CẢ THẾ GIỚI PHÁT ĐIÊN CHỈ VÌ MỸ | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
540 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Chào mừng các bạn đã đến với kênh Thế Giới Cổ Đại.
Tôi là MC Quang Thiên, rất vui được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay.
Đây là diễn biến giá nhân liệu trước khi chiến tranh Iran nổ ra.
Còn đây là sau khi chiến sự bắt đầu, giá từ khoảng 65 đô đã vọt lên hơn 110 đô.
Mực độ biến động này thậm chí còn vượt cả cuộc chiến Nga – Châu Âu năm 2022.
So với đó, sự kiện Venezuela hồi đầu năm nay gần như không tạo ra gợn sóng nào trên thị trường.
Bạn phải hiểu rằng giá giàu khác với vàng hay cổ phiếu, nó không đơn thuần là giá của một loại tài sản,
mà là một mức giá năng lượng nền tảng gắn trực tiếp với mọi mặt sinh hoạt của con người trên toàn cầu.
Nguyên nhân phía sau, tôi tin là mọi người cũng đã thấy nhiều trên tin tức, đó chính là eo biển Hormuz.
Iran đã trực tiếp phong tỏa eo biển này, khiến dầu mò ở gần như toàn bộ khu vực Trung Đông bị kẹt cứng,
không thể vận chuyển ra ngoài. Điều đó buộc ông Trump phải tung ra liên tiếp 4 năm biện pháp,
đủ mọi chiêu, cả hay lẫn dở để ứng phó.
Tôi cũng không biết khi video này được đăng lên thì chiến sự đã diễn biến đến mức nào, có kết thúc hay chưa.
Nhưng điều tôi quan tâm hơn cả là cuộc khủng hoảng này đã phơi bày sự mong manh của thị trường năng lượng toàn cầu.
Vì vậy, hôm nay, một mặt chúng ta sẽ nói về eo biển này và cuộc chiến.
Mặt khác, tôi muốn đi sâu hơn một chút, cùng nhìn vào cục diện năng lượng toàn cầu trong thời kỳ hậu chiến,
và xem tương lai sẽ phát triển ra sao. Không để các bạn phải chờ lâu, chúng ta cùng bắt đầu ngay nhé.
Đầu tiên, tôi sẽ giới thiệu ngắn gọn về eo biển Hormuz. Ai đã biết rồi thì cũng có thể bỏ qua đoạn này nhé.
Eo biển Hormuz có thể nói là ít hầu năng lượng quan trọng nhất trên trái đất.
Nó nối Vịnh Ba Tư với biển Ả Rập, và là con đường biển duy nhất để các quốc gia dầu mỏ Trung Đông trong Vịnh Ba Tư xuất khẩu dầu khí ra thế giới.
Nơi hẹp nhất của eo biển này chỉ khoảng 33km. Nhưng thực tế, tiến hàng hải dành cho tàu trợ dầu siêu lớn chỉ có 2 làn,
một vào một ra, mỗi làn rộng khoảng 3km, ở giữa là vùng đệm 3km.
Tức là toàn bộ hoạt động vận chuyển năng lượng của thế giới phải đi qua một hành lang chưa đến 10km.
Trước đây, mỗi ngày có tới 20 triệu thùng dầu đi qua đây, tương đương khoảng 1 phần 5 lượng tiêu thụ dầu toàn cầu mỗi ngày.
Đồng thời, khoảng 20% thương mại khí tự nhiên hóa lỏng, viết tắt là LNG của thế giới, chủ yếu từ Quata cũng xuất khẩu qua eo biển này.
Không cần nói nhiều, chỉ cần nhìn bản đồ, đây là mỏ khí tự nhiên lớn nhất thế giới, Northfield.
Còn đây là mỏ dầu lớn nhất, Gawa ở Saudi Arabia.
Và đây là toàn bộ phân bố mỏ dầu Trung Đông.
Nhìn dày đặc như vậy, ai mắc chứng sợ lỗ sẽ cảm thấy khó chịu.
Chúng ta đều biết, Trung Đông là vòi nước dầu mỏ của thế giới.
Nhưng dầu mỏ ở đây không phân bố đều mà gần như tập trung quanh khu vực vịnh Bà Tử.
Và phần lớn dầu khí ở khu vực này đều phải đi qua eo biển Hô Mớt để xuất khẩu.
Vậy đích đến của nó chủ yếu ở đâu?
Khoảng 85% chạy về châu Á, trong đó 4 quốc gia chính là Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Chỉ với một eo biển rộng 33km, có thể nói nó giống như một đòn gánh gánh cả năng lượng toàn cầu.
Trong số đó, dù Trung Quốc nhập khẩu nhiều nhất về lượng, nhưng nếu xét theo tỷ lệ phụ thuộc
thì Nhật Bản và Hàn Quốc mới là những nước phụ thuộc vào dầu Trung Đông nhiều nhất.
Và đó cũng là lý do vì sao sau khi Iran phong tỏa eo biển Hô Mớt,
thị trường trưng khoản Nhật Bản lao dốc,
còn Hàn Quốc thì giảm tới 12% chỉ trong một ngày, mức giảm mạnh nhất trong gần 20 năm.
Nhưng nói thêm một chút, nếu chỉ xét về lưu lượng vận chuyển dầu,
thì eo Hô Mớt thực ra chưa phải là lớn nhất thế giới.
Còn một eo biển lớn hơn một chút, bạn đoán là ở đâu?
Chính là eo biển Malacca.
Nó là cửa ngõ thương mại vào Đông Á, với lưu lượng khoảng 23 triệu thùng dầu mỗi ngày.
Singapore nằm ngay cạnh eo biển này, đó cũng là một phần lý do khiến họ giàu có.
Tuy nhiên, eo biển Malacca không bất ổn như Trung Đông, nên không khiến thị trường lo lắng như Hô Mớt.
Vì vậy, sự chú ý của thế giới vẫn tập trung chủ yếu vào eo Hô Mớt.
Và điều đáng nói là, đoạn gánh năng lượng quan trọng này lại nằm ngay trước cửa nhà Iran.
Xung quanh eo biển có 8 hòn đảo, trong đó 7 đảo do Iran kiểm soát.
Tất nhiên, Mỹ cũng hiểu rõ tầm quan trọng của khu vực này,
nên trước khi chiến tranh nổ ra, họ đã triển khai khoảng 40-50.000 binh sĩ tại Trung Đông, đặc biệt là quanh eo Hô Mớt.
Nhiều người có thể thắc mắc, Mỹ mạnh như vậy, lại có nhiều quân ở đó, sao Iran nói phong tỏa là phong tỏa được?
Thực ra, điều này không khó hiểu.
Dù Iran không thể đối đầu trực diện với Mỹ về sức mạnh quân sự,
nhưng với điều kiện địa lý của eo Hô Mớt, việc phong tỏa lại cực kỳ dễ.
Iran không cần vũ khí công nghệ cao, chỉ cần thủy lôi, drone hay tên lửa cũng đủ để tạo ra sức giăn đe rất lớn.
Ví dụ, ngày 11 tháng 3, Iran tuyên bố đã triển khai 10 quả thủy lôi tại eo Hô Mớt.
Thực tế họ đặt bao nhiêu, đặt ở đâu thì không ai biết.
Nhưng chỉ cần tuyên bố như vậy đã đủ khiến các tàu thương mại không dám đi qua,
và các công ty bảo hiểm cũng không dám cấp bảo hiểm cho tàu.
Mà trong chuyện này, bảo hiểm là yếu tố cực kỳ quan trọng.
Trước đây, phí bảo hiểm cho một tàu thương mại khi đi qua khu vực này là khoảng từ 200.000 đến 400.000 đô.
Còn bây giờ, bạn đoán xem đã tăng lên bao nhiêu?
Con số hiện nay ít nhất là gấp 10 lần, tức là lên khoảng 3-5 triệu đô.
Đó cũng là lý do vì sao, ngay khi Iran vượt phòng tỏa,
ngày 3-3, ông Trump đã lập tức tuyên bố phê duyệt một gói tái bảo hiểm hàng hải trị giá 20 tỷ đô.
Vậy tái bảo hiểm nghĩa là gì?
Tức là chính phủ Mỹ sẽ đứng ra làm người bảo lệnh cuối cùng.
Nếu tàu hàng bị tấn công trong nghèo biển, công ty bảo hiểm tư nhân bồi thường xong,
chính phủ Mỹ sẽ bỏ tiền túi ra bù phần còn lại cho các công ty bảo hiểm.
Như vậy, về lý thuyết, các công ty bảo hiểm sẽ không bị lỗ mà vẫn có thể tiếp tục cung cấp dịch vụ bảo hiểm.
Nhưng trên thực tế, hiệu quả của kế hoạch này gần như bằng không.
Tại sao?
Chính các thuyền trường và thủy thủ đã nói rất thẳng.
Ông Trump suy nghĩ theo kiểu thường nhân.
Ông nghĩ việc đi qua eo biển chỉ là bài toán chi phí bảo hiểm sao?
Đây là chiến tranh thật sự, thủy lôi nằm dưới nước, drone cầm tử thì bay trên trời,
đạn tên lửa thì đâu có mắt. Chúng tôi thậm chí còn không cùng ngôn ngữ với phía Iran.
Đây căn bản không phải là chuyện tiền bạc.
Đại khái ý của họ là như vậy.
Vì thế bạn sẽ thấy, đây là hình ảnh thời gian thực của các con tàu quanh eo Homer.
Một lượng lớn tàu đang nằm chờ ở bên ngoài.
Còn khu vực trong eo biển thì gần như trống trơn, không một con tàu nào dám đi qua.
Có người có thể nghĩ dầu qua eo Homer chủ yếu là xuất sang châu Á.
Vậy các khu vực khác chắc không bị ảnh hưởng nhiều.
Lập luận này là sai hoàn toàn.
Bạn phải hiểu rằng, dầu mỏ là một sản phẩm có tính thị trường hóa cực cao.
Chỉ cần xảy ra cú sốc nguồn cung, giá sẽ phản ánh gần như lập tức trên toàn cầu.
Vì vậy, việc dầu được vận chuyển đến đâu thực ra không quá quan trọng.
Chỉ cần 20 triệu thùng trên ngày bị kẹt không ra được, thì nguồn cung bị hạn chế,
thì toàn thế giới đều phải chịu cú sốc giá dầu tăng.
Ngay cả người dân Mỹ ở bên kia bán cầu cũng sẽ cảm nhận rõ điều này.
Đó chính là lý do chúng ta thấy biểu đồ giá dầu tăng vọt lúc đầu.
Tuy nhiên, khí tự nhiên thì có phần khác.
Tính khu vực của nó mạnh hơn.
Đó là lý do trong chiến tranh Nga-Ukraine, giá khí đốt của châu Âu tăng cực mạnh,
còn các khu vực khác chỉ bị ảnh hưởng nhẹ.
Lần này cũng vậy, giá khí đốt ở châu Âu và châu Á tăng hơn 50%.
Nhưng giá khí đốt ở Mỹ lại không bị tăng động nhiều.
Tôi bổ sung thêm một chút, dù El Hormuz rất quan trọng,
nhưng không phải cứ Iran phong tỏa là toàn bộ dầu bị chặn hoàn toàn.
Các quốc gia đều có dầu giữ chữ chiến lược, nên trong ngắn hạn vẫn có thể cầm cử,
thường từ khoảng 3 đến 6 tháng, chứ không phải lập tức hết dầu.
Tiếp theo, tôi muốn chia sẻ một vài suy nghĩ về tình hình biến động gần đây và giá dầu.
Bạn có nhận ra không? Cuộc chiến Iran lần này thực ra đã phơi bày một điểm yếu,
hay có thể nói là giới hạn chịu đựng của chính phủ Mỹ. Đó chính là giá dầu.
Nhiều người sẽ phân tích rằng Mỹ có dự trữ dầu lớn, năng lực sản xuất mạnh,
giá dầu cao thì các công ty dầu khí và tài chính còn có thể kiếm lời lớn.
Nghe thì có vẻ hợp lý, nhưng theo tôi, việc giá dầu tăng, đặc biệt là tăng sốc và duy trì
ở mức độ cao lại gây tổn hại cho chính phủ Mỹ, cho ông Trump nhiều hơn, rất nhiều so với lợi ích mà nó mang lại.
Thậm chí là điều họ khó có thể chịu đựng. Tại sao?
Trước hết, đây là vấn đề thể diện và còn liên quan trực tiếp đến bầu cử.
Chúng ta đã phân tích trước đây, các chính sách của ông Trump từ thuế quan đến các đạo luật kinh tế
đều có một điểm chung, là xu hướng làm nóng lạc pháp.
Dù đôi khi họ né tránh không nói rõ, nhưng ai cũng hiểu điều đó.
Và ông Trump, ngay từ khi tranh cử đã nhiều lần nhấn mạnh rằng vũ khí kiểm soát giá cả của ông chính là giá dầu.
Nhưng thực tế ông Trump đã làm tốt chưa?
Sự thật là GDP của Mỹ có thể tăng khi ông Trump đắc cử, nhưng điều đó không có ý nghĩa trực tiếp với đa số người dân.
Khi không kiểm soát được giá dầu, đồng nghĩa là giá cả tăng, lãm phát bùng lên,
thì đó là vấn đề của toàn dân.
Toàn dân bị ảnh hưởng, toàn dân bất mãn.
Bạn nhìn Iran là hiểu, tại sao đầu năm nay xảy ra bất ổn xã hội quy mô lớn.
Một nguyên nhân rất quan trọng, chính là lãm phát quá cao.
Giá cả khi ổn định thì không ai để ý, nhưng khi mất kiểm soát thì trở thành vấn đề cực kỳ nghiêm trọng.
Ở Mỹ khoảng 85% người dân đi lại bằng ô tô, tức là giá dầu liên kết trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng.
Vì vậy, dù nguyên nhân là gì, nếu chính phủ không kiểm soát được giá dầu, để nó tăng vọt,
rồi lan sang nền kinh tế thực, gây lãng phát, thì tâm lý người tiêu dùng Mỹ sẽ xấu đi rõ rệt.
Điều đó không chỉ khiến ông Trump và đảng Cộng Hòa bất mặt,
mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc bầu cử sắp diễn ra vào tháng 11 của Mỹ.
Đó là yếu tố thứ nhất, giá cả.
Yếu tố thứ hai là giá dầu còn đe dọa trực tiếp đến mức nợ của Mỹ.
Bạn nhìn này, khi giá dầu tăng thì kéo theo lãng phát tăng,
cục dự trữ Liên bang Fed sẽ buộc phải dừng hạn lãi xuất, thậm chí có thể quay sang tăng lãi xuất.
Trong khi đó, nợ công của Mỹ vốn đã là con vòi trong phòng.
Nếu lãng phát mất kiểm soát và Fed buộc phải tăng lãi xuất mạnh như thời những năm 1980,
thì chính phủ Mỹ hiện tại thực sự khó mà chịu nổi.
Thậm chí điều đó còn khiến ông Trump phải lên mạng JustSocial công khai gây áp lực về Powerwell,
yêu cầu ông hạ lãi xuất ngay lập tức.
Dù hợp lý hay không, ít nhất ông cũng phải thể hiện lập trường của mình.
Đến đây, những gì chúng ta nói vẫn chỉ là tác động trực tiếp nhất của việc giá dầu tăng.
Nếu lãng phát thực sự bùng lên, thì những ảnh hưởng kinh tế rộng lớn hơn thậm chí còn chưa được đề cập.
Tóm lại, nếu ai nói rằng Mỹ tự chủ năng lược, không sợ cút sốc dầu mỏ,
thì đó là nhận định không đứng vững.
Nên kinh tế Mỹ hiện tại, cũng như bộ chính sách của ông Trump, không thể chịu được việc lãng phát quay trở lại.
Vì vậy, ông Trump bằng mọi giá phải ghim giá dầu xuống.
Việc Iran phong tỏa El Hormuz chẳng khác nào đánh trúng tử huyệt của ông.
Hãy nhìn xem, ông Trump đã làm gì khi thấy giá dầu khó kiểm soát?
Điều 3 tàu sân bay tới khu vực, triển khai gói bảo hiểm 20 tỷ đô,
khẩn cấp giải phóng 172 triệu thung dầu dự trữ, tức là hơn 1 phần 3 kho dự trữ dầu của Mỹ.
Thậm chí còn nói về Ấn Độ, trong tình huống đặc biệt này, cho phép tạm thời mua dầu từ Nga.
Ngoài ra, còn tăng cường bảo vệ El Hormuz, v.v.
Dù những biệt pháp này có thực sự kiểm soát được giá dầu hay không, thì ý đồ của Mỹ rất rõ ràng.
Họ không thể chịu được việc giá dầu duy trì ở mức quá cao.
Nói đến lạm phát, tôi muốn chia sẻ thêm một hiện tượng khá ngược trực giác mà tôi để ý.
Sau khi chiến tranh nộ ra, giá vàng tăng trong 2 ngày đầu,
rồi lại bất ngờ giảm xuống, đây là điều khá bất thường.
Trong khi đó, chỉ số đô lại liên tục tăng lên.
Tại sao lại như vậy? Nó liên quan gì đến lạm phát?
Ban đầu khi chiến tranh xảy ra, mọi người đều tìm đến tài sản trú ẩn.
Nền vàng và trái phiêu Mỹ đều tăng.
Nhưng khi tình hình phát triển, Iran phong tỏa El Hormuz.
Thị trường nhận ra rằng, Mỹ dường như không có cách giải quyết hiệu quả.
Nếu giá dầu tiếp tục tăng, rất có thể sẽ gây ra lạm phát toàn cầu.
Nếu chỉ dừng ở đây, bạn sẽ nghĩ lạm phát tăng, đồ mất giá, vàng phải tăng mạnh hơn.
Nhưng thực tế lại ngược lại.
Tại sao?
Bởi vì thị trường còn nghĩ thêm một bước nữa.
Là khi lo ngại lạm phát, có một bên còn lo hơn cả thị trường, đó chính là Fed.
Fed có thể sẽ hành động, dừng hạn lãi xuất, thậm chí là thắt chặt tiền tệ, tăng lãi xuất.
Trong ngắn hạn, chính sách của Fed ảnh hưởng đến giá tài sản tăng mạnh hơn so với tác động dài hạn của lạm phát.
Vì vậy, khi kỳ vọng thắt chặt tiền tệ tăng lên, sẽ dẫn đến đồ tăng giá, vang giảm, và trái phiêu Mỹ giảm giá, tức lợi xuất tăng.
Bạn thấy không? Trong phân tích thị trường, chỉ cần thiếu một tầng suy nghĩ, kết luận có thể hoàn toàn đảo ngược.
Thông thường, đến đây là có thể kết thúc video rồi, nhưng video này thì khác, còn rất nhiều kiến thức bổ ích ở phía sau, hãy kiên nhẫn thêm một chút nhé.
Khi tìm hiểu, tôi có một thắc mắc.
Tại sao cứ hết có biến động ở một quốc gia liên quan đến năng lược, truyền thông lại lập tức nói rằng, khung hoảng năng lượng toàn cầu sắp xảy ra.
Vậy thực sự có khung hoảng không? Nó nghiêm trọng đến mức nào? Và tại sao thị trường năng lượng lại dễ biến động như vậy?
Vì thế, tôi quyết định nhìn ở góc độ tổng thể, phân tích cục diện năng lượng toàn cầu, không chỉ dầu mỏ, không chỉ El Homos, mà tất cả các dạng năng lượng.
Bạn cũng nên hiểu về điều này, đúng không?
Tôi đã tìm được một loại dữ liệu sản lược, tiêu thụ, nhập khẩu, xuất khẩu, nguồn nhập từ đâu, xuất đi đâu của các quốc gia và khu vực.
Từ đó rút ra một số điểm có thể hữu ích cho tất cả mọi người.
Trước hết, hãy nhìn tổng thể tiêu thụ năng lượng toàn cầu.
Dầu mỏ đúng là quan trọng, nhưng không phải là tất cả.
Ba nguồn chính hiện nay là dầu mỏ, khí tự nhiên, thàn đá, gần như chia ba thiền hạ.
Năng lượng sạch vẫn còn chiếm tỷ trọng khá nhỏ.
Nếu xét theo quốc gia, Trung Quốc tiêu thụ nhiều nhất, hơn một phần tư toàn cầu.
Mỹ khoảng 16%, sau đó là EU và Ấn Độ.
Nhìn tổng thể thì khá hợp lý, giờ chúng ta tách ra từng loại năng lượng để xem kỹ hơn.
Trước tiên là thàn đá.
Nhiều người có thể nghĩ, đã năm 2026 rồi, sao vẫn dùng nhiều thàn đá như vậy?
Nhưng thực tế, khoảng 27% năng lượng toàn cầu và 36% sản lượng điện vẫn đến từ thàn.
Và quốc gia sử dụng thàn nhiều nhất, chủ yếu chỉ tập trung ở một nước, đó là Trung Quốc.
Trung Quốc tiêu thụ tới 51% lượng thàn toàn cầu.
Nguyên nhân chủ yếu là do các ngành công nghiệp tiêu hào năng lượng lớn như thép,
xi măng, hóa chất và phần lớn năng lượng cho các ngành này đều đến từ thàn.
Nhắc đến đây, tôi chợt nhớ một dữ liệu từng xem.
Trong tất cả các thành phố cấp địa khu ở Trung Quốc,
thành phố có GDP bình quân đầu người cao nhất là nơi nào?
Không phải Bắc Kinh hay Thượng Hải vì dân số quá đông, mà là Odos thuộc nội Mông.
Tất nhiên, bảng xếp hàng này không hẳn tuyệt đối, nhưng Odos gần như luôn đứng top 1 hoặc 2.
Tại sao ư? Vì nơi này có ngành công nghiệp thàn khổng lồ,
đồng thời cũng có chữ lượng khí tự nhiên rất lớn.
Tuy nhiên, dù than có sản lượng rất lớn,
nhưng nếu xét từ góc độ chiến lược quốc gia và ảnh hưởng đến cung diện năng lượng toàn cầu,
thì Trung Quốc chỉ nhọc khẩu hơn 10% nhu cầu than chủ yếu từ Indonesia,
Mông Cổ và Nga, đều là các nguồn gần.
Vì vậy, hệ thống này tương đối ổn định và không tác động quá lớn đến cấu trúc năng lượng toàn cầu.
Đó cũng là lý do vì sao tin tức hàng ngày chủ yếu nói về dầu mỏ và khí tự nhiên,
chứ rất ít khi nghe đến cuộc chiến than đá toàn cầu.
Tiếp theo, chúng ta nói về dầu mỏ.
Dầu thì hoàn toàn khác. Toàn cầu mỗi ngày sản xuất khoảng 100 triệu thùng dầu,
trong đó 70 triệu thùng tham gia vào thương mại quốc tế.
Về sản xuất, Trung Đông chiếm khoảng 30%, Mỹ khoảng 20%, Nga khoảng 10%.
Đây là những khu vực chủ lực.
Về tiêu thụ, Mỹ và Trung Quốc là hai ông lớn.
Mỹ tiêu thụ khoảng 19%, khoảng 19 triệu thùng trên ngày.
Trung Quốc thì khoảng 16%, Toàn châu Âu cộng lại khoảng 14%.
Những con số này có lẽ cũng phù hợp với nhận thức chung.
Nhưng điều tôi muốn nhìn sâu hơn là cấu trúc dầu mỏ toàn cầu.
Vì vậy, chúng ta loại bỏ phần tự sản xuất, tự tiêu thụ trong nội địa,
và chỉ tập trung vào thương mại xuyên quốc gia, ai phụ thuộc vào ai.
Dẫn đầu tuyệt đối là đại ca Trung Đông, tiêu thụ ít, chủ yếu là cung cấp.
Tiếp theo là Nga, Canada, Mỹ, sản xuất nhiều, nhưng xuất khẩu dòng không quá lớn do tiêu thụ nhiều.
Còn khu vực nhập khẩu dòng lớn nhất là châu Âu, Ấn Độ và Nhật Bản.
Nếu xét theo tỷ lệ nhập khẩu dầu,
thì châu Âu khoảng 87%, Ấn Độ 80%, Nhật Bản 97%, Singapore 75%.
Rõ ràng các khu vực này phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu dầu.
Nhưng nếu nhìn sâu hơn, chúng ta cần biết trong tổng tiêu thụ năng lượng của một quốc gia bao nhiêu phần phụ thuộc vào nhập khẩu dầu.
Ví dụ Trung Quốc, hơn một nửa năng lượng là từ thàn, dầu chỉ chiếm khoảng 18%.
Trong 18% này, khoảng 3,4% là nhập khẩu, tức là khoảng 13% tổng năng lượng đến từ dầu nhập khẩu.
Con số này không nhỏ, nhưng cũng không quá đáng sợ.
Áp dụng cách tính tương tự, châu Âu phụ thuộc khoảng 31%, Ấn Độ 21%, Nhật Bản 36%, Singapore thì lên tới 65%.
Hàn Quốc không có số liệu chi tiết, nhưng ước tính khoảng 50%.
So sánh như vậy, bạn sẽ thấy rằng những khu vực phụ thuộc nhiều nhất vào dầu nhập khẩu là Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản và châu Âu.
Trong đó, châu Âu có nguồn nhập khá đa dạng, Mỹ, Trung Đông, Châu Phi, Nga.
Còn Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore phụ thuộc gần như chủ yếu vào Trung Đông.
Ấn Độ trước đây cũng phụ thuộc Trung Đông, nhưng gần đây đã bổ sung thêm một nguồn lớn, đó chính là Nga, với khoảng 1 triệu thùng trên ngày.
Từ phân tích này, chúng ta có thể rút ra một điều rằng, nếu El Hormuz bị phong tỏa, xét về sản lược, Trung Quốc và Ấn Độ chịu ảnh hưởng lớn nhất.
Nhưng nếu xét về tác động đến toàn bộ hệ thống năng lượng quốc gia, thì Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore mới là những nước bị ảnh hưởng nặng hơn.
Tiếp theo là một nguồn năng lượng rất quan trọng, khí tự nhiên.
Hai quốc gia sản xuất khí lớn nhất thế giới, vượt trội hoàn toàn là Mỹ và Nga.
Trung Quốc dù sản xuất nhiều, nhưng vẫn phải nhập khẩu lượng lớn.
Trong lĩnh vực khí đốt toàn cầu, có thể gọi là 5 ông lớn xuất khẩu, gồm Mỹ, Nga, Naui, Qatar và Úc.
Ngoài ra còn có Canada, Turkmenistan, Algeria, Malaysia.
Trong số này, còn một quốc gia rất đáng chú ý, đó chính là Iran.
Xét về chữ lượng, Iran đứng thứ 2 thế giới, chiếm khoảng 17% tổng chữ lượng khí tự nhiên toàn cầu.
Mỏ khí lớn nhất thế giới mà chúng ta vừa nhắc đến, Ladnordfield, chính là khu mỏ mà Iran và Qatar cùng che xe.
Dù chúng ta chưa biết tình hình chính trị sẽ phát triển ra sao, nhưng Iran rõ ràng có tiềm năng trở thành một ông lớn trong lĩnh vực khí tự nhiên.
Khí tự nhiên tuy sạch hơn dầu mỏ và là nguồn năng lượng lý tưởng hơn, nhưng lại có một điểm khó hơn so với dầu, đó là vận chuyển.
Hiện nay có 2 hình thức vận chuyển chính, đường ống và khí tự nhiên hóa lỏng LNG.
Nhìn trực quan thì bạn sẽ thấy, vận chuyển bằng đường ống sau khi xây dựng xong sẽ rất tiện lợi, gần như một lần cho mãi mãi.
Nhưng chi phí đầu tư ban đầu rất cao và không phù hợp cho vận chuyển đường dài xuyên đại dương.
Nếu nhìn vào bản đồ hệ thống đường ống, bạn sẽ thấy một số tuyến lớn như từ Naui sang châu Âu, từ Nga sang châu Âu và Trung Quốc.
Hệ thống dày đặc trong nội bộ Bắc Mỹ và tuyến từ Turkmenistan sang Trung Quốc, đây đều là các tuyến có lưu lượng lớn.
Còn với LNG, 3 tuyến vận chuyển chính là Qatar sang châu Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ sang châu Âu và Úc sang châu Á.
Do khí tự nhiên trước đây chủ yếu phụ thuộc vào đường ống nên bị hạn chế bởi yếu tố vận chuyển, khiến nó không hoàn toàn hóa mạnh như dầu mỏ.
Hiện này trong tổng tiêu thụ khí tự nhiên toàn cầu chỉ khoảng 20% là thông qua thương mại quốc tế.
Mà ngay trong phần này, một tỷ trọng lớn vẫn là giao dịch nội bộ như trong Bắc Mỹ hoặc trong châu Âu, ví dụ Naui cung cấp cho các nước châu Âu khác.
Nếu lại bỏ các giao dịch nội vùng này, thì vai trò của thương mại khí tự nhiên đối với toàn bộ cấu trúc năng lượng toàn cầu thực ra khá hạn chế.
Đây cũng là lý do vì sao bạn cảm thấy khí tự nhiên rất quan trọng. Nhưng truyền thông lại nói nhiều về dầu mỏ hơn.
Tổng kết lại, trong cuộc diện năng lượng toàn cầu hiện nay, năng lượng hóa thạch vẫn chiếm khoảng 90% tổng tiêu thụ.
Trong đó, than mang tính khu vực rõ rệt, tập trung ở Trung Quốc và Ấn Độ.
Dầu mỏ là thị trường toàn cầu hóa, tài chính hóa mạnh nhất và gắn chặt nhất với kinh tế thế giới.
Còn khí tự nhiên, dù hiện vẫn mang tính khu vực, nhưng đang tăng trưởng rất nhanh, và một khi bị gián đoạn, thì các quốc gia liên quan rất khó xoay chuyển.
Về tương lai, dù chúng ta có cảm giác rằng thế giới đang đẩy mạnh năng lượng sạch và xanh, như thế năng lượng hóa thạch sắp bị thay thế hoàn toàn.
Nhưng theo ước tính của Cơ quan Năng lượng Quốc tế, viết tắt là IEA, đến năm 2050 vẫn còn khoảng 60% năng lượng toàn cầu đến từ nhiên liệu hóa thạch.
Dù đây chỉ là ước tính sơ bộ, nhưng cũng cho thấy những xung đột và cạnh tranh xoay quanh năng lượng hóa thạch sẽ còn kéo dài vài thập kỷ nữa.
Trong ít nhất 20-30 năm tới, dâu mò vẫn sẽ là chiến trường chính của năng lượng toàn cầu, Trung Đông vẫn là trung tâm xuất khẩu lớn, và các quốc gia sở hữu tài nguyên này vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng.
Khí tự nhiên trong thời gian tới sẽ ngày càng quan trọng hơn, khi công nghệ hóa lỏng phát triển dần chuyển từ thời đại đường ống sang thời đại vận tải đường biển.
Bên cạnh đó là năng lượng mới, xu hướng này chắc chắn không thay đổi và sẽ ngày càng quan trọng.
Nhưng điều đáng chú ý là, cạnh tranh không chỉ nằm ở công nghệ như pin hay tấm pin mặt trời, mà nằm ở khai thác, luyện kim và chế biến tài nguyên như đồng, lithium, nickel, cobalt, đất hiếm.
Các nguồn tài nguyên này phân bố chủ yếu như khu vực Châu Phi, Úc, Nam Mỹ, Indonesia, Chile.
Và đây cũng là một chủ đề rất lớn mà chúng ta có thể bàn sâu hơn ở những video sau.
Hôm nay, chúng ta bắt đầu từ eo biển Hồ Mớt, rồi mở rộng ra toàn bộ cục diện năng lượng toàn cầu và xu hướng phát triển trong tương lai.
Không phải là phát hiện gì quá chấn động, nhưng hy vọng giúp bạn có một khung nhìn tổng thể rõ ràng hơn, cá nhân tôi tìm hiểu cũng thấy rất hữu ích.
Còn bạn thấy sao về chủ đề này? Nếu thấy hay thì nhớ để lại bình luận nhé!
Còn bây giờ thì xin chào và hẹn gặp lại!
