48.413 lượt xem1 ngày trước Ngày 2 tháng 5 năm 2026 VIỆT NAM Men chào quý vị, Ngày hôm nay đội ngũ kênh Thầy Thắng Công Chức xin gửi tới quý vị video về chủ đề: Sâu Xé Vịnh Thái Lan “Kịch Liệt” Việt Nam Đã Khóa Chặt Sườn Tây Nam? Căng thẳng trên Vịnh Thái Lan đang nóng lên từng giờ khi những động thái “xé sóng” đầy kịch tính tạo ra diện tích khu vực thay đổi nhanh chóng. Việt Nam đã thực hiện “khóa chặt” sườn Tây Nam hay đây chỉ là bước đi chiến lược trong một ván cờ lớn hơn? Phân tích sâu những diễn biến mới nhất, góc nhìn địa chính trị và các kịch bản có thể xảy ra sẽ khiến bạn không thể rời mắt! __________________________________ Nhóm ngũ chương xin chân thành cảm ơn quý vị đã đón xem video, xin chúc quý vị có một ngày tràn đầy năng lượng, vui vẻ, hạnh phúc. Quý vị đừng quên đăng ký kênh để hỗ trợ đội ngũ chương trình nhé
Kính thưa quý vị, có những vùng biển mà sự yên tĩnh bên ngoài chỉ là lớp mặt nước che đậy, những gì đang sục sôi bên dưới.
Vịnh Thái Lan là một nơi như vậy, không ồn ào như Biển Đông, không xuất hiện trên những trang tin tức quân sự mỗi ngày.
Vùng biển rộng 320.000 km vuông này trông như một góc bình yên hiếm hoi của Đông Nam Á.
Thế nhưng ngay dưới đáy biển đó là hàng trăm tỷ mét khối khí đốt và dầu mỏ, đủ sức thay đổi vận mệnh kinh tế của cả một quốc gia.
Và xung quanh kho báo đó, bốn quốc gia đã và đang âm thầm tranh giành từng km đường danh giới bằng bản đồ,
bằng hiệp định, bằng những cuộc đàm phán kéo dài hàng thập kỷ.
Trong cuộc cờ đó, Việt Nam đã đưa những nước đi như thế nào?
Tại sao một hiệp định ký năm 1982 lại có thể đóng cửa một vùng biển trước mọi thế lực bên ngoài?
Vì sao mô hình cơ đôi mỏ dầu với Malaysia lại được xem là hình mẫu hợp tác hiếm có của khu vực?
Và điều gì khiến hàng trăm tỷ đô la tài nguyên giữa Campuchia và Thái Lan vẫn nằm yên bất động sau hơn 30 năm?
Nếu quý vị cũng có chung thắc mắc, hãy cùng chúng tôi tìm câu trả lời trong video ngày hôm nay.
Trước khi vào nội dung chính, chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ bằng cách nhấn nút thích video.
Xin trân trọng cảm ơn và kính mời quý vị theo dõi ngay sau đây.
Tranh chấp biển đảo giữa Việt Nam và Campuchia là một di sản phức tạp từ thời Pháp thuộc,
khi các đường biên giới bị vẽ ra tùy tiện, phục vụ mục tiêu cai trị hơn là tôn trọng thực tế lịch sử.
Năm 1939, Toàn quyền Đông Dương Persevere vạch một đường danh giới tạm thời trên hải độ để phân chia trách nhiệm hành chính.
Đảo phía Bắc giao cho Campuchia, phía Nam giao cho Việt Nam.
Bản thân Persevere đã khẳng định rõ đây không phải biên giới quốc gia, không mang giá trị pháp lý về chủ quyền lãnh thổ.
Thế nhưng sau khi Pháp rút lui, sự mơ hồ pháp lý đó nhanh chóng bị biến thành công cụ chính trị.
Trong thời kỳ Khmer Đỏ, đường Persevere bị bóp méo thành cơ sở đòi chủ quyền biển đảo.
Đình điểm là tháng 5 năm 1975, quân Khmer Đỏ đổ bộ lên quần đảo Thổ Chu, tàn sát hơn 500 dân thường Việt Nam,
vùng biển Tây Nam khi đó là một điểm nóng thực sự, nơi nguy cơ chiến tranh luôn cận kề.
Thế nhưng một con số, hơn 500 người, không thể nói hết được những gì đã xảy ra đêm đó.
Đó là đêm quân Khmer Đỏ đổ bộ lên quần đảo Thổ Chu, không phải để đàm phán,
không phải để cắm mốc chủ quyền theo kiểu ngoại giao thông thường, họ đến để tàn sát.
Hơn 500 người dân thường Việt Nam, những ngư dân, những gia đình bình thường,
đang sinh sống trên mảnh đất tổ tiên để lại, đã bị giết hại trong đêm đó.
Thổ Chu không phải là một địa danh xa lạ trên bản đồ,
đó là nơi có người Việt sinh sống từ rất lâu trước khi bất kỳ đường bơ dơ viên nào được vẽ ra.
Thế nhưng trong con mắt của Pol Pot và chính quyền Khmer Đỏ, toàn bộ vùng biển phía Tây Nam
đều là lãnh thổ cần thu hồi bằng vũ lực, và sinh mạng người dân Việt chỉ là vật cản trên con đường đó.
Chính vì vậy khi nhìn lại Hiệp định vùng nước lịch sử năm 1982,
quý vị sẽ hiểu đây không đơn thuần là một văn bản pháp lý.
Đó là câu trả lời của những người làm ngoại giao Việt Nam cho một câu hỏi rất thực tế,
làm thế nào để không bao giờ có thêm một đêm Thổ Chu nào nữa?
Câu trả lời không phải là chiến tranh, mà là đóng kín cả một vùng biển,
biến nó thành không gian chỉ thuộc về hai quốc gia,
nơi không có chỗ cho bất kỳ thế lực thứ ba nào can thiệp hay kích động.
Sau khi chế độ Khmer Đỏ bị lật đổ, thay vì tiếp tục tranh cãi từng hòn đảo,
Việt Nam chọn một hướng đi hoàn toàn khác.
Ngày mùng 7 tháng 7 năm 1982, hai nước ký Hiệp định về vùng nước lịch sử
gộp toàn bộ khu vực tranh chấp thành một vùng nước lịch sử chung và đặt dưới chế độ pháp lý của nội thủy.
Trong luật biển quốc tế, nội thủy có chủ quyền tuyệt đối,
từng đường lãnh thổ trên đất liền, không có quyền tự do hàng hải, không có quyền đi qua vô hại.
Từ một vùng tranh chấp dễ bị can thiệp, khu vực này trở thành sân nhà kín của hai nước,
loại bỏ hoàn toàn bất kỳ thế lực bên thứ ba nào.
Ngư dân hai nước vẫn đánh bắt theo tập quán truyền thống,
tài nguyên dầu khí được đóng băng, không bên nào khai thác đơn phương.
Từ sau năm 1982, vùng biển Tây Nam gần như không còn xung đột lớn,
tạo ra vùng đệm hòa bình đủ để hai bên tiếp tục đàm phán những bước tiếp theo.
Sau khi xử lý xong điểm nóng với Campuchia,
Việt Nam lập tức đối mặt với một đối thủ tham vọng hơn nhiều, đó là Thái Lan.
Bangkok đã không bỏ lỡ cơ hội khi Việt Nam còn bị cuốn vào chiến tranh.
Năm 1973, Thái Lan đơn phương công bố bản đồ phân định thêm lục địa trong vịnh,
cố tình bỏ qua hoàn toàn quần đảo thổ chu của Việt Nam.
Đường danh giới do đó bị đẩy sát vào bờ biển Cà Mau,
tạo ra vùng trồng lớn lên tới 6.074 km2, nơi tập trung nhiều mỏ khí đốt quan trọng.
Nói thẳng ra, đó là nỗ lực hợp pháp hóa việc chiếm đoạt tài nguyên ngay trên giấy tờ.
Nhưng khi đất nước thống nhất và bắt đầu hội nhập, bàn cờ lập tức thay đổi.
Từ năm 1992 đến năm 1997, hai bên trải qua 9 vòng đàm phán căng thẳng.
Việt Nam sử dụng công ước luật biển 1982 như một vũ khí sắc bén,
lập luận rằng mọi đảo có đời sống kinh tế và dân cư đều phải được tính khi phân định,
không thể vẽ đường trung tuyến mà xóa sổ sự tồn tại của thổ chu chỉ vì nó gây bất lợi cho một bên.
Ngày mùng 9 tháng 8 năm 1997, hai nước ký Hiệp định Phân định Danh giới Biển tại Bangkok
xác lập đường danh giới thường gọi là đường CK.
Việt Nam giành lại khoảng một phần ba diện tích vùng trồng lấn, tương đương hơn 2.000 km2.
Nhiều người cho rằng đây là nhượng bộ, nhưng đó là cách nhìn hoàn toàn sai lầm.
Phân định biển không phải chia đều mà dựa trên nguyên tắc công bằng,
trong đó chiều dài bờ biển là yếu tố then chốt.
Thái Lan có tới 1.660 km bờ biển trong vịnh,
Việt Nam chỉ khoảng 230 km trên lệch hơn 7 lần.
Với tương quan bất lợi như vậy, giành được một phần ba không phải là thua mà là kết quả vượt kỳ vọng,
đồng thời xóa bỏ hoàn toàn đường danh giới phi lý mà Thái Lan tự vẽ ra từ năm 1973.
Thế nhưng có một câu hỏi mà ít người đặt ra, tại sao Thái Lan lại chấp nhận?
Một quốc gia có đường bờ biển dài hơn 1.600 km trong vịnh, gấp hơn 7 lần so với Việt Nam,
nắm trong tay hầu hết các mỏ khí đốt đang khai thác,
lại ngồi vào bàn đàm phán và chấp nhận nhường lại hơn 2.000 km vuông. Điều gì đã buộc Bangkok phải làm vậy?
Câu trả lời nằm ở một thực tế mà người Thái hiểu rõ hơn ai hết.
Đường danh giới đơn phương năm 1973 của họ chưa bao giờ được cộng đồng quốc tế công nhận.
Nó chỉ tồn tại trên giấy tờ của Thái Lan, trong khi Việt Nam liên tục phản đối
và không một tập đoàn giàu khí quốc tế nào dám đặt giàn khoan vào vùng tranh chấp khi chưa có hiệp định song phương rõ ràng.
Nói thẳng ra, đường danh giới đó có cũng như không bởi vì tài nguyên vẫn nằm yên dưới đáy biển và không ai thu được một đồng nào.
Bên cạnh đó, bước vào thập niên 1990, Thái Lan đang trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ,
nhu cầu năng lượng tăng vọt và áp lực khai thác khí đốt nội địa ngày càng cấp bách,
tiếp tục giữ nguyên thế bể tắc đồng nghĩa với việc tự làm trộm chính mình.
Trong khi đó, Việt Nam sau đổi mới đang hội nhập nhanh, có đủ năng lực pháp lý và ngoại giao
để biến cuộc đàm phán thành một cuộc chiến trường kỳ mà Thái Lan không thể thắng trên mặt trận công pháp quốc tế.
Chính vì vậy, điều mà nhiều người gọi là nhượng bộ của Thái Lan thực ra là một phép tính lạnh lùng.
Nhưng một phần để khai thác được, phần còn lại vẫn hơn là giữ tất cả trên giấy nhưng không thu được gì trong thực tế.
Và đó cũng chính là bài học mà Việt Nam đã vận dụng thành thục xuyên suốt mọi cuộc đàm phán trên vịnh Thái Lan,
biết rõ đối thủ cần gì, biết rõ điểm giới hạn của họ ở đâu và kiên nhẫn chờ đến khi thời điểm chín mùi.
Trong khi bản cờ với Thái Lan đã được định hình, Việt Nam động thời phải xử lý một mặt trận khác ở phía Nam Vịnh,
đó là Malaysia. Xung đột không bùng nổ từ súng đạn mà bắt nguồn từ hai cách vẽ bản đồ hoàn toàn trái ngược.
Năm 1971, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sử dụng Đảo Hòn Khoai làm điểm cơ sở để kẻ đường trung tuyến xuống phía Nam.
Đến năm 1979, Malaysia công bố bản đồ khác, kéo đường trung tuyến ngược về phía Cà Mau.
Hai cách tiếp cận đó và chạm trực diện, tạo ra vùng trồng lớn hình thoi rộng khoảng 2.800 km2 ngay giữa biển.
Vào đầu thập niên 1990, thăm dò địa chất phát hiện chữ lượng dầu và khí đốt rất lớn nằm ngay dưới khu vực này.
Cả hai quốc gia đứng trước lựa chọn khó khăn hoặc tiếp tục đối đầu giữ lập trường chủ quyền tuyệt đối
hoặc tìm con đường khác để không bỏ phí nguồn tài nguyên khổng lồ.
Nếu chọn đối đầu, không bên nào có thể khai thác vì rủi ro an ninh sẽ khiến các tập đoàn quốc tế rút lui,
còn tài nguyên cứ nằm yên dưới đáy biển trong khi Việt Nam đang cần từng nguồn lực cho giai đoạn đầu đổi mới.
Chính lúc đó tư duy chiến lược đã tạo ra sự khác biệt.
Ngày 5-6-1992 tại Kuala Lumpur, hai nước ký kết thỏa thuận thành lập vùng khai thác chung PMBCAA.
Thay vì tranh cãi chủ quyền đến cùng, hai bên đồng ý gác lại tranh chấp,
cùng khai thác theo nguyên tắc chia sẻ rủi ro, chia đôi chi phí và chia đều lợi nhuận 50 trên 50.
Petro Vietnam và Petronas được giao trực tiếp vận hành.
Hàng loạt mỏ dầu khí lần lượt đi vào hoạt động, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho cả hai nước.
Với Việt Nam, nguồn khí từ PMBCAA được dẫn về đất liền, trở thành nhiên liệu cho cụm công nghiệp khí điện đạm Cà Mau,
cung cấp điện cho hàng triệu hộ dân và sản xuất phân bón phục vụ vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long.
Trong khi Việt Nam đã phần lớn hóa giải được các tranh chấp trên vịnh Thái Lan,
ngay giữa khu vực này vẫn tồn tại một vùng sám nguy hiểm.
Đó là khu vực trồng lớn giữa Campuchia và Thái Lan, thường gọi là Osea,
rộng khoảng 26.000 km2, gần bằng diện tích cả một quốc gia như Bỉ.
Bỉ mắc kẹt trong trạng thái không ai kiểm soát hoàn toàn và cũng không ai chịu nhường bước
kể từ khi Campuchia và Thái Lan lần lượt công bố hai tuyên bố chủ quyền đối nghịch nhau
vào các năm 1972 và 1009, Trump bay bỏ, điều khiến Osea trở thành một thùng thuốc nổ thực sự là những gì ẩn dưới đáy biển.
Các ước tính địa chất cho thấy nơi đây chứa khoảng 11.000 tỷ fit khối khí đốt và hơn 500 triệu thùng dầu,
với tổng giá trị lên tới 300 tỷ đô la. Đây là nguồn tài nguyên đủ sức thay đổi cán cân kinh tế của cả hai quốc gia.
Thế nhưng suốt hơn 30 năm qua, toàn bộ kho báo đó vẫn bị đóng băng vì mâu thuẫn chính trị,
ngũ nghĩa dân tộc và những tranh chấp lịch sử kéo dài mà điển hình là vấn đề đền Preah Vihear.
Bối cảnh hiện tại đang thay đổi nhanh chóng và yếu tố thúc đẩy chính là khủng hoảng năng lượng.
Các mỏ khí nội địa của Thái Lan trong vị đang suy giảm mạnh sau nhiều thập kỷ khai thác,
Bộ Băng Cốc phải tính đến phương án nhập khẩu khí hóa lỏng với chi phí cao hơn nhiều lần.
Theo nhiều dự báo, trong vòng một thập kỷ tới, Thái Lan có thể phải nhập khẩu tới 50% nhu cầu khí đốt,
một con số đáng lo ngại với nền kinh tế phụ thuộc lớn vào năng lượng.
Chính áp lực đó khiến Thái Lan ngày càng muốn mở khóa OCEA.
Thế nhưng các cuộc đàm phán liên tục rơi vào bế tắc vì phần lớn chữ lượng dễ khai thác nằm về phía Thái Lan,
trong khi khu vực Campuchia có địa chất phức tạp và chi phí cao hơn nhiều.
Ngay cạnh đó, khu vực trồng lấn ba bên Việt Nam, Thái Lan và Malaysia rộng vỏn vẹn 232 km2,
dù đã có thỏa thuận nguyên tắc từ năm 1999 nhưng đến nay vẫn chưa có bất kỳ hoạt động khai thác thực tế nào.
Cả hai vùng biển này vẫn đang chờ đợi sự nhượng bộ chính trị mà chưa biết bao giờ mới đến.
Nhìn lại toàn bộ bức tranh vịnh Thái Lan, Việt Nam chưa bao giờ tiếp cận các tranh chấp theo kiểu thắng thua tuyệt đối.
Từ hiệp định vùng nước lịch sử với Campuchia năm 1982 đến đường danh giới CK với Thái Lan năm 1997,
rồi mô hình PM3CAA với Malaysia, tất cả thể hiện tư duy linh hoạt nhưng kiên định, thực dụng nhưng không đánh mất nguyên tắc.
Những nước cờ đó không chỉ bảo vệ tài nguyên mà còn giữ hòa bình cho vùng biển Tây Nam suốt nhiều thập kỷ.
Trong khi đó, Ocea và Tam Giác ba bên vẫn nhắc nhở rằng vịnh Thái Lan chưa phải là ban cơ kết thúc
và nó vẫn tiếp tục được vẽ lại bởi áp lực năng lượng và toan tính địa chính trị.
Bài học thực sự không nằm ở chỗ Việt Nam chiếm được nhiều km vuông nhất.
Bài học nằm ở chỗ Việt Nam biết định nghĩa lại thế nào là chiến thắng, đó là giữ được ổn định,
bảo vệ an ninh và khai thác tối đa những gì vùng biển mang lại cho người dân.
Kính thưa quý vị, năm 2025 quả thật là một năm đặc biệt,
một năm của những đại lễ lớn, của những cột mốc lịch sử, không chỉ với Việt Nam mà còn với cả thế giới.
Nhưng quan trọng hơn, đây còn là thời khắc khởi đầu cho hàng loạt công trình trọng điểm quốc gia,
những dự án được xem như mạch máu mới của đất nước trong kỷ nguyên phát triển toàn diện.
Nếu để ý kỹ, quý vị sẽ thấy một điều rất thú vị.
Năm nay, Việt Nam dường như đang dồn toàn lực về phía Nam và Tây Nam Tổ quốc.
Còn nhớ cách đây vài năm, mạng xã hội từng rộ lên tin đồn về một cây cầu vượt biển ra Phú Quốc dài tới 50 km.
Khi ấy, ai cũng nghĩ đó chỉ là chuyện đùa, một tin không có cơ sở.
Nhưng bây giờ, khi nhìn lại có lẽ tin đồn đó không hoàn toàn sai.
Chỉ trong 2 tháng trước lễ kỷ niệm 80 năm, Việt Nam đã đồng loạt khởi công 2 dự án quan trọng,
Cảng Hòn Khoai và tuyến đường dẫn ra cảng tổng hợp thành phố Hà Tiên.
Cảng Hòn Khoai thì kênh đã có video riêng, quý vị có thể xem lại.
Còn dự án thứ 2 ít được nhắc đến hơn nhưng không kém phần quan trọng,
lại đang âm thầm tạo nên bước ngoặt lớn cho chiến lược biển Việt Nam.
Cụ thể, tại thành phố Hà Tiên, một tuyến đường vượt biển với tổng vốn đầu tư 1.177 tỷ đồng đang được triển khai.
Tuyến đường này sử dụng đất đá khai thác từ các ngọn núi quanh khu vực để đắp nền,
hình thành một con đường vượt biển dài khoảng 5 km, nối liền từ phường Hà Tiên ra vùng biển quần đảo Tiên Hải.
Và chính nơi ấy, vùng biển tưởng trưng xa xôi này sẽ trở thành Cảng Tổng hợp Hà Tiên,
một công trình trọng yếu trong chiến lược phát triển hạ tầng biển của Việt Nam tại Vịnh Thái Lan,
một dự án có thể thay đổi bản đồ kinh tế, chiến lược của miền Tây Nam Bộ trong vài năm tới.
Trước khi đi vào phần nội dung chính, chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ từ quý vị bằng cách nhấn nút thích video.
Chính sự quan tâm ấy là nguồn động lực to lớn để đội ngũ sản xuất tiếp tục đem đến nhiều video chất lượng và hữu ích hơn.
Xin trân trọng cảm ơn và kính mời quý vị cùng theo dõi ngay sau đây.
Quý vị thân mến, nhiều chuyên gia cho rằng tuyến đường vượt biển dài 5 km này không chỉ đơn thuần là một dự án hạ tầng địa phương
mà có thể là bước khởi đầu cho một đại dự án trong tương lai, đó là tuyến đường nối đất liền Hà Tiên với đảo Phú Quốc.
Nếu tính theo khoảng cách địa lý, từ Cảng Tổng hợp Hà Tiên đến xã đảo Tiên Hải trung tâm của quần đảo Hải Tạc dài khoảng 6 km,
từ Tiên Hải ra tới Phú Quốc là khoảng 30 km, cộng thêm 5 km đường vượt biển từ đất liền Hà Tiên ra Cảng Tổng hợp,
tổng chiều dài toàn tuyến kết nối Hà Tiên – Phú Quốc vào khoảng 41 km.
Điều này khiến nhiều người tin rằng dự án hiện tại chính là phần mở đầu khả thi cho tuyến đường huyết mạch nối đất liền với Phú Quốc,
thay đổi hoàn toàn cách thức giao thông, logistics và du lịch ở khu vực phía Tây Nam đất nước.
Toàn bộ dự án dự kiến hoàn thành vào năm 2027, đồng thời với Cảng Tổng hợp Hà Tiên.
Khi hoàn thành, công trình sẽ trở thành tuyến đường vượt biển đầu tiên của Việt Nam trên Vịnh Thái Lan, nằm cách vùng biển Campuchia chỉ khoảng 4 km.
Từ vị trí công trường có thể nhìn thấy rõ các dãy núi ven biển của nước bạn,
minh chứng cho tầm nhìn chiến lược và vị trí đặc biệt của dự án.
Đây vừa là tuyến giao thông, vừa là hành lang định vị chủ quyền và phát triển biển đảo phía Tây Nam Tổ Quốc.
Theo ghi nhận tại hiện trường, trung bình hơn 300m đường được mở rộng mỗi ngày,
kéo dài từ khu vực giao với đường núi Đèn, phường Hà Tiên hướng ra biển.
Đi qua bãi tắm múi này đến vị trí quy hoạch Cảng Tổng hợp Hà Tiên, cách đất liền khoảng 5 km.
Trước đó, vào năm 2024, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đồ án quy hoạch trung thành phố Hà Tiên
và khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên đến năm 2040, mở ra hành lang pháp lý và không gian phát triển mới.
Theo đó, Hà Tiên được định hướng trở thành đô thị kinh tế cửa khẩu quốc tế,
trung tâm văn hóa, du lịch lớn của vùng Tây Nam Bộ.
Mục tiêu này cũng được cụ thể hóa trong nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên Giang lần thứ 11.
Đặc biệt, tuyến đường vượt biển còn được xác định là một hạng mục hạ tầng
phục vụ Hội nghị APEC 2027 dự kiến được tổ chức tại Phú Quốc.
Công trình này, cùng với các dự án giao thông ven biển khác, sẽ rút ngắn thời gian di chuyển,
giảm áp lực cho các tuyến đường hiện hữu và nâng cao khả năng tiếp cận các vùng biển xa bờ,
tạo nền tảng cho chiến lược kinh tế biển, du lịch và quốc phòng của cả vùng Tây Nam Bộ.
Nói cách khác, bảo Việt Nam xây cầu thì không đúng,
nhưng cũng không có nghĩa là Việt Nam không có động thái nào ở phía Tây Nam đất nước.
Thậm chí, đây còn là một bước đi xa hơn khi chúng ta không chỉ xây cầu mà còn xây đường
và cả một khu phức hợp ngay tại đây.
Hãy nói cách khác, trước khi đi đến Phú Quốc, chúng ta sẽ đi ra Tiên Hải trước.
Và đây không phải là cây cầu có thể bị đánh chìm hay gãy, mà là đất liền thực thụ.
Dự án tuyến đường vượt biển hạ tiên, Tiên Hải thoạt nhìn chỉ là một công trình hạ tầng
giao thông ven biển nhưng xét kỹ trên bản đồ.
Nó nằm chính xác ở vị trí nút cổ trai giữa bờ biển Việt Nam và Campuchia,
nơi mà kênh đảo Phú Nam của Campuchia nếu được triển khai sẽ mở ra Vịnh Thái Lan tại vùng Campos.
Khoảng cách từ điểm cuối của kênh Phú Nam đến khu vực hạ tiên chỉ khoảng 30 km đường chim bay,
trong khi tuyến đường vượt biển này lại vươn thẳng ra phía Tây,
tức là hướng đối diện Campos, tạo thành một môi lấn biển án ngữ ngay cửa Vịnh.
Về mặt Thủy Văn, khu vực hạ tiên vốn là điểm hội tụ của các dòng chảy ven bờ
Việc đắp tuyến đường lấn biển dài 5 km này kèm theo hệ thống cầu, đê chắn và nền đường
với khối lượng hàng triệu mét khối đất đá sẽ làm thay đổi cấu trúc lưu thông nước trong vùng biển nông này.
Dòng chảy ven bờ Campos hạ tiên có thể sẽ bị uốn lại, chầm tích sẽ tích tụ về phía đông,
khiến cho cửa đồ ra biển của kênh Phú Nam nếu được mở sẽ dễ bị bồi lấp,
giảm độ sâu và khó duy trì luồng tàu ổn định.
Còn về mặt không gian chiến lược, tuyến đường vượt biển này không chỉ là hạ tầng giao thông
mà còn mở rộng thực thể lãnh thổ hữu hình của Việt Nam ra giữa Vịnh Thái Lan.
Từ vị trí tuyến đường, Việt Nam có thể triển khai cảng tổng hợp hạ tiên,
khu logistics và thậm chí cả các công trình điện gió ngoài khơi.
Tất cả sẽ tạo thành một vùng kiểm soát không gian biển liên hoàn giữa đất liền và quần đảo hải tặc.
Khu vực này chỉ cách lánh hải Campuchia vài hải lý,
nghĩa là bất kỳ tuyến tàu nào từ kênh đảo Phú Nam muốn ra biển sâu
đều phải đi qua vùng ảnh hưởng trực tiếp của hạ tiên.
Nếu nhìn rộng hơn, tuyến đường vượt biển hạ tiên không chỉ phục vụ giao thông nội địa
mà còn đang vẽ lại danh giới hiện thực của Vịnh Thái Lan.
Nó đẩy danh giới phát triển biển của Việt Nam ra sát vùng nước quốc tế,
củng cố vị trí kiểm soát trên trục hàng Hải Nam, bán đảo Đông Dương.
Trong khi Campuchia vẫn mới ở giai đoạn ý tưởng đào kênh Phú Nam,
thì Việt Nam đã có công trình cụ thể, cắm mốc thực tế ngay trên vùng biển chiến lược đó.
Nói cách khác, chỉ riêng dự án hạ tiên cũng đủ để chặn mềm cửa ra của Phú Nam,
không bằng lời nói mà bằng khối đất đá, mặt đường và những cây cầu đang dần nhô ra giữa vịnh.
Ở một góc độ khác, chúng ta có thể thấy rằng Việt Nam làm như thế này là tương tự
với những gì mà Hun Sen mong đợi. Họ muốn sòng phẳng thì chúng ta cũng sẽ chơi sòng phẳng.
Vào năm ngoái, khi báo chí Việt Nam chỉ trích mạnh mẽ việc Campuchia xây dựng kênh đảo Phú Nam
và từ chối tuân thủ thỏa thuận sông Mekong năm 1995, thì đến tháng 6 năm 2024,
ông Hun Sen đã nói thẳng rằng Campuchia không ngu ngốc hơn Việt Nam.
Cụ thể, theo tờ Karma Times đăng tải vào tháng 6 năm 2024, ông Hun Sen, Chủ tịch Thượng viện,
đồng thời là Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia đã tuyên bố rằng Campuchia không hề thua kém Việt Nam.
Ông cũng cho biết sẽ kiên quyết không đàm phán với bất kỳ bên nào về việc xây dựng kênh đảo Phú Nam-Techo.
Ông đã phát biểu mạnh mẽ điều này trong buổi tiệc tối đoàn kết của Hiệp hội Đại gia Campuchia
vào ngày 26 tháng 4 năm 2024. Nhân dịp này, ông cũng đặt câu hỏi về các nhà phân tích Việt Nam cho rằng
dự án kênh đảo Phú Nam-Techo sẽ khiến Việt Nam mất tới 70% lượng nước.
Theo ông, Campuchia là quốc gia đầu tiên bị ảnh hưởng bởi sự mất mát này.
Campuchia không hề ngu ngốc hơn Việt Nam, ông Hun Sen nói.
Đồng thời, ông khẳng định trong suốt 4-7 năm qua, tôi chưa bao giờ đưa ra một quyết định sai lầm.
Campuchia không kém cỏi đến mức để quân đội Trung Quốc triển khai trên lãnh thổ của mình
và Campuchia biết cách bảo vệ lợi ích của mình. Việt Nam không cần phải lo lắng.
Nhân dịp này, ông Hun Sen cũng nhấn mạnh rằng ông không khuyến khích người dân ghét người Việt Nam
nhưng phía Việt Nam cũng cần làm điều tương tự.
Việt Nam đã xây dựng đập để bảo vệ mùa màng của họ và điều này cũng ảnh hưởng tới Campuchia.
Tôi hy vọng Việt Nam sẽ hiểu về việc xây dựng kênh đảo Phú Nam-Techo.
Ông nói, cựu Thủ tướng Hun Sen cũng cho biết Campuchia không cần phải đàm phán với Việt Nam
về dự án kênh đảo Phú Nam-Techo.
Các nhà lãnh đạo Việt Nam nên hiểu lý do tại sao ông lại nêu vấn đề này công khai.
Ông kêu gọi hành động mạnh mẽ, kêu gọi toàn thể công dân Campuchia đoàn kết bảo vệ lợi ích quốc gia.
Ông nhấn mạnh rằng cần phải đứng lên chống lại những ai phản đối lợi ích quốc gia của Campuchia
và yêu cầu một số quốc gia hãy ngừng phản đối dự án kênh đảo Phú Nam-Techo của Campuchia.
Nếu Campuchia cho rằng việc đào một con kênh nước sâu xuyên suốt từ Phnom Penh ra Vịnh Thái Lan
dù có ảnh hưởng đến hàng chục triệu người ở hai quốc gia bên cạnh vẫn là chuyện nội bộ,
thì Việt Nam cũng có thể áp dụng logic tương tự khi lấn biển ở Hà Tiên.
Chúng ta xây cảng tổng hợp hoặc mở tuyến đường vượt biển dài 5km ra quần đảo Hải Tạc.
Không có lý gì Campuchia có thể nạo dòng mê công mà không hỏi ai,
trong khi Việt Nam lại phải xin phép khi đổ đất đá đắp đường ra biển trong lãnh hải của mình.
Dự án tuyến đường vượt biển Hà Tiên, Tiên Hải hiện đang trong giai đoạn thi công là minh chứng rõ ràng.
Hàng trăm xe ben mỗi ngày chở đất đá từ núi Kiên Lương An Giang đổ xuống biển để hình thành nền đường.
Đây là một công trình nhân tạo quy mô lớn, vừa phục vụ cảng Hà Tiên, vừa kết nối du lịch Phú Quốc.
Khi hoàn thành, tuyến đường này sẽ trở thành mối vươn ra Vịnh Thái Lan,
án ngữ vị trí cửa ngõ phía đông của Campuchia, nơi kênh Phú Nam dự kiến mở ra biển.
Nói cách khác, nếu Phnom Penh muốn mở dòng nước ra biển, thì Hà Nội cũng đang mở mặt đất tiến ra biển.
Và điều đó hoàn toàn nằm trong phạm vi chủ quyền của Việt Nam.
Không có quy định quốc tế nào buộc Việt Nam phải thông báo với Campuchia rằng mình sắp làm gì trên vùng biển Hà Tiên,
cũng như không ai buộc Phnom Penh phải báo cáo với Hà Nội về việc đào kênh trên lãnh thổ của họ.
Khi ông Hun Sen nói rằng Việt Nam không cần lo lắng cho Campuchia,
thì ông cũng nên hiểu rằng Campuchia cũng không có lý do gì để lo ngại khi Việt Nam bồi lấp biển,
Hà Tiên hay mở rộng Phú Quốc.
Bởi lẽ, nếu chủ quyền là tuyệt đối trong phạm vi lãnh thổ, thì điều đó cũng mang ý nghĩa tương hỗ,
không thể có hai chuẩn mực cho hai quốc gia cùng chia sẻ một vùng nước.
Giờ đây, khi những chiếc xe ben ở Hà Tiên vẫn ngày đêm đổ đất xuống biển,
người ta có thể xem đó là câu trả lời thực tế nhất cho tuyên bố Campuchia không ngu ngốc hơn Việt Nam,
bởi Việt Nam cũng không ngây thơ đến mức để người khác độc quyền mở đường ra vịnh Thái Lan.
Nếu Campuchia có thể đào kênh Phú Nam để ra biển,
thì Việt Nam cũng có thể xây đường ra biển, và nếu điều đó có tác động gì, thì đó cũng chỉ là chuyện của Việt Nam.
Campuchia từng hỏi Việt Nam, ai là anh, ai là em, như muốn chấm dứt quá khứ mang ơn để khẳng định mình đã đủ lớn.
Nhưng lịch sử luôn có cách rất khéo để trả lời.
Đến khi bị Thái Lan ép biên, hàng hóa bị chặn, du lịch bị siết,
họ lại quay sang nhắc tới hai chữ anh em và đồng chí.
Còn Việt Nam thì giờ không chơi theo kiểu cũ nữa, không còn vai anh cả,
không còn kiên nhẫn giải thích hay gánh giúp ai.
Giờ là thời của nguyên tắc ai làm gì trong phần của mình thì cứ làm.
Lời qua tiếng lại chỉ tốn hơi.
Campuchia đào kênh Phú Nam ra Vịnh Thái Lan mà chẳng cần báo ai,
thì Việt Nam cũng chẳng việc gì phải thông báo khi đổ đất lấn biển ở Hà Tiên hay kéo đường ra Phú Quốc.
Song phẳng, thẳng thắn thế cho nhanh không cần diễn cảnh tình nghĩa để rồi sau lưng là ngờ vực.
Trong vùng này, ai mạnh hơn là do ai tính kỹ hơn, chứ không phải do nói khéo hơn.
Cái khác của Việt Nam bây giờ là đã thôi xem Campuchia là người anh em để dỗ dành,
mà là một đối tác thậm chí là một đối thủ tiềm tàng trong cạnh tranh kinh tế.
Và khi mọi thứ đã song phẳng thì cũng nhẹ đầu hơn,
không nợ nần, không ơn nghĩa, không cần phải dè chừng.
Ai tính được phần của mình thì người đó sẽ thắng.