Quả Báo Sát Sinh Đến Ngay Trong Đời | Chuyện Nhân Quả - Chuyện Làng Xưa

Sống thuận tự nhiên
442 người theo dõi
Ở Trấn Phúc Dương Ven Sông năm ấy, nhắc đến nghề nấu rượu,
hầu như không ai không biết tên Lương Hữu Tải.
Ông ta ngoài 40, thân hình rắn giỏi, đôi bàn tay thô giáp nhưng cực kỳ khéo léo.
Gạo qua tay ông ủ thành men thơm, nước qua tay ông trưng thành rượu trong,
vừa mở nắp chum đã nghe hương lan khắp sân.
Từ quán nhỏ ngoài chợ đến các nhà phú hộ trong vùng,
ai có việc lớn, ai cần mẻ rượu ngon để đãi khách, đều tìm đến Hữu Tải trước tiên.
Nhờ cái nghề ấy, nhà ông chẳng thiếu thứ gì.
Sân gạch luôn kín chum sành, bếp lò quanh năm đỏ lửa,
vợ chồng sống dư giả hơn nhiều người trong Trấn.
Nhưng cái tiếng của Lương Hữu Tải không chỉ nằm ở tài nghề,
mà còn ở một thói quen khiến người nghe phải dợ lỏng.
Ông ta rất thích ăn gà vịt, lại tin rằng muốn thịt ngon, da vàng,
thì không nên giết ngay như người thường.
Mỗi khi bắt con nào làm thịt, ông thường tự tay trói cánh,
nhấc bồng lên rồi dội thẳng nước sôi vào khi nó còn đang sống.
Tiếng gà rãy, tiếng vịt kêu thất thanh vang lên giữa sân,
vậy mà Hữu Tải vẫn tỉnh bơ, thậm chí còn nhếch môi cười.
Cho đó là cách làm sạch sẽ, nhanh gọn, thịt lại thơm ngọt hơn.
Lâu ngày, cảnh tượng ấy trở thành chuyện quen mắt trong nhà,
đến lũ trẻ con hàng xóm đi ngang cũng vừa sợ vừa tránh.
Vợ ông là mạnh thị, nhiều lần không nỡ nhìn.
Nhỏ nhẹ khuyên rằng, làm thịt đã là sát sinh,
hà tất còn khiến sinh linh phải chịu đau đớn đến vậy.
Nhưng Hữu Tải chỉ phẩy tay, cho lời vợ là đàn bà mềm lòng,
không hiểu chuyện làm ăn.
Ông vẫn ngày ngày nấu rượu, ngày ngày sát sinh,
xem tiếng kêu thảm thiết của loài vật như gió thoảng ngoài tai.
Ông đâu biết rằng, từng gáo nước sôi mình dội xuống thân những con vật bé nhỏ ấy,
chẳng phải chỉ làm chín ra mềm thịt,
mà còn đang âm thầm hun nóng một món nợ rất lớn của chính đời mình.
Đúng vào lúc ấy, một người hầu từ Chu Gia Trang tìm đến,
mời Lương Hữu Tải sang nấu một mẻ rượu lớn cho tiệc trọng sự.
Hữu Tải nghe xong mừng ra mặt, lập tức nhận lời,
không hề hay biết chuyến đi sắp tới sẽ mở đầu cho tai hỏa kinh hoàng nhất trong đời ông.
Trước khi bước tiếp vào chuyến đi định mệnh của Lương Hữu Tải,
nếu quý vị yêu những câu chuyện nhân quả thấm thiế,
xin hãy đăng ký kênh Chuyện Làng Xưa
để không bỏ lỡ những bài học đời người sâu sắc phía sau mỗi số phận.
Sáng hôm sau, Lương Hữu Tải sửa soạn đồ nghề rồi rời Trấn Phúc Dương từ khá sớm.
Con đường đến Chu Gia Trang phải men theo bờ sông,
vượt qua một đoạn dốc đất đỏ rồi mới sang cánh đồng lớn ở phía tầy.
Bình thường quãng đường ấy chẳng có gì đáng ngại,
nhưng hôm đó không hiểu sao cảnh vật lại mang một vẻ lặng lẽ khắc thưởng.
Trời vẫn sáng mà nắng không tươi,
gió vẫn thổi mà hơi lạnh cứ len qua cổ áo,
khiến người vốn gan lì như Hữu Tải cũng đôi lần phải ngoái đầu nhìn lại.
Đi đến gần dốc Thanh Vân,
ông bỗng thấy phía trước có một vệt sáng đỏ nhạt lập lòe sau đám cỏ khô.
Khi hiện, khi mất như đốm lửa nhỏ đang cháy giữa ban ngày.
Hữu Tải khựng chân, nhau mắt nhìn kỹ,
thì ánh đỏ ấy lại tan đi rất nhanh,
chỉ còn mấy làn khói mỏng bằng lạng ngay gần ngôi miễu cũ.
Ông thoáng thấy trong lòng bất an,
nhưng rồi tự nhủ chắc ai đó đốt cỏ ven đường, không việc gì phải để ý.
Nghĩ vậy, ông lại bước tiếp,
chỉ là nhịp chân đã chậm hơn lúc đầu.
Khi đến góc hòa giả bên cạnh miễu hoang,
Hữu Tải nhìn thấy một người đàn ông ngồi nép dưới rễ cây.
Người ấy mặc áo vài bạc màu,
tay ôm đầu gối, ráng vẻ mỏi mệt như đã đi đường rất lâu.
Nghe có tiếng chân đến gần, ông ta mới ngẩn lên.
Gương mặt xanh sao, gầy gò, nhưng đôi mắt lại sáng và tĩnh đến lạ.
Người ấy chắp tay chào, nói,
Mình tên là Đào Cảnh An,
từ phương xa tới, dọc đường hết tiền,
nên từ chiều qua tới giờ chưa có gì vào bụng.
Ông ta đã gõ cửa mấy quán ven đường xin bát cơm nguội,
nhưng ai nấy đều đuổi đi,
chỉ còn biết ngồi đây, chờ qua cơn đói.
Lương Hữu Tải vốn không phải người hay thương xót ai,
nhưng chẳng hiểu vì cái vẻ điềm đạm của người khách lạ,
hay vì cảm giác nặng lòng từ lúc thấy vệt lửa đỏ ban nãy,
mà ông bỗng động lòng chắc ẩn.
Ông nhìn quanh, thấy trời cũng đã ngả chiều.
Phía trước còn một quán nữa mới tới nơi có quán trỏ,
bèn cất tiếng bảo, nếu không chê thì đi cùng ông,
vào quán gần đầu chợ ăn bữa cơm nóng,
rồi nghỉ tạm một đêm, sáng mai ai đi đường nấy.
Đào Cảnh An nghe vậy liền đứng dậy,
cuối đầu cảm tạ,
nhưng không tỏ vẻ mừng cuốn quyết như người được giúp bình thường.
Ông ta chỉ đáp bằng giọng rất trầm rằng ở đời,
một bát cơm lúc đói và một chỗ ngả lưng lúc lỡ đường
là thứ ân tình khó quên nhất.
Tối ấy, hai người cùng vào quán trỏ nhỏ ngoài rìa làng.
Hữu Tài gọi thêm rượu và ít thức ăn,
trong lòng cũng có chút đắc ý,
vì thấy mình làm được việc tốt.
Qua bữa cơm, ông quen miệng khoe nghề,
kể rằng bao năm nay nhờ Tài nấu rượu,
mà đi đến đâu cũng được trọng vọng,
nhà giàu người sang ai cũng phải mời.
Đào Cảnh An lặng lẽ nghe,
thỉnh thoảng chỉ hỏi vài câu rất lạ,
như thế không quan tâm đến tiền bạc
mà muốn dò xem lòng người trước mặt.
Ông hỏi Hữu Tài có từng nghĩ ngoài cái Tài trong tay ra,
con người còn phải giữ điều gì để bình an hay không?
Hữu Tài nghe xong bật cười,
nói đời này chỉ cần nghe giỏi, làm ra tiền,
còn lại đều là chuyện viện vong.
Người khác sợ hỏa phúc,
ông chỉ tin vào đôi tay mình và ngọn lửa trong lò rượu.
Đào Cảnh An không tranh cái.
Ông chỉ nhìn Hữu Tài thật lâu rồi,
khẽ bảo có những thứ con người tưởng đã quên,
nhưng trời đất thì không quên.
Có những việc làm nhiều đến mức thành thói quen,
tưởng là thường tình,
song thật ra từng chút một đều đang để lại dấu vết.
Lương Hữu Tài nghe câu ấy,
bỗng thấy trong ngực hơi trộn rộn,
nhưng vẫn gạt đi,
cho rằng người nghèo hay nói chuyện mơ hồ để tỏ ra sâu sắc.
Ông cạn chén rượu, cười lớn cho qua chuyện.
Đêm xuống,
tiếng gió ngoài sân quán trọ thổi qua mái lá phát ra âm thanh zin-zit nghe là lạ.
Trước khi về phòng nghỉ,
Đào Cảnh An chỉ nói thêm một câu rất nhẹ,
rằng ngày mai nếu trên đường gặp chuyện khác thường,
thì nhất định đừng coi thường dấu hiệu.
Lương Hữu Tài nghe mà chỉ ấm ừ cho xong.
Nào ngờ lời dặn tưởng như vu vơ ấy,
lại chính là cánh cửa cuối cùng trời đất mở ra,
để cứu ông khỏi một tai họa đang lặng lẽ tiến gần từng bước.
Sáng hôm sau, khi trời vừa hừng,
Lương Hữu Tài thức dậy chuẩn bị lên đường.
Quán trọ còn vắng,
chỉ nghe tiếng trổi tre quét sân
và tiếng gà gái vọng từ cuối xóm sang.
Đào Cảnh An đã ngồi chờ sẵn ngoài hiên,
vẻ mặt điềm tĩnh,
như thế cả đêm, không hề chập mắt.
Thấy Hữu Tài gói ghém đồ nghề song xuôi,
ông chậm rái thỏ tay vào trong tay áo,
lấy ra một vật nhỏ đặt lên bàn.
Đó là một viên thuốc màu tím sẫm,
tròn như hạt nhãn,
bề mặt ánh lên sắc mờ mờ dưới nắng sớm,
trông vừa bình thường,
lại vừa có gì khó gọi thành lời.
Đào Cảnh An đẩy viên thuốc về phía Hữu Tài,
rồi nói bằng giọng rất ôn hòa rằng,
đường hôm nay của ông không yên,
vật này xin cứ giữ trong người.
Biết đâu đến lúc nguy cấp,
lại giúp tránh được một phen nước sôi lửa bỏng.
Ông còn dặn thêm rằng,
thứ này không quý ở hình dạng,
mà quý ở chỗ người cầm nó,
có còn giữ được một niệm thương sinh hay không.
Chỉ cần đừng xem thường,
Nói xong, Cảnh An chỉ mỉm cười,
không giải thích thêm một lời nào nữa.
Lương Hữu Tài ngoài mặt vẫn tỏ ra khách sáo,
đưa tay nhận lấy viên thuốc và gật đầu cảm ơn.
Nhưng trong lòng ông đã ngầm co nhẹ,
một kẻ áo vải sắc sơ,
ăn còn nhờ người khác bố thí,
thì làm sao có thể đưa ra vật gì thật sự cứu mạng.
Ông chỉ cho rằng,
đó là chút bùa thuốc dân gian của kẻ lang bạc,
giữ hay không cũng chẳng quan trọng.
Dẫu vậy, vì nề tình bữa nói chuyện tối qua,
Hữu Tài vẫn bỏ viên thuốc vào túi áo rồi rời quán.
Ra khỏi đầu làng được một quán,
trời sáng hẳn,
đường cũng rộng hơn,
lòng tự đắc trong Hữu Tài lại dần trở về.
Ông nghĩ đến món tiền công hậu hĩnh ở Chu Gia Trang,
nghĩ đến cảnh được người ta kính nể mời ngồi chỗ trên,
liền thấy mấy chuyện lạ dọc đường tối qua chẳng còn đáng bận tâm nữa.
Đi thêm mấy bước,
tay chạm phải viên thuốc trong túi áo,
ông bỗng bật cười khẩy.
Đến lúc ấy,
cái tính ngạo mạn quen thuộc lại nổi lên.
Ông lầm bầm rằng mình sống bằng tay nghề thật,
có tai nạn thì nhờ người cứu,
chứ trông chờ gì vào một hòn thuốc không rõ gốc tích.
Nghĩ đoạn, Hữu Tài nhìn quanh không thấy ai để ý.
Liền móc viên thuốc tím ra,
tiện tay ném mạnh xuống bãi cỏ ven đường.
Nhưng vật ấy vừa chạm đất,
thì điều kỳ dị liền xảy ra.
Một ánh tím nhói lên giữa đám cỏ xanh,
không bắn tung như đá sỏi,
mà bật phát lên giữa không trùng.
Chỉ trong khoảnh khắc,
viên thuốc nhỏ ấy khóa thành một con chim bé bằng bàn tay,
lông xanh biếc như nhuộm nước trời,
đôi cánh mỏng rung lên dưới nắng sớm.
Con chim không bay mất ngay,
mà đậu trên nhành cây thấp cảnh đường,
ngầng cổ kêu mấy tiếng dài.
Âm thanh não nể, ai oán,
nghe như tiếng than chách,
cũng như tiếng thương xót
cho một kẻ tự tay quăng phúc khỏi người.
Lương Hữu Tài đứng chết lặng.
Sắc mặt ông thoát cái tái đi,
bàn tay đang nắm quay gánh,
cũng buông lỏng.
Ông chưa từng chứng kiến chuyện nào như thế.
Con chim xanh nghiêng đầu nhìn ông đúng một thoáng,
ánh mắt nhỏ mà lạnh,
khiến sống lưng ông nổi gai.
Đến khi ông sực tỉnh,
vội bước tới định chụp lại,
thì con chim đã vỗ cánh bay vút lên cao,
lượn một vòng,
rồi lao thẳng về phía ngôi miếu cũ,
sau dốc thanh vân,
chỉ để lại trong không khí mấy tiếng
kêu thảm buồn kéo dài không dứt.
Từ giây phút ấy,
trong lòng hữu tài không còn yên nữa.
Ông chợt nhớ đến ánh mắt của đào cảnh an,
nhớ đến lời dặn chớ coi thường dấu hiệu,
lại nhớ cả vẹt lửa đỏ mờ ảo
mình từng nhìn thấy chiều hôm trước.
Một nỗi hối hận lặng lẽ trào lên.
Ông thậm chí còn quay đầu nhìn lại con đường đã đi,
như muốn trở về quán trọ hỏi cho ra lẽ.
Nhưng rồi bản tính cố chấp lại kéo ông đứng yên.
Ông tự nhủ,
có lẽ mình đi đường mệt nên nhìn lầm,
hoặc đó chỉ là chuyện quái dị ngẫu nhiên,
chứ chưa chắc liên quan đến mình.
Người như hữu tài,
quen tin vào tay mình hơn tin vào trời đất,
đến lúc thấy điểm lạ,
vẫn chỉ muốn kiếm lời lẽ để tự chân an.
Vì thế, sau một hồi do dự,
ông vẫn xiết lại quay gánh,
cắm cúi đi tiếp về phía chu da tràng.
Chỉ có điều,
từ đó trở đi,
mỗi bước chân của ông dường như đều nặng hơn lúc trước.
Và trong những khoảng lặng bất chợt của con đường vắng,
bên tai ông vẫn văng vẳng tiếng chim xanh kêu ai oán,
như một lời báo trước rằng cơ hội cuối cùng để tránh nạn.
Ông vừa chính tay ném mất rồi.
Đến gần trưa,
lưng hữu tài cũng tới chu da tràng.
Nhà họ chu quả nhiên giàu có bậc nhất một vùng,
cổng lớn sơn đen,
sân rộng lát đá,
người làm ra vào không ngớt.
Vừa thấy hữu tài đến,
chu viên ngoại đã đích thân sai người đón vào hậu viện,
nơi dựng riêng khu nấu rượu cho tiệc lớn sắp mở.
Gạo ngon,
chum sạch,
men cũ,
củi khô,
thứ gì cũng chuẩn bị đầy đủ.
Nhìn cảnh ấy,
lòng hữu tài vốn đang nặng nề bỗng nhẹ đi đôi chút.
Ông nghĩ bụng mình vẫn là người được trọng vọng,
chỉ cần làm xong mẻ rượu này,
nhận tiền công rồi về,
mọi chuyện lạ dọc đường tự khắc,
cũng tan như mây khói.
Bắt tay vào việc,
hữu tài nhanh chóng lấy lại dáng vẻ lão luyện thường ngày.
Ông mở nắp chum,
người men,
thử nước,
sai người nhóm lửa vừa đổ,
giọng nói đâu ra đấy khiến đám gia nhân nhà họ chu,
ai nấy đều nề phục.
Chẳng mấy chốc,
khu nấu rượu đã đỏ lửa,
hơi nóng hầm hập tỏa ra khắp gian bếp lớn.
Những thùng gỗ to đặt cảnh lò,
nước trong nồi đồng sủi lăng tăn,
mùi gạo chín quyện với mùi men bốc lên nồng đường.
Giữa không cảnh ấy,
hữu tài lại thấy cái nghề mình đang làm
mới thật là chỗ dựa chắc chắn nhất.
Ông tự cười thầm,
cho rằng người nghèo kia nói chuyện huyền hoặc,
chẳng qua để dọa mình,
còn tai họa nếu có,
cũng chưa chắc tìm đến đúng hôm nay.
Thế nhưng, càng về xế chiều,
cái nóng từ lò lửa càng hắt lên gây gắt.
Hữu tài phải đứng liên tục để canh nước,
chỉnh lửa,
xem độ chín của gạo rượu,
thành ra mồ hôi chảy dòng dòng xuống cổ áo.
Từ sáng tới giờ,
trong đầu ông vẫn lởn vỡn hình ảnh con chim xanh
và những tiếng kêu ai oán chưa dứt.
Chính vì tâm không yên,
nên người càng mau mệt.
Đến lúc thấy công việc tạm ổn,
ông bèn kéo một chiếc ghế gỗ thấp
ngồi giữa bên lỏ,
tính chỉ nhắm mắt nghỉ chốc lát,
cho lại sức,
rồi làm tiếp.
Nào ngờ,
vừa ngạ lưng chưa bao lâu,
cơn mệt mỏi đã kéo ông chìm vào một giấc ngủ chập trờn,
nặng nẻ.
Trong mơ,
ông thấy mình đứng một mình giữa màn xương xám đục,
dưới chân là một cây cầu gỗ mộ mục nát bắc
qua khoảng không hunh hút.
Gió từ đâu thổi tới lạnh buốt,
mà phía dưới cầu lại bốc lên hơi nóng,
hầm hập.
Hữu tài vừa bước được mấy bước
thì tấm ván dưới chân bất ngờ gãy răng rắc.
Ông rơi thẳng xuống một cái giếng sâu không thấy đáy.
Thành giếng trơn nhớt,
tối om,
vốn bề vang lên thư âm thanh ủng mục như nước sôi đang cuộn.
Ông cố bám lấy vách giếng mà không được,
thân thể cứ chìm xuống mãi vào làn hơi bỏng rát.
Rồi từ trong bóng tối,
từng con rắn đen lớn nhỏ bắt đầu trườn ra.
Chúng quấn quanh chân,
bò lên ngực,
ngóc đầu nhìn ông bằng đôi mắt đỏ rực.
Hữu Tài hốt hoàng vùng vẫy,
miệng kêu cứu,
nhưng cổ họng khô đặc như bị hun lửa.
Càng đáng sợ hơn,
khi giữa tiếng giít của bầy rắn,
ông còn nghe vọng đâu đó
những tiếng gà kêu thét,
tiếng cánh đập loạn,
tiếng nước sôi đổ ảo ảo.
Trong giấc mộng ấy,
Hữu Tài cúi xuống và kinh hoàng
thấy da tay mình đang phồng lên,
đỏ rực,
rồi chóc ra từng mạng
như chính những con gà
từng bị ông dội nước sôi trong sân nhà.
Cơn đau trong mơ chân thật đến mức
ông gào lên thất thanh,
muốn trèo lên mà dưới chân lại
như có hàng trăm bàn tay lạnh ngắt
đang kéo xuống.
Hữu Tài tròn tỉnh,
toàn thân đẫm mổ hồi,
ngực phập phồng
như vừa thật sự vật lộn với cái chết.
Một người làm gần đó
nghe tiếng động vội chạy lại hỏi
ông có sao không?
Ông đưa tay quyệt mặt,
thấy lòng bàn tay vẫn còn run bẩn bẩn.
Trước mắt ông,
lò lửa vẫn cháy,
nước trong nồi vẫn sôi,
mọi thứ tưởng như bình thường,
vậy mà nỗi sợ hãi trong ngực
lại không sao dàn xuống được.
Ông gượng gạo bảo,
chỉ là ngủ gật nên gặp ác mộng,
không có gì đáng ngại.
Nhưng lời nói vừa dứt,
thì mí mắt bên phải đã giật liên hồi,
tim cũng nện từng hồi nặng trịt.
Ông cố đứng dậy để tiếp tục công việc,
như muốn lấy sự bận rộn
mà xua đi cảm giác bất an.
Nhưng lúc bước tới gần dãy thùng gỗ,
đặt cạnh bếp lò,
trong tay ông đột nhiên vang lên
một âm thanh rất khẽ,
mà rất lạnh,
như tiếng thớ gỗ
bị sức nóng nung ép đến cực hạn.
Một tiếng ngắc, mạnh mà chói,
đù làm sống lưng người nghe
bút thẳng lên tận gáy.
Hữu tài giật mình quay phát đầu lại,
nhìn về phía chiếc thùng lớn
đang đặt trên giá lò.
Trong khoảnh khắc ấy,
ông còn chưa kịp hiểu
chuyện gì sắp xảy ra,
chỉ thấy đường nứt nhỏ trên mặt gỗ
đang lan ra nhanh đến dợ người.
Như thế tai họa,
suốt từ đầu hành trình đến giờ,
rốt cuộc đã tìm đúng chỗ để hiện hình.
Tiếng nứt vừa dứt,
chiếc thùng gỗ lớn đặt sát lò
bỗng dung bần bật
như không còn chịu nổi
sức ép bên trong.
Chỉ trong chớp mắt,
một đường toác dài xé ngang thân thùng,
rồi toàn bộ mối ghép
bùng ra dữ dội.
Nước đang sôi trong thùng theo đó,
đổ ập xuống như một dòng thác trắng xóa,
bốc hơi nghi ngút,
lao thẳng về phía lưng Hữu tài,
lúc ấy đang đứng quá gần.
Ông chỉ kịp lùi nửa bước,
chưa kịp tránh,
chưa kịp kêu trọn tiếng
chạch thì cả thân trên
đã bị dòng nước sôi phủ xuống.
Một tiếng thét kinh hoàng
xé toạc cả gian bếp.
Hữu tài ngá vật xuống nền gạch,
hai tay cưa loạn trong không khí,
thân thể co giật dữ dội.
Nước sôi tràn từ vai xuống ngực,
tạt qua cánh tay,
bắn xuống bụng và chân.
Nơi nào chạm tới nơi ấy,
lập tức đỏ bừng rồi nổi
phồng lên thành từng mảng.
Ông lăn qua lăn lại
trong cơn đau điếng ngửi,
miệng gào khản đặc,
âm thanh méo mó đến mức
đám người làm đứng gần đó,
ai nấy đều tái mặt.
Có kẻ hoàng quá
làm rơi cả sô nước đang sách,
có kẻ đứng chết chân vài nhịp
mới sực tỉnh lao tới cứu.
Chu viên ngoại nghe tiếng hét
từ tiền viện cũng hớt hải chạy vào.
Cảnh tượng trước mắt
khiến ông chết lặng.
Gian bếp đầy hơi nước nóng
và mùi khét của da thịt bị bỏng.
Mấy người làm cố kéo Hữu tài ra
khỏi chỗ nước
còn đang chảy loang dưới sàn,
lấy chăn ướt phủ lên người ông.
Múc nước nguội dội nhẹ
xuống những chỗ đỏ rực.
Nhưng càng cứu,
ông càng gào lớn.
Cả thân hình vốn cứng cáp
của người thợ nấu rượu
giờ co rúm lại
như bị ném vào lửa đỏ.
Ông đau đến mức
móng tay cao nát
cả mặt phản gỗ
khi được khiêng sang gian bên cạnh.
Hơi thở rồn rập,
mắt lồi ra,
miệng chỉ còn bật lên
những tiếng rên dài đứt quáng.
Có một bà bếp già
từng làm ở Chu Gia mấy chục năm
đứng nhìn chóc lát
rồi bất giác
run giọng nói nhỏ rằng
Cảnh này sao giống y
như những con gà bị trụng sống.
Câu nói vừa thốt ra
mấy người quanh đó
đều dùng mình.
Quả thật,
ai từng nghe chuyện
lương hữu tài ở nhà
thường bắt gà vịt còn sống rồi
dội nước sôi để làm lông
nay nhìn ông quằn quại
trong cơn bỏng rát.
Trong lòng đều dấy lên
một nỗi lạnh khó tả.
Những vết phồng đỏ trên da
ông nở ra từng lớp
giống hệt lớp da loài vật
từng bị nước sôi
làm cho co quắp.
Cái đau mà bao năm nay
ông từng gây cho sinh linh khác
đến hôm ấy
dường như đang quay trở lại nguyên vẹn
không sai một chút nào.
Chú viên ngoại
lập tức sai người phi ngựa
đi mời lang y tề khang
vị thầy thuốc giỏi nhất vùng.
Trong lúc chờ đợi
gia nhân thay nhau
giữ chặt tay chân hữu tài
vì ông đau quá
cứ vùng dậy đòi lao ra ngoài.
Có lúc ông trợn mắt
nhìn lên mái nhà
miệng lắp bắp rằng
nóng quá, bỏng quá
cứu ông với
rồi lại thèo thảo
như đang gọi một ai đó
không có mặt ở đó.
Mồ hôi lạnh
túa ra trên chán
hòa với nước mắt
và nước bọt
làm gương mặt ông vừa đáng sợ
vừa đáng thương.
Nhưng càng thương
người ta lại càng thấy nặng lòng
bởi cái khổ ấy
không phải tay bay
vạ gió vô cớ
mà như một bàn tay
vô hình
đang lật lại món nợ cũ.
Đến lúc lang y tề khang
tới nơi
tình trạng của hữu tài
đã rất nguy cấp.
Thầy thuốc xem qua
vết bỏng từ vai xuống chân
sắc mặt lập tức trầm hẳn.
Ông cho người giã thuốc
đắp dược
hạ nhiệt
lại dặn không được băng kín quá
kẹo sức nóng tụ bên trong
càng nguy hơn.
Nhưng mọi cách
chỉ làm hữu tài
dịu đi chốc lát
rồi cơn đau
lại dội tới dữ dội hơn.
Ông cắn răng
đến bật máu
nơi khóe miệng
thỉnh thoảng lại rú lên
những tiếng ghê người
làm ai nghe
cũng phải sợn tóc gáy.
Lang y tề khang
cuối cùng chỉ thở dài
nói nhỏ với chu viên ngoại rằng
vết bỏng quá nặng
lại trúng vào chỗ hiểm
Nghe đến đó
Lương hữu tài
như người rơi xuống vực sâu
thêm một lần nữa.
Ông vốn luôn tin rằng
có tiền thì còn cứu được mình
có danh y
thì còn cứu được mạng
Nào ngờ
đến lúc da thịt
bị nước sôi lột từng mạng
mọi thứ ông từng tự hào
bỗng trở nên vô dụng.
Ông cố níu tay thầy thuốc
giọng khàn đặc
xin cứu bằng được
bảo mình còn tiền
còn nhà cửa
còn việc phải làm.
Nhưng lời cầu cứu ấy
không còn vẻ ngạo mạn
của người xưa kia nữa
chỉ còn là tiếng van xin tuyệt vọng
của một kẻ lần đầu
thật sự chạm mặt đau đớn
mà bản thân không chống lại nổi.
Chiều xuống rất chậm
trên chu da trang
Ngoài sân
gió cuối ngày
thổi qua hàng chút
còn trong răng nhà
nơi hữu tài nằm
không khí đặc quánh
mùi thuốc đắng
mùi da trái
và tiếng rên rỉ
yếu dần theo từng cơn.
Càng về đêm
ông càng mê
nhiều hơn tỉnh.
Có lúc ông mở bừng mắt
nhìn đôi tay
phồng rộp của mình
mà dun lẩy bẩy
như cuối cùng
cũng hiểu ra nỗi tuyệt vọng
của những sinh linh
từng bị mình cầm giữ
dưới vòi nước sôi
năm nào.
Mỗi lần cơn đau dâng lên
ông lại co quắp người
miệng không ngừng lầm bầm
những câu đứt đoạn
và cũng chính
từ thời khắc ấy
cánh cửa cuối cùng
dẫn ông đến sự thật
đáng sợ nhất
bắt đầu hé mở.
Bởi khi thân xác đã kiệt quệ
đến cùng cực
những gì mắt thường
không thấy ban ngày
rất có thể
sẽ hiện ra gió mồn một
trước giường bệnh
trong đêm.
Đêm ấy
gian nhà
nơi lưng hữu tài
nằm chữa bỏng sáng leo lét
dưới ngọn đèn dầu nhỏ.
Ngoài sân
tiếng côn trùng giả dích
hòa với tiếng gió lùa qua
tán trúc
càng làm không khí
thêm lạnh lẽo.
Chu viên ngoại
tuy không muốn
trong nhà mình
xảy ra chuyện dữ
vẫn sai người
thay nhau canh chừng
châm thêm thuốc
đắp lại khăn ướt
lên người hữu tài
nhưng ai bước vào
gần chiếc phản gỗ ấy
cũng đều thấy
trong lòng nặng chịu.
Cơn đau
đã rút gần hết
sức lực của ông
khiến người đàn ông
từng mạnh mẽ
cứng miệng
ngang tàng ấy
giờ chỉ còn nằm
co quắp
hơi thở ngắt quãng
như ngọn đèn sắp tàn.
Đến nửa đêm
mạnh thị cũng được
báo tin chạy tới.
Vừa trông thấy chồng
bà đã ôm miệng
khóc nắc.
Thân thể hữu tài
gần như không còn
chỗ nào lành lặn.
Da thịt sưng phồng
đỏ tím
từng chỗ chóc da
nhìn không dám lâu.
Nhưng điều đáng sợ hơn
là ánh mắt ông
lúc tỉnh lúc mê
cứ dán chặt vào
bốn góc phòng
như đang nhìn thứ gì đó
mà người khác không trông thấy.
Bỗng nhiên
ông run bắn lên
hai chóng mắt mở lớn
môi trắng bệch
lắp bắp
gọi vợ lại gần
rồi chỉ tay ra quanh giường.
Giọng ông khàn đi
vì đau đớn
nhưng vẫn nghe rõ từng chữ
chúng đến rồi
chúng đứng đây ở đó.
Mạnh thị quay đầu nhìn theo
chỉ thấy khoảng không mờ tối
và bóng đèn
lây động trên vách
nhưng hữu tài
thì không như vậy.
Trước mắt ông lúc ấy
quanh giường bệnh
không còn là căn phòng
của chu da nữa
mà là một vòng vây ken
đặt những con gà
con nào con ấy
lông cháy xém
da đỏ ao
như vừa qua nước sôi
mắt đen lặng lẽ
nhìn ông không chớp.
Chúng không bổ tới
không kêu loạn
chỉ đứng im
thành từng lớp
cổ vươn dài
như đang chờ
một lời trả nợ.
Càng nhìn
hữu tài càng hoảng loạn
Ông cố vùng tay
muốn lùi ra sau
nhưng toàn thân đau đau đến
không thể nhắc nổi.
Miệng ông dun dậy
phát ra những tiếng nắc nghẹn
lần đầu tiên
không còn là tiếng kêu
vì đau sắc thịt
mà là nỗi sợ
tận đáy lòng của một kẻ
biết mình
đã không còn đường chối cãi.
Ông bật khóc
tiếng khóc
khan và đứt đoạn
nghe còn sót hơn
cả tiếng rên
suốt mấy canh giờ trước đó.
Hữu tài nắm lấy tay vỡ
bàn tay nóng rực
mà run lẩy bẩy.
Ông nói mình sai rồi
sai từ rất lâu rồi.
Bao năm nay
ông chỉ biết miệng lưỡi
biết ngon dở
biết lợi lộp
mà chưa từng nghĩ
những tin nhỏ bé
cũng là nỗi đau thật.
Ông thú nhận rằng
mỗi lần nghe tiếng gà vịt
kêu thảm dưới nước xóm
dưới gáo nước sôi
nhưng
vì quen tay
quen lòng
nên tự ép mình
coi đó là chuyện không đáng kể.
Đến hôm nay
khi chính thân mình
bị nước sôi lột ra
ông mới hiểu
cái đau ấy
dữ dội đến nhường nào
mới hiểu
vì sao
có những món nợ trời đất
không quên
chỉ là đợi đúng lúc
để quay về.
Rồi như người sực nhớ
ra điều gì
Hữu tài lại lắp bắp
gọi tên Đào Cảnh An
Ông kể trong nước mắt
về viên thuốc tím
về lời dặn
đừng vứt bỏ
về con chim xanh
đã kêu ai hoáng
bên đường rồi bay mất.
Ông nói
trời đất
không phải không cho ông cơ hội.
Có người đã chỉ đường
có vật đã đưa tận tay
có điểm báo
đã hiện rõ trước mắt
nhưng chính ông
vì tự phụ
mà ném đi tất cả.
Nói đến đó
Hữu tài nghẹn lại
hơi thở
dồn lên từng cơn ngắn.
Mạnh thị chỉ biết
ôm lấy vai chồng
mà khóc
còn những người đứng quanh
nghe từng lời thú nhận ấy.
Ai nấy
đều lặng đi.
Không còn ai cho rằng
đây chỉ là tai nạn rủi ro.
Tất cả đều cảm nhận được
trong bi kịch
trước mắt
có một sự đối ứng
lạnh lùng mà công bằng.
Như bàn cân nhân quả
cuối cùng cũng nghiêng hẳn
về phía món nợ
chất trồng bấy lâu.
Càng về gần sáng
tiếng Hữu tài
càng yếu.
Ông không còn gào thét nữa
chỉ nhìn quanh chiếc giường
bằng ánh mắt
mờ đục
và hối hận.
Thỉnh thoảng
ông lại khẽ giật mình
như thấy những bóng gà kia
xích đến gần hơn.
Nhưng rồi
sự vùng vậy ấy
cũng dần liệm đi.
Ông quay sang nhìn vợ lần cuối
môi mấp máy bảo
nếu còn kịp
hãy thay ông
làm chút việc lành
bớt sát sinh
đừng để con cháu
trong nhà đi lại
vết xe cũ.
Giất lời.
Người đàn ông
từng luôn tin mình
chỉ cần có tay nghề
và tiền bạc là đủ
bỗng thở hắt ra
một hơi dài
thân thể co lại rất khẽ
rồi nằm im.
Tin lương Hữu tài
chết thảm
ở Chu Gia Trang
chẳng mấy chốc
lan khắp Phúc Dương.
Người ta nhắc đến ông
không còn bằng
giọng nề phục
dành cho tay nấu rượu
giỏi nhất vùng
mà bằng sự răn sợ
của một bài học
còn nóng hổi.
Ai cũng bảo
người có thể khéo tay
có thể biết làm ăn
có thể tích góp
được bạc tiền
nhưng nếu trong lòng
chất đầy tàn nhẫn
ngày ngày lấy nỗi đau
của sinh linh
làm điều thường
thì cái tài ấy
không cứu nổi mình.
Từ sau chuyện ấy
Mạnh Thị bỏ
hẳn thói giết mộ
tàn nhẫn trong nhà
đem tiền
giúp người nghèo
gặp ai cũng khuyên
bớt sát sinh
bớt hung tâm
bởi nhiều khi quả báo
chẳng cần chờ
đến kiếp sau.
Có những món nợ
gây ra ngay trong đời này
sẽ trở về
ngay trong đời này
nhanh như nước sôi
vừa đổ
đau như chính tiếng kêu
mà trước đó
người ta từng cố tình
không muốn nghe.
