hồn chất đầy tội lỗi.
Vào thời Tống, có một trang tú tài tên Trúc Thuận, tuổi mới ngoài 20,
Hôm ấy, anh thuê thuyền xuôi dòng về Kinh, dự kỳ thi hương với lòng đầy háo hức.
Trời đã nhá nhem khi thuyền vừa cập bến huyện Lâm Thủy, một nơi sơn thủy hữu tỉnh, dân cư yên ả.
Nhưng lạ thay, khung cảnh chiều hôm ấy lại như nhuốm màu tịch liêu, u trầm đến khó tả.
Người lái đò là một ông láo, tuổi đã gần lục tuần, khuôn mặt xám nắng gió,
sau khi cho thuyền cập bến thì thong thả buộc nèo.
Ông vuốt tròm dâu lưa thưa rồi bảo.
Trúc công tử, đêm nay nghỉ lại đây, mai khi nước lớn, mới thuận dòng đi tiếp.
Lúc sáng sớm còn chút thời gian, nếu ngài muốn, có thể vào huyện ăn chút gì lót giả.
Mà này, trong huyện có ngôi chùa Kính Tử Viện, xưa nay linh ứng lạ kỳ.
Người cầu danh được danh, người cầu duyên được duyên.
Nghe nói Phật ở đó thiêng lắm.
Trúc Thuận nghe xong khẽ gật đầu, lòng nghĩ.
Cầu danh cầu lộp, ai chẳng mong, hạ cớ gì không thử.
Thế là sáng sớm hôm sau, khi xương còn lất phất trên mặt nước,
anh sửa sang lại y phục, dạo bước theo con đường lát đá tiến vào huyện.
Đường phố khi ấy hãy còn thưa người.
Ánh bình minh vừa le lói sau mái nhà ngói còng còng.
Vừa đến gần cổng chùa Kính Tử Viện, anh chợt thấy từ xa, một bóng người thoan thoát bước vào trước.
Đó là một phụ nữ, vẫn xiêm y màu trắng, nhẹ nhàng mà đoan trang.
Dáng người yếu điệu, bước đi uyển chuyển, trông chừng chỉ hơn 20 tuổi.
Mái tóc dài thắt gọn, không điểm trang son phấn, mà khí chất vẫn tỏa ra lạ thường.
Giờ này là giờ nào? Người đời còn chưa thức dậy, sao nàng ta lại đi chùa?
Trúc Thuận tự hỏi, lòng dấy lên một tia nghi hoặc.
Tuy vậy, sự tò mò mau chóng xâm chiếm lấy lý trí, khiến anh cất bước theo sau, lặng lẽ mà rè rặt.
Chùa Kính Tử Viện buổi sớm mờ sương vắng lặng như tờ.
Gió thoảng qua dặn trúc khiến chuông gió len cang lay động.
Cảnh vật tĩnh mịch đến độ có thể nghe rõ tiếng chân bước nhẹ trên lối đá.
Người phụ nữ áo trắng không hề ngoành lại, cũng chẳng ngập ngừng, cứ thế đi qua sân trước,
băng qua hàng tượng hộ pháp mà tiến thẳng vào đại hùng bảo điện.
Từng bước của nàng như đã quen thuộc lắm, không chút do dự.
Trúc Thuận lúc này càng lấy làm lạ.
Ánh mắt nàng trầm lặng mà kiên định.
Gương mặt tuy thanh tú nhưng ẩn hiện nỗi ưu tư sâu kín, khiến người khác chẳng dám xem thưởng.
Anh liền nhẹ chân bám theo, rón rén nép sau cột lớn bên ngoài điện chính, từ đó hé mắt quan sát.
Trong gian điện ưu tịch, hương trầm nghi ngút, ánh sáng từ những ngọn đèn dầu leo lét,
hắt bóng tượng Phật thêm phần thiêng liêng, ưu linh.
Bên trong, người phụ nữ đã quỳ gối, hai tay chắp lại, không thắp nhang,
cũng chẳng khấn thành lời, chỉ cúi đầu thật lâu không động đẩy.
Khung cảnh ấy như có điều gì đó nghẹn ngào không thể gọi tên.
Trúc Thuận nín thở, không dám động đẩy,
linh cảm rằng bản thân vừa vô tình bước vào một câu chuyện mà trời định phải chứng kiến.
Chỉ thấy người phụ nữ áo trắng bỗng quỳ sụp xuống nền đá lạnh,
hai tay ôm mặt khóc nghẹn ngào như dồn nén cả một đời oan trái.
Tiếng khóc bật ra từ lồng ngực tưởng chừng đã tan nát,
đau đến xé lòng, không một ai chứng kiến mà trời đất cũng phải lặng im.
Nàng ngầng đầu hướng về tượng Phật cao lớn, nước mắt giàn rụa, nghẹn ngào dâng khấn.
Thần Phật soi xét, con vốn là người đất kinh, xuất thân gia giáo, tề gia nội trợ không hề sai sót.
Năm đó nghe lời cha mẹ, theo chồng về huyện Lâm Thủy,
cách xa quê nhà, một lòng một dạ trăm lo hương hỏa,
hiếu thuận với bên chồng, chưa từng nửa lời oán than.
Nào ngờ năm ngoái chồng con tiền thủy, đỗ đạt bảng vàng,
được bổ nhiệm làm chi huyện xuyên khẩu.
Người đời, bảo đỗ đạt thì đổi vận, nhưng con đâu ngờ,
phú quý lại khiến người thay lòng đến thế.
Hắn chẳng đoái hoài gì đến mẹ con con,
lại lập tức cưới con gái nhà họ Phùng, phú hộ lớn nhất đất ấy.
Làm chính thất, còn sai người đem hư thư về phủ,
một tờ giấy lạnh lùng như chém đứt cả nhân luân đạo lý.
Từ đó đến nay, mẹ con con bị đuổi khỏi phủ,
phải tá túc nơi nhà trọ cũ, sống nhờ lòng thương của người quen.
Đứa nhỏ mới lên ba, thân thể yếu ớt,
bệnh tình tái phát giữa tiết đông giá lạnh.
Con chạy vậy khắp nơi, bán cả kỳ vật cưới xin,
vay tiền từ bà con thân thích để cứu lấy mạng sống của nó.
Nhưng ông trời như muốn ép người đến tận cùng,
thuốc thang chưa kịp ngấm, thì con bé đã không qua khỏi.
Và hôm trước, nó chút hơi thở cuối cùng trong vòng tay con,
gọi mẹ ơi, mà đôi mắt cứ mở trừng trừng không nhắm được.
Đào chưa kịp nguôi, thì bọn chủ nợ đã kéo đến đập cửa,
dọa nạt, ép con bán thân trả nợ.
Thân gái yếu mềm, đơn độc giữa trốn thị phi,
có muốn sống cũng chẳng còn cách nào.
Người thân không còn, bạn bè tránh mặt,
con thực sự đã cùng đường tận lối.
Cầu xin Ngài, nếu quả có Phật trên cao,
hãy thương con mà đưa con đi, cho con được gặp lại con bé.
Ở cõi này, con đã không còn lý do để tồn tại.
Nói đến đó, nàng đưa tay vào ngực áo,
rút ra một con dao găm mảnh,
ánh thép lạnh lấp láng dưới ngọn đen dầu.
Không trần trừ, nàng áp lưỡi dao vào cổ,
cắt một đường sâu hấm.
Máu phun da đỏ thẫm vạt áo trắng,
nàng đồ gục xuống trước tượng Phật,
thân thể co giật một chút rồi bất động.
Trúc Thuận đứng chết lặng phía sau cột,
mặt tái như tờ giấy.
Anh không kịp suy nghĩ,
chân dun lầy bầy bước đến gần,
quỳ xuống đưa tay áp vào mũi nảng.
Hơi thở đã tắt, cơ thể dần lạnh đi,
hồn phách như đã thoát khỏi sắc thân.
Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng,
Trúc Thuận cảm giác tim mình như bị ai bóp chặt.
Anh không biết làm sao, đầu óc hỗn loạn.
Giữa nơi thâm nghiêm vắng lặng,
sắc một người nữ chết thảm,
còn mình lại xuất hiện ngay lúc ấy.
Nếu để người khác phát hiện,
dù có trăm miệng cũng không thể phân trần.
Anh giật lùi, nhìn quanh một lượt,
rồi bất ngờ xoay người,
lao ra khỏi điện như kẻ trốn nạn.
Chân bước vội qua sân chùa,
gió sớm quất vào mặt như dao cắt,
lòng dối như tơ vỏ.
Vừa về đến bến,
Trúc Thuận đã hồn hền dục thuyền phu lập tức nhổ neo.
Ông láo nhìn sắc mặt trắng bạch của anh,
cũng không dám hỏi nhiều,
liền gỡ dây buộc,
trèo thuyền rời bến.
Gió thổi lồng lộng trên mặt nước,
sóng khẽ vỗ mạn thuyền.
Trong khoang, Trúc Thuận ngồi bất động,
sắc mặt nhợt nhạt,
ánh mắt vô hồn.
Tiếng khóc, giọng khấn,
cả dòng máu đỏ tươi nơi cầu người phụ nữ
như vẫn còn hiện gió mồn một trong trí ốc.
Mỗi khi nhắm mắt,
hình ảnh ấy lại hiện lên,
đè nặng trong lòng như khối đá.
Không chịu nổi sự đè nén ấy,
anh bước lên đầu thuyền,
cúi mặt,
hít sâu từng luồng gió sớm,
như muốn xua đi bóng ma trong lòng.
Nhưng càng hít,
ngược lại càng nặng.
Giữa màn xương dày đặc phủ kín mặt sông,
khi ánh bình minh còn chưa kịp soi gió mọi vật,
một bóng trắng bất ngờ hiện ra ngay trước mũi thuyền.
Trúc Thuận nheo mắt nhìn,
toàn thân lạnh toát như bị kim châm.
Người đứng kia,
tóc buồn xóa ngang vai,
áo trắng bay nhẹ trong gió,
chân không chạm nước mà lại lơ lừng giữa dòng.
Không ai khác,
chính là người phụ nữ đã tự vấn trong chùa.
Đôi mắt nàng trũng sâu,
không còn thần sắc,
đôi môi khép hở,
sắc mặt trắng nhợt như được vẽ bằng sáp.
Nàng cứ đứng đó,
không nói không rằng,
chỉ nhìn thẳng về phía anh,
Một tiếng động như sấm vang lên trong tâm trí,
Trúc Thuận hoảng hốt hết lớn,
toàn thân run lẩy bẩy.
Chân mềm nhũng không đứng vững,
thân hình ngả nghiêng rồi rơi thẳng xuống sông,
tạo thành một tiếng ùm vang vọng khắp bờ bến.
Thuyền phu ngồi phía sau giật mình,
lập tức ném mái trèo,
nhảy ùm theo.
May thay ông là người sông nước,
đôi tay rắn giỏi,
chưa đầy vài nhịp,
đã kéo được Trúc Thuận lên thuyền.
Quần áo ướt sũng,
môi tím tái,
miệng anh không ngừng lắp bắp
gọi tên người phụ nữ vừa thấy,
mặt mày thất sắc,
như người vừa từ âm phủ trở về.
Hai ngày sau,
thuyền cập bến huyện Xuyên Khẩu.
Dù trời nắng nhẹ,
gió mát hiu hiu,
nhưng trong lòng Trúc Thuận
lại như có một tảng đá lớn đè nặng,
thở không thông.
Từ lúc đặt chân lên bến,
tâm trí anh cứ quẩn quanh hình ảnh
người phụ nữ áo trắng máu me đầm đìa
và cả ánh mắt tuyệt vọng ấy.
Lời nàng khấn trước tượng phận
vẫn như vọng lại bên tai,
từng chữ,
từng tiếng,
như khắc sâu vào tim.
Anh biết rõ,
người đàn ông mà nàng nhắc đến,
kẻ phụ tình bội nghĩa ấy,
chính là vị quan đang cai trị nơi đây,
Tiền Thủy.
Cái tên ấy,
chỉ nghe thôi cũng khiến lòng anh
sôi lên một trận phẫn nộ.
Danh vọng,
địa vị,
công danh,
rốt cuộc đáng giá bao nhiêu
để một kẻ có thể chối bỏ vợ con,
dẫm đạp lên đạo nghĩa phu thê,
đẩy người khác đến bước đường cùng.
Trúc Thuận nghĩ,
nếu mình cứ im lặng mà đi,
chẳng khác nào đồng lõa với tội ác.
Hơn nữa,
mỗi lần nhắm mắt lại
là gương mặt trắng bạch của nàng
lại hiện ra.
Nỗi ân hận này
sẽ không buông tha anh cả đời.
Nghĩ vậy,
anh xiết chặt tay,
hít sâu một hơi,
rồi dứt khoát
bước về hướng công đường.
Cổng lớn của huyện nhà
sừng sững trước mặt,
hai tên lính
canh tay cầm trường thương,
ánh mắt sắc lạnh
nhìn người lạ mặt tiến tới.
Một tên bước ra,
chẳng ngang đường.
Ngươi là ai?
Đến đây làm gì?
Trúc Thuận không né tránh,
nhìn thẳng vào mắt họ,
nói dứt khoát.
Hãy vào bầm với tiền đại nhân.
Ta từ huyện Lâm Thủy đến,
mang theo tin liên quan
đến tiền thê của ông ấy.
Chuyện không thể chậm trễ,
liên quan đến cả mạng người,
ta nhất định phải trực tiếp
gặp ông ta.
Nghe đến chuyện liên quan
đến mạng người,
tên lính gác
lập tức đổi sắc mặt,
không dám chậm trễ,
quay người chạy vào trong nhà môn,
miệng không ngừng hô lớn báo tin.
Bầu không khí vốn nghiêm trang
lập tức sao động.
Chẳng bao lâu sau,
từ trong đại sảnh,
một người đàn ông mặc công phục,
mặt trắng bạch như tờ giấy,
hấp tấp lao ra.
Kẻ đó chính là tiền thủy,
quan chi huyện đương nhiệm Xuên Khẩu.
Nhìn thấy Trúc Thuận đứng trước cổng,
hắn chưa hỏi kỹ đã lên tiếng,
giọng run run như người vừa nghe
phải hung tin.
Trúc Thuận không đáp vội,
anh nhìn thẳng vào đôi mắt
đang trốn tránh kia,
giọng trầm hẳn xuống,
từng chữ như lưỡi dao đâm thẳng
vào tâm can kẻ đối diện.
Tiền thủy khực người,
hơi thở nghẹn lại nơi cổ hỏng.
Khuôn mặt hắn thoát cái
như mất hết huyết sắc,
chân tay run dày,
sắc mặt lộ rõ vẻ kinh hoàng cực độ.
Hắn đưa mắt nhìn quanh bốn phía,
như sợ có người nghe thấy.
Lập tức hắn bước đến,
nắm lấy cánh tay Trúc Thuận.
Hạ giọng rục,
chuyện này tuyệt đối không thể nói ở đây,
theo ta.
Không đợi đối phương phản ứng,
hắn kéo Trúc Thuận rời khỏi nhà môn,
lặng lẽ đưa thẳng đến
một quán trà nhỏ gần đó.
Gian trà được bố trí riêng biệt phía sau,
ba mặt là vách gỗ,
một mặt nhìn ra vườn trúc,
hoàn toàn tách biệt với bên ngoài,
hiện nhiên là nơi chuyên dùng
để tiếp truyện kín đáo.
Tiền thủy đóng chặt cửa,
hạ dèm tre,
sau đó mới ngồi xuống ghế,
ánh mắt loang loáng bất an.
Hắn liếc nhìn Trúc Thuận,
giọng khẩn thiết, pha lẫn lo sợ.
Người nói đi.
Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?
Nàng ấy chết như thế nào?
Trúc Thuận không đáp ngay.
Anh ngồi thẳng lưng,
hít một hơi thật sâu
để giữ vững tâm trí,
rồi từ tốn kể lại toàn bộ sự việc.
Từ lúc thấy người phụ nữ áo trắng
một mình bước vào kính tử viện
trong buổi sáng sớm mờ sương,
đến ánh mắt đau khổ
khi nàng quỳ trước tượng Phật,
lời nàng khấn kể về cuộc đời bị ruồng bỏ,
nợ nần trồng chất,
rồi hành động tuyệt mệnh,
rút dao tự vẫn,
máu trào nhuộm đỏ cả nền điện.
Từng chi tiết được anh kể lại
không sót một chữ,
không che giấu một tình tiết.
Mỗi lời nói văng lên
như vết cứa vào lòng người
đang ngồi đối diện.
Tiền thụy nghe đến đâu?
Mặt mày tái mét đến đó.
Chán hắn túa mồ hôi lạnh,
từng giọt nhỏ xuống cổ áo,
ướt đậm lưng.
Đôi môi mấp máy muốn cắt lời,
nhưng lại không thể.
Cổ họng nghẹn lại,
toàn thân không ngừng run nhẹ.
Ánh mắt vô hồn, lầm bầm.
Không lạ, không lạ chút nào.
Ngón tay hắn run dày, vút nhẹ chán.
Ánh mắt hoang mang nhìn ra
vườn trúc phía sau tấm dèm,
giọng nói mỗi lúc một nhỏ,
như đang đọc thoại với chính mình.
Hai hôm nay trong phủ có điều quái lạ.
Từ khi rước tân nương vào cửa,
trong nhà không lúc nào yên ổn.
Đêm nào nàng ta cũng mộng mị kêu khóc,
bảo thấy một nữ nhân áo trắng,
tóc dũ che mặt,
ngồi trước gương chạy đầu,
mặt đầy máu,
cười không cười, khóc không khóc.
Mỗi lần tỉnh dậy là lạnh toát mồ hôi,
nói trong mơ nghe tiếng ai gọi.
Tiền thủy, ngươi còn nhớ lời thề không?
Nàng bị kinh hoàng đến tột độ,
thần trí hoang mang,
nói năng mê sảng, không thành cầu.
Đôi mắt mở to trừng trừng
như nhìn thấy thứ gì đó không thuộc về nhân gian,
miệng lầm bầm gọi tên ai đó không ngừng.
Những người hầu trong phủ không ai dám tới gần,
bởi chỉ cần vừa bước qua bậu cửa phòng
là từng cơn gió lạnh thốc vào mặt,
tựa như có oán khí ngưng đọng quanh nàng,
giít qua từng kẽ lá,
từng mảnh dèm trướng,
lạnh bút đến tận tim gan.
Mà nơi thư phòng của ta không hiểu từ khi nào,
đêm nào cũng vang vọng những âm thanh
khiến người nghe rựng tóc gái.
Tiếng khóc ấy không giống tiếng người sống,
cũng không như tiếng mèo chu hay cú rút.
Nó mỏng, dai dặn,
dai rứt như tiếng kêu oan tích tụ từ kiếp trước,
gọi mãi không được trả lời.
Khi ta chăm chú lắng nghe,
trong từng tiếng khóc đó,
lại ẩn hiện rõ ràng một cái tên,
tên của ta.
Tiền Thụy.
Ngươi hại ta khổ sở đến thế này,
mau trả lại công bằng cho ta.
Ban đầu, ta tưởng là do hư ảnh sinh ra từ giấc mơ.
Nhưng rồi, đêm nào cũng vậy.
Cho dù đổi chỗ ngủ, dọn dẹp,
lập đàn cúng bái hay cầu thầy chấn trạch,
thì những âm thanh ai oán ấy vẫn không rứt.
Ta từng phải người đi khắp phủ cha xét,
nhưng không ai thấy gì,
cũng không tìm được dấu vết nào lạ thường.
Tất cả mọi người chỉ đáp lại ta
bằng ánh mắt sợ sệt và im lặng.
Đến giờ phút này, ta mới ngộ ra.
Thì ra,
là Nàng.
Không phải ai xa lạ,
không phải oán linh lang thang nào,
mà chính là Nàng,
người từng là thê tử đầu tiên của ta,
người mà ta đã từng cầm tay thề ước,
từng hứa hẹn cả đời không phụ.
Toàn thân ta trật run dày
như bị gió âm thổi qua tận cốt tủy.
Trong đầu hiện lên từng đoạn ký ức
mà ta những tưởng đã bị thời gian trôn vùi.
Khi nói đến đây,
ta chẳng giấu được nữa,
chỉ biết ôm đầu,
miệng lắp bắp không nên lời,
như vừa chạm vào một hồi ức ghê rợn
đến mức hồn vía tan tác.
Xong rồi,
lần này thì xong thật rồi.
Ta chỉ e,
mạng này khó giữ.
Trúc Thuận ở đối diện
vẫn chưa hiểu đầu đuôi,
chỉ nhìn ta chầm chầm,
ánh mắt lộ rõ vẻ kinh hãi.
Hắn vừa định mở lời,
thì ta đã dơ tay ngăn lại,
nuốt khan một ngụm nước bọt,
cổ họng khô khốc
như vừa nuốt phải cho tàn.
Rồi cất giọng khàn đặc,
kể lại chuyện cũ năm xưa,
một đoạn nhân quả
mà giờ đây ta mới thấm thiế
từng chữ từng lời.
Trúc Công Tử,
chuyện ta sắp kể
tuyệt đối không phải bịa đặt.
Năm ấy,
đêm tân hôn,
nàng nắm tay ta,
đôi mắt rưng rưng mà rực cháy,
nói rằng,
Tướng Công,
thiếp không màng phản đối
từ phụ máu,
từ bỏ hào hoa phố thị trốn kinh sư,
một thân một mình theo chàng
về nơi sơn giã lâm thủy này.
Dù không người thân,
không trốn giữa,
nhưng thiếp tin
chỉ cần cho chàng,
tất cả đều đáng giá.
Mong chàng cả đời đối tốt với thiếp
như lời đã hứa trước hôn đường.
Ta lúc ấy,
mặt mày hớn hở,
rượu tân hôn chưa phai,
liền cười sảng khoái,
nói rằng,
Nàng yên tâm,
chỉ cần ta còn sống,
nhất định sẽ không để nàng chịu
một chút ủy khuất nào.
Nhưng nàng không cười theo,
trái lại đột nhiên trở nên nghiêm nghỉ.
Ánh mắt sắc như lưỡi dao,
nhìn thẳng vào ta
như muốn khắc sâu từng chữ.
Tiền thủy,
chàng hãy nhớ kĩ,
nếu một ngày chàng thay lòng đổi giả,
phản bội tình nghĩa vợ chồng,
thì cho dù thiếp có chết,
cũng sẽ không để chàng yên thân.
Thiếp sẽ hóa thành lệ quỷ,
đeo bám chàng đến cùng,
quyết không buông tha.
Nói rồi,
nàng phá lên cười,
bảo là đùa giỡn để dọa ta.
Nhưng cái cười đó,
bây giờ hồi tưởng lại,
nó không còn là tiếng cười đùa nữa,
mà là tiếng cười như thế nàng đã nhìn thấy
trước vận mệnh của chính mình
và cái kết của kẻ phản bội.
Lúc ấy,
ta đâu có để tâm,
tưởng nàng chỉ yếu lòng nên sinh nghi.
Ai ngờ,
một câu nói trong đêm động phòng
lại trở thành lời nguyên vận mệnh.
Nay nhớ lại,
từng lời như dao nhọn đâm ngược vào tim ta,
lạnh lẽo,
bút giá,
không cách nào xua tan.
Ta đưa mắt nhìn quanh,
mỗi góc phòng,
mỗi bóng tối
đều khiến ta thấy lạnh sống lưng.
Dèm cửa khẽ lay động,
ta liền giật mình,
như thể có ánh mắt ai đó
đang nhìn ta từ nơi khuất bóng.
Ánh nhìn ấy,
không còn là sự oán hận,
mà là tiếng phán xét từ cõi âm,
là báo ứng không thể tránh khỏi
của kẻ bất tín bất nghĩa.
Tay ta run lầy bầy,
định rót chén trà để trấn tĩnh,
nhưng vừa chạm tay vào tách,
thì choang một tiếng,
sứ trắng vỡ tan.
Nước trà nóng văng ra,
nhưng không kịp cảm thấy bỏng giát,
bởi lòng ta đã lạnh ngắt từ lâu.
Không còn dám ngồi lại thêm dây nào.
Ta vùng dậy,
như chạy trốn lưỡi hái của tử thần.
Không quay đầu,
lao thẳng ra khỏi quán,
chạy điên dại trong đêm,
hướng về huyện nha.
Như thế nơi đó,
còn có chút ánh sáng cuối cùng
để nương náo.
Vừa mới bước chân qua ngạch ngạch cửa hậu viện,
tiền thụy còn chưa kịp định thần,
thì từ xa đã thấy quản gia thất thẻo lao đến.
Mặt mũi ông ta trắng bệch như tờ giấy,
toàn thân run lầy bầy,
Láo,
láo ra,
không, không ổn rồi.
Tiền thụy trao mày,
lòng dâng lên linh cảm,
chẳng lành.
Chưa kịp hỏi gì,
quản gia đã nghẹn ngào bật ra một câu
như xét đánh giữa trời quàng.
Phu,
phu nhân,
bá ấy,
đang đi dạo trong vườn,
chẳng hiểu vì sao lại phát điên như chúng ta.
Đột nhiên,
hét lớn một tiếng,
rồi lao thẳng đầu vào tảng đá núi dạ Thái Hổ.
Máu tuôn sối xả,
đầu vỡ toác,
chết ngay tại chỗ,
không kịp trăn trối một lời.
Lời còn văng vẳng trong không khí,
tiền thụy toàn thân
như bị đè sụp dưới một ngọn núi đá.
Sắc mặt hắn xám huét,
hai mắt trợn ngược,
từng giọt mồ hôi lạnh túa ra đầy chán.
Miệng hắn mây móc lặp lại,
không rõ là đang nói cho ai nghe,
hay chỉ để tự chân an.
Báo ứng,
đây là báo ứng,
là báo ứng thật rồi.
Chưa kịp dứt câu,
cổ họng hắn nghẹn lại,
một ngụm máu đen kịt như mực tàu phun ra,
loang đỏ cả vạt áo trước ngực.
Tiền thụy gặp người xuống,
run lên bần bật như trúng gió độc,
rồi đổ sầm xuống nền gạch lạnh băng.
Cả thân thể co giật liên hồi
như con cá bị vớt khỏi nước,
một lúc sau thì nằm bất động,
không còn hơi thở.
Có người nói,
vào năm Kiền Đạo Nguyên Niên,
đời Nam Tống,
nơi huyện Lâm Thủy
từng xảy ra một câu chuyện
dúng động lòng người,
máu lạnh như vậy.
Còn thực hư ra sao,
chẳng ai dám khẳng định.
Chỉ biết rằng,
từ đó về sau,
nơi cư ngụ của dòng họ tiền
trở nên hoang phế,
đêm đêm văng vẳng tiếng khóc than,
khiến kẻ qua đường
không dám ngoái đầu nhìn lại.
Người dân quanh vùng
vẫn âm thầm chuyển tay nhau
như một lời nhắc nhở nghiệt ngã,
đừng gieo nhân tàn nhẫn,
kẹo gặp quả tuyệt đường.
Trong cõi nhân gian,
có những tội lỗi
tưởng như trôn giấu được mãi mãi,
nhưng rồi trời xanh
vẫn âm thầm ghi sổ.
Tiền Thụy sống trong nhung lụa,
nhưng đời hắn
lại chất đầy máu
và nước mắt của kẻ khác.
Tưởng rằng dùng tiền mua chuộc,
che đậy mọi việc là xong.
Tưởng rằng cúng bái vài bàn thờ,
xây vài ngôi chùa
là có thể lừa được quỷ thần.
Nhưng luật nhân quả
không nể một ai.
Phật dạy,
muốn biết nhân đời trước,
hãy xem quả đời này.
Muốn biết quả đời sau,
hãy xem nhân đời này.
Tiền Thụy gieo ác nghiệp từ trước,
đến khi báo ứng ráng xuống,
thì vợ chết thảm,
vợ bản thân thổ huyết mà chết.
Có ai cứu được?
Không.
Có ai thay được?
Cũng không.
Vì nghiệp ai nấy gánh,
quả ai nấy nhận.
Câu chuyện này
không đơn thuần chỉ để dùng mình,
mà là lời cảnh tỉnh sâu sắc.
Đừng vì một chút lợi
mà dẫm đạp người khác.
Đừng nghĩ có tiền
là có thể đổi trắng thay đen.
Và đừng bao giờ xem thường luật nhân quả,
vì nó đến âm thầm,
nhưng chuẩn xác vô cùng.
Nếu câu chuyện này
khiến bạn ngẫm lại
điều gì đó trong đời mình,
hãy chia sẻ
để lan tỏa bài học nhân sinh.
Đừng quên bấm like,
đăng ký kênh
và bật chuông thông báo
để không bỏ lỡ
những câu chuyện sâu sắc hơn nữa
về nhân quả,
phật pháp,
đạo lý,
làm người.
Cảm ơn bạn đã lắng nghe.
Chúc bạn luôn sống thiện lành
để gắt quả phút về sau.
