Người Nhìn Tướng Trời Nhìn Tâm Chuyện Nhân Quả

Sống thuận tự nhiên
437 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AICâu chuyện xoay quanh Tả Viễn Sơn, một thầy tướng số lỗi lạc tại Trường An, và cuộc xung đột tư tưởng gay gắt với con trai là Tạ An. Từ một người tin tuyệt đối vào định mệnh, Tả Viễn Sơn đã trải qua hành trình thức tỉnh đau đớn khi con trai gặp nạn, để rồi từ bỏ thiên cơ, chọn tình thân và sự thấu cảm để chữa lành mối quan hệ cha con và tìm lại ý nghĩa thực sự của cuộc sống.
Người đời vẫn tin ai nhìn thấu số mệnh người khác,
ác sẽ tránh được tai họa cho chính mình.
Nhưng ở Trường An năm ấy,
có một thầy tướng đoán đúng nghèo giàu, phúc họa, sống chết của thiên hạ.
Chỉ đến khi con trai ông bị tống vào đại lao,
ông mới phát hiện điều mình giỏi nhất,
lại là thứ vô dụng nhất trước cửa nhà mình.
Và cái giá của lần tịnh ngộ ấy còn đắt hơn mọi quẻ số ông từng xem.
Năm trinh quán thứ 13,
phía nam Trường An có một con ngõ nhỏ lát đá xanh.
Mùa mưa reo mọc trơn như bôi dầu.
Cuối ngõ là căn nhà mái thấp,
tường vôi đã ngả màu khói bếp.
Nhà không biển hiệu, không treo cờ,
cũng chẳng có tiếng giao mời khách.
Thế nhưng, từ sáng sớm đến tận khi đèn trong thành đã lên,
trước cửa nơi ấy vẫn luôn có người đứng đợi.
Kẻ mặc áo gấm,
người đi dày dơm,
có bà láo chống gậy run tay,
có thương nhân bụng lớn,
ngón tay đeo nhẫn ngọc,
có viên xa nhà lấm bùn chưa kịp phủi ống quần.
Mỗi người đến mang theo một nỗi lo khác nhau,
nhưng khi đứng trước cánh cửa gỗ cũ kỹ kia,
ai cũng hạ giọng như sợ nói lớn,
sẽ kinh động điều gì vô hình.
Người trong nhà họ đợi tên là Tả Viễn Sơn.
Ông ngoài 50,
thân hình gầy, lưng thẳng,
dâu điểm bạc nơi cầm.
Áo vải xanh giặt nhiều đến bạc màu,
trên tay không ngọc quý,
dưới chân không dày tốt.
Nhìn qua,
chẳng khác một lão nho sinh nghèo
sống bằng nghề dạy chữ.
Chỉ có đôi mắt ông là thứ khiến người khác khó quên.
Mắt ấy không sắc,
không lạnh.
Nhưng khi nhìn ai,
người ta có cảm giác như lớp áo ngoài của mình
vừa bị gió lật lên.
Tả Viễn Sơn có một thói quen kỳ lạ.
Khách bước vào,
ông hiếm khi nhìn mặt ngày.
Ông nhìn bóng người ấy đổ xuống nền gạch trước tiên.
Có khi nhìn bàn tay đặt trên đầu gối.
Có khi nhìn cách họ ngồi xuống ghế.
Có khi chỉ nghe ba câu nói rồi
im lặng rất lâu.
Sau đó ông mới mở miệng.
Mà hết đã mở miệng, cả ngõ nhỏ đều truyền nhau rằng
ít khi xài.
Sáng hôm ấy,
người đầu tiên bước vào là một thương nhân bán vải ở chợ Tây.
Ông ta chưa kịp ngồi
đã lấy khăn lau mồ hôi,
cười nói rằng năm nay làm ăn phát đạt,
muốn thuê thêm 3 kho chứa hàng.
Xin tiên sinh xem ngày tốt để mở cửa.
Tả Viễn Sơn nhìn chiếc nhẫn vàng
trên tay ông ta.
Rồi nhìn vệt chỉ đỏ còn dính nơi cổ tay áo.
Ông hỏi, kho cũ đầy chưa?
Thương nhân khựng lại một nhịp rồi cười gượng.
Tạ Viễn Sơn giót trả,
giọng đều như nước chảy.
3 tháng nữa, chở xây thêm,
giữ tiền sửa mái nhà phía đông.
Thương nhân câu mày, mái nhà ta chắc lắm.
Tạ Viễn Sơn không nói nữa,
người kia ra về với vẻ nửa tin nửa ngờ.
Đúng 3 tháng sau,
một trận gió lớn thổi qua chợ Tây.
Lửa từ quán đèn dầu bén sang kho vải.
Người ta cứu được hàng ở 3 kho mới dựng,
nhưng kho cũ phía đông sập mái,
lửa ăn sạch đến viên gạch cuối cùng.
Thương nhân hôm sau mang lễ lớn đến tạ,
cuối đầu thật thấp trước cửa nhà tranh.
Tin ấy truyền đi, người đợi ngoài ngõ càng đông.
Đến trưa, một quả phụ
dắt theo con gái nhỏ bước vào.
Áo bà vá nhiều chỗ, gót dày mòn lệch.
Bà nói đã 3 năm thủ tiết,
nhà chồng nghèo, họ hàng rục tái giá.
Bà sợ mang tiếng,
cũng sợ con gái chịu khổ,
không biết nên tiến hay lui.
Tạ Viễn Sơn nhìn đứa bé
đang nắm chặt vặt áo mẹ,
rồi nhìn đôi tay nứt nẻ của người đàn bà.
Ông nói, qua mùa đông này,
có người mang họ chu đến hỏi cưới.
Đi đi, quả phụ đỏ mắt.
Nhưng người đời sẽ chê cười.
Tạ Viễn Sơn nhắc chén trả lên,
người đời không nuôi con giúp bà.
Người đàn bà quỳ xuống lại ba lạnh rồi lui ra.
Năm sau,
quả nhiên bà tái giá với một thợ rèn
góa vợ họ chu ở đầu thành.
Người đàn ông ấy ít nói, nhưng thật thả,
coi đứa bé như con ruột.
Mỗi lần đi ngang con ngõ đá xanh,
bà đều ghé đặt trước cửa nhà,
tranh một túi bánh nóng, rồi lặng lẽ rời đi.
Chiều xuống, một cỗ kiệu dừng trước cửa.
Người bước xuống là viên chủ bạ của phủ nhà.
Mặt ông ta hồng hào, áo mũ trình tề,
vẻ mặt dấu không nổi niềm vui.
Ông ta nói nhỏ,
trong phủ đang khuyết trức.
Ta nghe tên mình đã được nhắc đến,
xin tiên sinh xem có nên chuẩn bị tiệc mừng không.
Tạ Viễn Sơn nhìn bàn chân vị quan,
đôi giày mới tinh nhưng dính một chấm bùn vàng ở gót trái.
Ông hỏi,
hôm qua ngày có đi phía bắc thành?
Vị chủ bạ giật mình.
Có.
Vậy thì đừng mở tiệc.
Người kia cười nhạt.
Tiên sinh lần này e quá lo xa.
Ba ngày sau, quan trên bị cha xét
vì nhận lễ của dân Buôn Mối.
Danh sách người qua lại phủ đường bị lục ra.
Vị chủ bạ từng ghé phía bắc thành
gặp người trung gian nên bị liên lụy.
Chức chưa thăng đã bị ráng xuống,
làm thư lại coi khò.
Khi tin ấy đến tay dân chúng,
con ngõ nhỏ gần như trật cứng.
Người ta gọi Tạ Viễn Sơn là người đọc được thiên cơ.
Nhưng trong căn nhà ấy,
mọi thứ vẫn cũ.
Chiếc bàn gỗ mẻ góc vẫn kê bên cửa sổ.
Ấm trà đất nung xứt miệng vẫn dùng hàng ngày.
Bữa tối của ông vẫn chỉ là bát cơm trắng,
đĩa cải luộc, thêm chút tương đen.
Khách mang vàng vạc đến Tạ.
Ông chỉ nhận vừa đủ thay dầu đèn,
còn lại bảo đem bố thí nơi khác.
Có người nói ông cao khiết.
Có người nói người nhìn thấu phúc họa,
nên chẳng còn ham gì.
Tạ Viễn Sơn nghe hết,
không nhận cũng không chối.
Đêm đến, khi người cuối cùng rời khỏi ngõ,
ông tự tay quét lá trước sân.
Gió đầu thu thổi qua làm tạ áo xanh lay nhẹ.
Trên nền gạch ẩm,
bóng ông kéo dài cô độc.
Trong nhà, một thiếu niên chừng 17 tuổi ngồi cạnh ngọn đèn dầu,
đang viết chữ.
Nét bút mạnh tay đến mức đầu bút xước cả giấy.
Đó là Tạ An, con trai ông.
Thằng bé nghe tiếng chổi ngoài sân không ngần đầu.
Ngoài cửa, có người đi ngang vẫn còn thì thầm.
Tạ tiên sinh quả là thần nhân.
Tạ An đặt bút xuống.
Cậu nhìn ra khoảng sân tối,
cười nhạt một tiếng.
Từ sau mùa thu năm ấy,
danh tiếng của Tạ Viễn Sơn càng lan xa hơn trước.
Người trong thành có chuyện lớn nhỏ
đều nhắc đến tên ông,
như nhắc đến một lối thoát cuối cùng.
Có nhà muốn cưới dâu,
hỏi ngày nào vào cửa thì vượng.
Có người định bán đất,
hỏi năm nay nên giữ hay nên buồn.
Có kẻ mắc bệnh lâu ngày không khỏi,
cũng tìm đến xem vận hạn còn bao nhiêu.
Mỗi sáng, khi nắng còn chưa vượt khỏi đầu tường,
trước cửa nhà tranh đã có tiếng gõ nhẹ.
Tạ Viễn Sơn vẫn như mọi ngày,
rửa mặt, đun trả, mở cửa,
ngồi xuống chiếc ghế gỗ cũ,
áo xanh ngay ngắn, lưng thẳng như dây kéo.
Chỉ khác một điều,
càng nhiều người tin ông, lời ông càng ngắn.
Một buổi sớm,
có người đàn bà chừng 40 dẫn theo đứa con trai nhỏ đến.
Mắt bà trũng sâu vì mất ngủ,
vai áo còn dính bụi bếp.
Vừa vào sân bà đã quỳ xuống.
Tiên sinh cứu tôi!
Tạ Viễn Sơn không đỡ bà dậy.
Chuyện gì?
Chồng tôi trước kia hiền lành.
Hai năm nay xa vào rượu trẻ,
nợ nần, đập phá trong nhà.
Tôi khuyên không được, văn không xong.
Con trai tôi đêm nào cũng trốn dưới gầm bàn mà khóc.
Xin tiên sinh chỉ cho tôi một con đường.
Đứa bé nếp sau lưng mẹ,
hai tay ôm chặt ống tay áo dách.
Tạ Viễn Sơn nhìn đứa trẻ,
rồi nhìn người đàn bà thật lâu.
Ông nói, duyên vợ chồng của bà đã cạn.
Người đàn bà run mồi.
Còn cách nào cứu không?
Không!
Một chữ rơi xuống sân như viên đá lạnh.
Bà vẫn quỳ đó,
nước mắt chảy dài.
Tiên sinh, nếu tôi nhẫn thêm vài năm thì sao?
Khổ thêm vài năm.
Nếu tôi đưa chồng đi cai rượu.
Người không muốn tỉnh, ai kéo cũng vô ích.
Bà cúi đầu thật thấp,
dắt con đi ra.
Đứa bé ngoái nhìn lại một lần.
Trong mắt không có oán hận,
chỉ có sự hoang mang của một đứa trẻ,
chưa hiểu vì sao người lớn nào cũng bất lực.
Cửa vừa khép, Tạ An từ trong nhà bước ra.
Cha vừa đuổi họ đi.
Tạ Viễn Sơn rót chả.
Ta nói điều sẽ xảy ra.
Nhưng họ đến để hỏi nên làm gì?
Làm gì cũng khó đổi.
Tạ An cười nhạt.
Vậy người chết khát tìm giếng,
cha chỉ đứng nhìn rồi bảo số hắn phải khát sao?
Tạ Viễn Sơn đặt chén chả xuống.
Con còn nhỏ, chưa hiểu đời.
Con chỉ thấy cha hiểu số mà không hiểu người.
Không khí trong sân lập tức lạnh đi.
Tạ Viễn Sơn không đáp nữa.
Tạ An quay người vào nhà,
bước chân mạnh đến mức bụi trên ngạch cửa cũng rung lên.
Đến giữa trưa,
một người đàn ông gầy gò vào sân.
Ông ta mang theo túi giấy đựng thuốc,
trên lưng còn đeo gũi tre.
Vừa nhìn đã biết từ xa đến.
Ông ta chắp tay.
Tôi có đứa con trai 20 tuổi.
Nó theo đám bạn xấu, trộm bạc của người ta,
rồi bỏ trốn.
Quan phủ đang truy tìm.
Tôi bán sạch lúa giống mới gom đủ lộ phí lên đây.
Xin tiên sinh xem nó còn cứu được không?
Tạ Viễn Sơn hỏi.
Ngày sinh.
Người kia đọc rõ ràng.
Tạ Viễn Sơn bấm ngón tay, im lặng một lúc rồi nói.
Đường nó đã lệch.
Người cha nghe mà trắng mặt.
Lệch thì kéo lại được không?
Khó. Tôi đi tìm nó,
mang nó về quỷ tạ tội.
Liệu còn kịp không?
Tạ Viễn Sơn nhìn chiếc gùi đã sờn quai trên vai ông ta.
Có những cây cong từ gốc.
Người đàn ông chết lặng.
Ông ta đứng rất lâu mới cúi đầu.
Đa tạ tiên sinh.
Khi người ấy đi khuất,
lục sinh đang nghiền mực trong góc nhà mới lên tiếng.
Lục sinh là học trò duy nhất
Tạ Viễn Sơn nhận ở lại.
Chàng trai hơn hai mươi, dáng người mạnh,
mắt sáng, nói năng luôn giữ lễ.
Nhưng khác với những kẻ chỉ biết
cúi đầu nghe lời, lục sinh hay hỏi
những câu khiến người khác khó chịu.
Thưa thầy. Nói.
Nếu thầy bảo cây cong từ gốc,
người cha ấy sẽ còn sức mà đi tìm con không?
Đó là chuyện của ông ta.
Nếu ông ta bỏ cuộc vì lời thầy,
chẳng phải thầy cũng vừa tham dự
vào số mệnh của họ sao?
Tạ Viễn Sơn nhếu mày.
Người đọc sách nhiều mà hồ đổ.
Ta chỉ nói điều có sẵn.
Lục sinh cúi đầu, nhưng vẫn nói tiếp.
Nếu điều có sẵn không ai thay nổi,
vì sao người ta còn phải sống từng ngày?
Trong sân chỉ còn tiếng nước sôi
lách tách nơi bếp nhỏ.
Tạ Viễn Sơn nhìn học trò thật lâu.
Vì con người không biết trước,
con ta chỉ là người nhìn thấy sớm hơn.
Lục sinh không tranh luận nữa.
Chàng tiếp tục nhìn mực,
nhưng ánh mắt trầm xuống.
Buổi chiều, khách thưa dần.
Tạ Viễn Sơn ngồi một mình bên cửa sổ,
xem lại những tờ giấy ghi ngày tháng năm sinh của khách.
Mỗi cái tên với ông
chỉ như một đường chỉ đã diệt sẵn.
Có đường dài, có đường đứt,
có đường dối.
Ông chưa từng nghĩ mình tàn nhẫn.
Ông không lấy bạc lừa người,
không hứa điều giả dối,
không bài trò thần quái.
Ông chỉ nói điều ông tin là thật.
Đời người như nước chảy
từ núi cao xuống thấp.
Ai đủ sức kéo cả dòng sông quay đầu.
Ngoài sân, nắng xế nghiêng qua bức tường cũ.
Tạ An đang trẻ củi.
Mỗi nhát rìu bổ xuống
đều mạnh và gắt.
Mạnh gỗ văng tung tóe.
Tạ Viễn Sơn nhìn con trai qua khung cửa.
Chàng thiếu niên ấy có đôi mắt rất giống mẹ.
Khi vui thì sáng,
khi giận thì rực như than.
Ông từng xem tướng cho bao người,
nhưng với đứa con đang đứng ngay trong sân nhà mình,
ông chỉ thấy một làn xương mỏng
khó gọi tên.
Lục sinh từ trong bếp bước ra, khẽ nói
Thưa Thầy, có lúc biết nhiều quá
lại thành không thấy gì.
Tạ Viễn Sơn nhắc chén trà lên
giọng nhạt như cũ.
Người càng ngày càng nhiều lời.
Nhưng lần này ông không uống.
Nếu Trường An biết đến Tạ Viễn Sơn vì sự điềm tĩnh
thì trong căn nhà nhỏ cuối ngõ
người ta sẽ biết đến Tạ An vì tính nóng
như lửa bén dơm khô.
Cậu bước đi nhanh, nói nhanh, giận cũng nhanh.
Khi vui, cả sân nhà như sáng hơn.
Khi nổi nóng,
đến con chó hoang thường nằm trước cửa,
cũng tự biết tránh sang bên.
Điều khiến hai cha con càng khó gần nhau
là Tạ An chưa từng tin nghề của cha.
Từ nhỏ,
cậu đã chán cảnh người lạ ra vào nhà mình
với vẻ mặt lo âu, rồi ra về hoặc nhẹ nhóm
hoặc nặng nề hơn lúc đến.
Cậu không hiểu vì sao vài câu nói
có thể đè lên vai người khác cả một đời.
Có lần mới 13 tuổi,
cậu hỏi, nếu cha nói người kia
nên năm nay gặp họa, rồi ông ta vì sợ
mà không dám làm gì nữa.
Cái họa ấy là trời cho hay cha cho?
Tạ Viễn Sơn đặt sách xuống,
chỉ đáp, con nít đừng hỏi chuyện lớn.
Từ đó,
Tạ An ít hỏi nữa.
Cậu đem sức lực của mình vào những việc khác.
Sửa mái nhà rột, bổ củi,
khinh nước, hễ hàng xóm có việc nặng là cậu sang giúp.
Làm xong phủy tay đi về,
chẳng cần cảm ơn.
Trong mắt người ngoài, cậu là đứa con tốt.
Trong mắt Tạ Viễn Sơn, cậu là khúc gỗ
cứng đầu chưa chịu vào khuôn.
Một chiều cuối năm,
gió bắc tràn qua con ngõ nhỏ.
Tạ Viễn Sơn gọi con trai vào nhà.
Trên bàn là bộ sách Thánh Hiền đã buộc dây ngay ngắn.
Sau Tết, con theo ta học nghề.
Tạ An đứng im.
Học nghề gì?
Xem người, xem thế, xem đường đời.
Tạ An bật cười.
Con còn chưa hiểu lòng người sống cạnh mình
học để xem người thiên hạ làm gì.
Mặt Tạ Viễn Sơn trầm xuống.
Con ăn nói với cha như thế sao?
Con nói thật.
Thật không phải lúc nào cũng nên nói.
Vậy giả mới hợp nghề này.
Chiếc chén trà trong tay Tạ Viễn Sơn
đặt xuống mạnh hơn thường ngày.
Con hỗn.
Tạ An siết chặt quai hàm nhưng không lùi.
Con không muốn ngồi đoán đời người.
Con muốn ra ngoài làm ăn, tự kiếm đường sống.
Làm ăn.
Tạ Viễn Sơn lành giọng.
Con tưởng ngoài kia dễ sao?
Khó mới đáng sống.
Con chưa trải đời vì cha chưa từng để con bước ra.
Hai người nhìn nhau.
Ngọn đèn dầu trên bàn lay nhẹ
trong gió lùa qua khe cửa.
Lục sinh ngồi chép sách ở góc nhà.
Tay dừng giữa trang giấy nhưng không dám ngẩn lên.
Một lúc lâu Tạ Viễn Sơn nói
Nhà này không thiếu cơm áo.
Con cần gì phải lao đầu vào chỗ hiểm.
Tạ An đáp rất khẽ
nhưng từng chữ đều rõ.
Con không muốn sống bằng cái biết của người khác.
Câu nói ấy khiến căn phòng im phăng phắc.
Tạ Viễn Sơn quay mặt đi.
Ra ngoài.
Tạ An không chào
bước thẳng ra sân.
Đêm đó trong bữa cơm chỉ còn tiếng đũa chạm bát.
Không ai nói gì.
Bên ngoài gió quất vào tàu lá chuối
nghe như roi quất.
Những ngày sau không khí trong nhà nặng như đá.
Tạ Viễn Sơn vẫn tiếp khách như thường.
Tạ An vẫn làm việc như thường.
Nhưng giữa hai người là một khoảng trống
càng lúc càng rộng.
Có lần quả phụ họ Chu mang bánh nóng đến cảm tạ.
Thấy cha con mỗi người ngồi một góc.
Bà chỉ thở dài.
Người ngoài mong vào nhà này
để hỏi đường đời.
Người trong nhà lại chẳng biết nói với nhau một câu.
Không ai đáp.
Mùa xuân năm sau, Tạ An quen
nhóm thanh niên ngoài chợ đồng.
Họ buôn hàng nhỏ, chở trà, bán giấy,
đổi vải lấy thuốc bắc từ vùng khác
mang về.
Họ kể chuyện đường xa, chuyện sông lớn,
chuyện bạc kiếm bằng đôi tay chứ không bằng quẻ số.
Mắt Tạ An sáng lên mỗi lần nghe.
Cậu bắt đầu về muộn hơn.
Có hôm trời tối hẳn mới đẩy cửa vào nhà.
Người nồng mùi bụi đường.
Tạ Viễn Sơn hỏi, đi đâu, ra ngoài,
với ai, bạn,
loại bạn gì, loại không xem thường con.
Câu nói ấy như mồi lửa rơi
vào giơm khô.
Tạ Viễn Sơn đập bàn đứng dậy.
Con tưởng ta xem thường con.
Tạ An cũng không lùi.
Cha xem thường tất cả những gì cha không tính được.
Lục sinh vội bước ra căng ngăn, nhưng đã muộn.
Tạ Viễn Sơn chỉ tay ra cửa.
Nếu con giỏi như thế,
cứ đi mà sống theo ý mình.
Tạ An cười ngắn.
Con cũng đang định vậy.
Cậu quay vào buồng, lấy túi vải đã chuẩn bị từ trước.
Chỉ vài bộ áo, ít bạc vụn,
con dao nhỏ dùng đi đường.
Ra đến cửa, cậu dừng lại một nhịp.
Có lẽ chờ ai đó giữ mình.
Nhưng trong nhà chỉ có tiếng thở nặng của người cha.
Tạ An bước đi.
Bóng cậu khuất dân ở cuối ngõ đá xanh.
Lục sinh chạy ra đến cửa
vẫn chỉ thấy gió cuốn bụi lên mờ mịt.
Trong sân, Tạ Viễn Sơn đứng rất lâu không động.
Một lúc sau, ông quay vào nhà,
ngồi xuống bàn như chưa có gì xảy ra.
Ông kéo ngăn bàn,
lấy mai rùa và thẻ tre ra reo quẻ.
Lục sinh nhìn thấy mặt xứng lại.
Thưa thầy, người vừa đi là con trai thầy.
Tạ Viễn Sơn không ngẳng đầu.
Tạ biết.
Những thẻ tre rơi xuống mặt bàn kêu lách cách.
Ông nhìn thật lâu,
sắc mặt lần đầu hơi đội.
Ba năm tới, nó có nạn lao ngục.
Lục sinh bước lên một bước.
Vậy phải đi tìm ngay.
Tạ Viễn Sơn khép mắt.
Đã là số, tránh cũng vô ích.
Ngoài sân, cánh cửa gỗ chưa cải kín,
vẫn đung đưa theo gió đêm.
Tạ An rời nhà từ đêm ấy.
Những ngày đầu, người trong ngõ
còn thấy cậu ghé qua chợ đông,
khiêng hàng cho lái buôn, chạy việc cho tiệm giấy,
có hôm theo xe ngựa ra khỏi thành rồi tối mới về.
Nhưng dần dần,
bóng dáng ấy biến mất hẳn, như hòn sỏi ném xuống sông,
chỉ gợn một vòng rồi chìm.
Không ai nhắc trước mặt Tạ Viễn Sơn.
Những câu hỏi của thiên hạ
vẫn phủ kín căn nhà nhỏ từ sáng đến tối,
chỉ có chiếc ghế gỗ cạnh cửa sổ thường bỏ trống.
Lục sinh đôi lần muốn nói chuyện Tạ An,
nhưng thấy sắc mặt thầy mình như mặt hồ mùa đông,
chạm vào chỉ thêm lạnh,
nên lại thôi.
Một năm trôi qua,
rồi hai năm,
Tạ Viễn Sơn càng nổi tiếng hơn trước.
Có người từ huyện Sa đi suốt ba ngày đường
chỉ để xin ông xe một quẻ.
Có vị quan sai người mang lễ vật đến tận cửa,
mời ông vào phù làm khách.
Ông đều từ chối.
Người đời càng kính phục sự thanh cao ấy.
Họ nói người không tham tiền
mới thật sự gần thiên cờ.
Nhưng đêm đến, khi khách đã tan,
đôi khi Tạ Viễn Sơn đứng rất lâu
ngoài sân nhìn cánh cửa gỗ.
Như thế chỉ cần đứng đủ lâu
sẽ nghe lại tiếng chân năm nào trở về.
Rồi ông lại quay vào nhà, không nhắc một lời.
Sáng đầu hạ năm thứ ba,
trời oi đến khó thở.
Không khí trong ngõ đặc quánh
như nước chưa sôi hẳn.
Tạ Viễn Sơn vừa mở cửa đã thấy
hai tên sai nhà đứng ngoài.
Áo đen, đao bên hồng, dây dính bụi đường dài.
Một người chắp tay theo lễ.
Xin hỏi đây có phải nhà Tạ Tiến Sinh?
Phải.
Từ huyện Vĩnh Sương đến,
có việc cần báo.
Lục sinh từ trong nhà bước ra,
vừa nhìn sắc mặt hai người đã thấy chẳng lành.
Tạ Viễn Sơn nghiêng người mời vào.
Tên sai nhà không ngồi.
Hắn mở túi giấy lấy ra một tờ công văn
rộng đều đều như đọc việc quen miệng.
Phạm nhân Tạ An, quê Trường An
bị bắt vì liên quan vụ nợ giả
ở bên Nam.
Trong lúc xô xát, đánh người trọng thường.
Hiện tạm giam chờ xét xử.
Theo luật, thân nhân được báo tìm.
Câu cuối vừa dứt,
cả các nhà im phăng phắc.
Lục sinh cảm giác sống lưng lạnh toát.
Ba năm trước, thầy đã nói đúng từng chữ.
Nhưng trên mặt Tạ Viễn Sơn
không có vẻ đắc ý của người đoán chúng.
Cũng không có vẻ ngạc nhiên
của người nghe tin dữ.
Chỉ là sắc mặt ông nhợt đi rất nhẹ,
nhẹ đến mức người ngoài khó nhận ra.
Ông hỏi,
nó bị thương không?
Tên sai nhà hơi ngận lên, có vẻ bất ngờ.
Không nặng, nhưng người bị đánh gãy
xương tay.
Tạ Viễn Sơn gật đầu, ta biết rồi.
Hai tên sai nhà đặt công văn xuống bàn
rồi rời đi.
Tin dữ chưa kịp nguội đã lan khắp con ngó.
Người bán đậu đầu đường
nói thầy Tạ quả thật thận.
Bà láo bán kim chỉ bảo ông nhìn xa hơn mắt phạm.
Đến chiều,
người ta truyền sang tận chợ Tây rằng
ngay cả con trai ruột Tạ Tiên Sinh
cũng thấy trước khỏa phúc ba năm.
Khách đến hôm ấy đông hơn mọi ngày.
Ai cũng muốn tận mắt nhìn người đoán
đúng cả cốt nhục của mình.
Một thương nhân cười nịnh,
Tiên Sinh thật khiến người ta kín phục.
Tạ Viễn Sơn chỉ nói,
hôm nay không xem.
Ông đóng cửa sớm nhất từ trước đến nay.
Chiều xuống,
nắng đỏ rơi nghiêng trên nền gạch.
Căn nhà vốn quen tiếng người này chống lạ thường.
Lục Sinh nhóm bếp nấu cháo rồi mang ra.
Thưa thầy, dùng chút gì đi?
Tạ Viễn Sơn ngồi bên bàn,
trước mặt là chén trà nguội từ sáng.
Ông không động đến cháo,
cũng không nhìn học trò.
Một lúc lâu, ông mới hỏi,
nếu biết trước mưa lớn,
ngươi có sửa mái nhà không?
Lục Sinh khựng lại, có.
Nếu biết trước người sẽ ngã xuống giếng,
ngươi có kéo họ lại không?
Có. Tạ Viễn Sơn nhìn vào khoảng không trước mặt.
Vậy vì sao,
ta lại không đi tìm nó?
Lục Sinh chưa từng nghe giọng thầy mình như thế.
Không còn cứng,
cũng không lạnh, chỉ mệt như người đi quá xa.
Chăng đặt bát cháo xuống,
khẽ nói vì thầy tin số mệnh mạnh hơn tình thân.
Tạ Viễn Sơn nhắm mắt.
Ngoài sân, ve đầu mùa râm gian y nổi.
Tiếng kêu càng nhiều càng làm căn nhà thêm trống.
Đêm ấy,
ông thầy Áo một mình đến huyện Lao.
Nhà giam nằm cuối phố Tây,
tường cao, cửa sắt đen xỉ.
Mùi ấm mốc và mùi người trộn vào nhau
nặng đến nghẹn thở.
Tên Cai Ngục nhận ra ông, vội niềm nở hơn thường lệ.
Thì ra là Tạ Tiên Sinh,
xin theo ta.
Đi qua dãy hành lang hẹp,
tiếng siềng xích kéo lê dưới nền đá nghe rợn người.
Có tiếng ho khan,
có tiếng chửi rùa,
có tiếng ai đó cười vô nghĩa trong bóng tối.
Cuối cùng, Cai Ngục dừng trước một song sắt.
Tạ An ngồi tự tưởng,
tóc dối, áo bẩn, gò má hốc đi nhẹo.
Cậu ngằng đầu lên.
Trong khoảnh khắc đầu tiên,
đôi mắt ấy vẫn giống ngày nào,
rồi nó đổi thành lạnh lẽo.
Cha đến rồi à?
Tạ Viễn Sơn nắm chặt tay áo trong tay áo rộng.
Con bị thương chỗ nào?
Tạ An cười khàn.
Cha đến thăm con,
hay đến xem khỏe mình có sai không?
Câu nói không lớn,
nhưng vang trong hành lang đá
như tiếng vật gì vỡ ra.
Cai Ngục lúng túng, lùi xa vài bước.
Tạ Viễn Sơn đứng ngoài song sắt,
lần đầu tiên không tìm được lời để nói.
Tạ An quay mặt vào tưởng.
Xem xong rồi thì về đi.
Ông vẫn đứng đó.
Một lát lâu sau, ông chỉ nói được một câu.
Ta sẽ đưa con ra.
Tạ An không quay lại.
Ba năm trước, cha cũng có thể làm vậy.
Trên đường về, trời bất trợt, đổ mưa.
Mưa đầu hạ nặng hạt,
đập xuống mái ngói, xuống mặt đường,
xuống vai áo người già đi một mình giữa phố vắng.
Tạ Viễn Sơn không mở ố.
Ông đứng rất lâu trước cổng đá nhà Lào,
mặc nước chạy dọc mặt.
Không rõ là mưa hay thứ gì khác.
Đêm ấy, Tạ Viễn Sơn
về đến nhà khi canh hai đã điểm.
Áo ông ướt xuống,
tóc bạc dính vào thái dương.
Nước mưa theo vặt áo nhỏ xuống nền gạch
thành từng vẹt dài.
Lục sinh nghe tiếng cửa mở, vội chạy ra đón,
nhưng vừa thấy sắc mặt thầy liền dừng lại.
Chàng chưa từng thấy Tạ Viễn Sơn già như vậy.
Không phải già vì tóc bạc,
mà là già vì khí lực trong người
như vừa bị rút mất một nửa.
Thưa thầy, để con nhóm bếp nấu nước nóng.
Không cần.
Tạ Viễn Sơn bước thẳng vào phòng trong,
lấy họm gỗ cất mai rùa,
thẻ tre, thiên bàn, sách mệnh lý
đặt lên bàn.
Ông châm thêm ba ngọn đèn.
Ánh lửa sáng rực căn phòng nhỏ như một lễ đạn.
Lục sinh đứng ngoài cửa nhìn vào,
lòng nặng như đá.
Chàng biết thầy mình đang làm điều
ông tin nhất suốt mấy chục năm,
tìm đường trong sách.
Suốt đêm tiếng thẻ tre rơi lách cách không dứt.
Lúc thì Tạ Viễn Sơn
cao mảy ghi chép.
Lúc thì vò nát tờ giấy ném xuống đất.
Lúc thì đứng dậy đi quanh bàn vài vòng
rồi ngồi xuống gieo lại.
Bên ngoài mưa tạnh từ lâu.
Bên trong trời của ông vẫn chưa sáng.
Canh ba quả, canh tư đến.
Cuối cùng Tạ Viễn Sơn
đẩy mạnh thiên bàn ra xa.
Chiếc đĩa gỗ xoay tròn rồi đổ nghiêng,
lăn xuống đất.
Ông nhìn đống sách trước mặt như nhìn một đám người xa lạ.
Lục Sinh bước vào,
lặng lẽ nhặt thiên bàn lên.
Thầy tìm được gì chưa?
Tạ Viễn Sơn cười nhạt, tiếng cười khô hơn giấy cũ.
Tìm được hung hiểm.
Còn cách cứu?
Trong sách không nói.
Lục Sinh đặt thiên bàn lên bàn,
nhìn thẳng vào thầy mình.
Có lẽ vì sách không cứu người.
Tạ Viễn Sơn ngẳng lên.
Ánh mắt ông mệt mỏi,
nhưng vẫn còn thói quen phản bác.
Người biết gì?
Con không biết thiên cờ.
Nhưng con biết người bị nhốt trong ngục không cần thêm một quẻ hung.
Người đó cần có người đứng ra vì hắn.
Căn phòng im lặng.
Ngọn đèn cháy khẽ lép bép.
Lục Sinh nói tiếp.
Thầy đang hỏi sách cách cứu con.
Sao thầy không tự cứu?
Mỗi chữ đều nhẹ,
nhưng rơi xuống lòng người nghe nặng hơn đã.
Tạ Viễn Sơn ngồi bất động rất lâu.
Bàn tay từng cầm quẻ,
không run trước mặt bao người,
nay đặt trên bàn mà các ngón tay co lại chậm chạp.
Trời gần sáng,
ông mới đứng dậy.
Ông không nhìn đống sách nữa.
Đi thay áo, theo ta ra ngoài.
Lục Sinh xỰng người.
Đây là lần đầu tiên sau bao năm
thầy hắn chọn bước ra khỏi lời đoán.
Sáng hôm đó,
cửa nhà Tạ Viễn Sơn không mở.
Người đến xem số đứng chờ ngoài ngõ,
gõ mãi không ai đáp.
Có người tiết công.
Có người đoán tiên sinh,
đang bế quan luận mệnh.
Có người nói chắc trong thành sắp có đại biến,
nên ông không tiện lộ thiên cơ.
Không ai biết bên trong,
Tạ Viễn Sơn đang lụp hòm lấy khế nhà.
Các nhà này là của tổ tiên để lại.
Không rộng, không quý,
nhưng là nơi ông sống nửa đời người.
Trên xà ngang còn dấu khắc chiều cao
Tạ An năm tám tuổi.
Góc sân còn chỗ vợ ông từng trồng khóm lan
trước khi mất.
Ông nhìn một vòng rất lâu,
rồi gấp khế nhà bỏ vào tay áo.
Việc đầu tiên ông đến làm
không phải nhà môn, mà là nhà người bị thương.
Nạn nhân tên Hứa Tam
làm nghề khuân vác ở Bến Nam.
Cánh tay phải bó nẹp tre,
mặt vàng vọt vì mấy ngày chưa làm được việc.
Vợ hắn vừa sắc thuốc
vừa nhìn khách lạ bằng ánh mắt đề phòng.
Khi nhận ra Tạ Viễn Sơn,
Hứa Tam cố ngồi dậy.
Tiên sinh đến xem ta còn sống được mấy năm sau.
Lời nói có gai.
Tạ Viễn Sơn không giận.
Ông cúi người hành lễ thật thấp.
Tôi đến thay con trai xin lỗi.
Vợ chồng Hứa Tam cùng xứng lại.
Danh tiếng của Tạ Viễn Sơn
trong thành ai chẳng biết.
Người như ông trước nay chỉ được người khác cúi đầu,
hôm nay lại đứng giữa căn nhà nghèo xin lỗi thay con.
Tạ Viễn Sơn lấy túi bạc
đặt lên bàn. Tiền thuốc men,
tiền nghỉ việc. Nếu chưa đủ,
tôi sẽ lo tiếp.
Hứa Tam nhìn túi bạc, không chạm vào.
Con ông đánh người là thật.
Phải.
Nó đáng ngồi ngục. Phải.
Vậy ông đến đây làm gì?
Tạ Viễn Sơn chậm dãi đáp.
Đến để nhận phần sai của người làm cha.
Không khí trong nhà trượt nặng đi.
Vợ Hứa Tam quay quay mặt lau nước mắt.
Không rõ vì túi hay vì động lòng.
Rời khỏi đó,
Tạ Viễn Sơn đi khắp Bến Nam hỏi chuyện.
Ông mới biết vụ án không đơn giản như dây báo.
Tạ An có đánh người,
nhưng vì đòi lại tiền công cho bản hàng bị chủ nợ quyệt.
Đám kia đông người,
cố ý gây sự.
Khi sô sát xảy ra,
những kẻ dẫn đầu đã trốn sạch,
chỉ còn Tạ An bị bắt.
Người biết chuyện thì sợ liên lụy,
không ai chịu đứng ra làm chứng.
Chiều xuống, Tạ Viễn Sơn đến từng nhà gõ cửa.
Có người vừa thấy ông đã đóng then.
Có người hẽ cửa rồi lắc đầu.
Có người nói nhỏ,
tiên sinh, dân thường ai dám dây vào nhà mồn.
Ông không trách,
ông chỉ sang nhà khác.
Ngày hôm sau,
ông mang khế nhà đến hiệu cầm lớn nhất chợ tầy.
Chủ hiệu cầm đọc xong,
ngần lên kinh ngạc.
Tiên sinh thật muốn cầm căn nhà này.
Phải, chỉ để cứu con.
Tạ Viễn Sơn đáp,
để cứu phần người còn sót lại trong mình.
Chủ hiệu cầm im lặng rất lâu rồi,
mới viết giấy nhận.
Khi ông bước ra, nắng chiều đổ dài trên phố.
Trong tay áo là bạc cứu người,
trong lòng là khoảng trống không quẻ nào lấp nổi.
Tối ấy về nhà,
lục sinh thấy thầy mình ngồi ngoài sân.
Mai rùa, thẻ tre,
sách vở đều xếp lại trong hòm,
khóa kín.
Tạ Viễn Sơn nhìn lên bầu trời không trăng.
Bao năm qua, ta tưởng mình đứng trên bờ nhìn dòng nước.
Ông ngừng một chút.
Hóa ra ta cũng chìm trong đó từ lâu.
Từ ngày Tạ Viễn Sơn
đóng hòm quẻ sách,
nhịp sống trong căn nhà cuối ngõ đổi hẳn.
Buổi sáng không còn tiếng người gõ cửa rồn rập.
Không còn những gương mặt
sốt ruột ngồi chờ trong sân.
Không còn mùi giấy mực,
tiếng hỏi ngày lành tháng tốt,
tiếng thở phào hay tiếng than ngắn
sau mỗi lời phán.
Cánh cửa gỗ vẫn mở,
nhưng người đi ngang chỉ liếc vào rồi bước tiếp.
Có người nghe tin ông đem nhà đi cầm để cứu con
thì lắc đầu.
Có người bảo thầy Tạ cuối cùng
cũng bó tay trước số trời.
Có kẻ chua miệng hơn, đoán thiên hạ thì giỏi,
đến lượt mình lại phải chạy như dân thường.
Những lời ấy theo gió bay qua con ngõ,
lọt cả vào sân.
Tạ Viễn Sơn nghe thấy,
ông không đáp.
Mỗi sáng, ông cùng lục sinh ra ngoài từ sớm,
hết đến Bến Nam hỏi thêm nhân chứng,
lại sang phố Tây tìm người từng có mặt hôm sâu sát.
Có hôm trở về khi trời đã tối,
giày dính đầy bùn đất,
vài áo phủ bụi đường.
Danh tiếng tích cóp mấy chục năm
đang rơi đi từng chút.
Nhưng lạ thay, lòng ông lại nhẹ hơn trước.
Một buổi trưa nắng gắt,
hai thầy trò vừa về đến cửa
thì thấy có người đứng chở.
Là người đàn bà năm xưa từng dẫn con
đến xin cách cứu chồng nhện rượu.
Bà gầy hơn trước, nhưng ánh mắt đã khác,
không còn hoảng loạn như ngày đầu gặp mặt.
Bên cạnh là đứa bé năm nào,
giờ đã cao gần đến vai mẹ.
Trong tay bà cầm một bọc vải.
Thấy Tạ Viễn Sơn, bà khẽ cuối đầu.
Tiên sinh.
Ông nhận ra bà hơi khựng lại.
Bà đến xem số.
Người đàn bà lắc đầu.
Không, tôi nghe chuyện công tử.
Bà đặt bọc vải lên bàn đá trong sân.
Bên trong là vài gói thuốc trị thương
và ít tiền đồng được buộc cẩn thận.
Tôi không có nhiều, xin tiên sinh nhận.
Tạ Viễn Sơn nhìn bọc vải,
không đưa tay lấy.
Năm đó ta không giúp được bà.
Người đàn bà cười buồn.
Năm đó tôi cũng trách tiên sinh.
Nhưng rồi tôi hiểu, nếu cứ ngồi đợi
người khác cứu, nhà tôi sẽ nát thật.
Bà quay sang nhìn con trai.
Tôi dắt con rời khỏi người chồng ấy.
Ban ngày giặc thuê, ban đêm vá áo.
Khổ vài năm, nhưng sống được.
Đứa bé năm nào nay
đã là thiêu niên, bước lên một bước chắp tay.
Thưa tiên sinh,
mẫu thân bảo nếu không có ngày ấy,
bà chưa chắc dám quyết.
Tạ Viễn Sơn đứng lặng.
Ông nhớ rõ hôm đó mình chỉ nói một chữ không.
Ông tưởng mình đã cắt đường sống của họ.
Không ngờ chính lúc tuyệt vọng nhất
người đàn bà ấy lại tự tìm ra
đường đi.
Bà để lại thuốc rồi rời đi.
Tạ Viễn Sơn nhìn theo rất lâu.
Lục sinh khẽ nói,
có những người đến tìm thầy không phải để nghe định mệnh.
Họ chỉ muốn có ai đó xác nhận
nỗi đau của họ là thật.
Ông không trả lời.
Chiều hôm sau lại có khách khác,
là người cha từng gùi thuốc đường xa
đến hỏi về đứa con lầm đường năm trước.
Ông già gầy hơn xưa, tóc bạc thêm nhiều,
nhưng ánh mắt sáng hơn.
Vừa vào sân, ông đã quỳ xuống.
Tạ Viễn Sơn vội đỡ dậy.
Làm gì vậy?
Người kia nghẹn giọng, tôi đến tạ ơn.
Ông già kể rằng hôm ấy nghe câu
cây cong từ gốc,
ông đau đến mức đi suốt đêm không nghỉ.
Đến nửa đường, càng nghĩ
càng không cam lòng.
Nếu là cha mà cũng bỏ con,
thì còn ai giữ nó lại?
Ông tìm khắp các huyện lân cận,
cuối cùng bắt được đứa con đang định theo đám trộm ngựa bỏ trốn.
Ông chói nó vào xe,
kéo về tận nhà.
Hai cha con đánh nhau, khóc nhau, rồi làm lại từ đầu.
Giờ đứa con đang học nghề mộc,
sống yên ổn.
Nói xong, ông già lấy trong tay áo ra một tờ giấy.
Ngày xảy ra vụ đánh nhau
ở bên nam con tôi có mặt.
Nó thấy ai là kẻ xúi dục.
Nó sợ liên lụy nên không dám nói.
Nếu chuyện ấy giúp được công tử,
cha con tôi xin ra làm chứng.
Lục sinh mừng đến bước lên một bước.
Tạ Viễn Sơn thì chỉ nhìn người trước mặt
như nhìn một tấm gương cũ vừa được lau sạch.
Bao năm qua,
ông tưởng mình đang chỉ đường cho thiên hạ.
Hóa ra nhiều người
đã tự đi qua bóng tối của họ
mà không cần lời phán nào.
Cái họ cần chỉ là một chút can đảm.
Mà thứ ấy, ông chưa từng cho ai.
Tối hôm đó,
Tạ Viễn Sơn ngồi một mình ngoài sân.
Đèn trong nhà đã tắt bớt.
Gió đêm thổi qua hàng chút
phát tiếng xào sạc mỏng nhẹ.
Ông nhớ lại bao gương mặt từng ngồi trước bàn mình.
Người đàn bà ôm con run dậy.
Người cha mang gùi thuốc mòn quai.
Người thanh niên hỏi cưới mà sợ nghèo.
Người quả phụ sợ miệng đời.
Họ đến với nỗi đau thật.
Còn ông,
nhiều năm chỉ trả họ bằng những câu nói đúng mà lạnh.
Đêm ấy,
lần đầu tiên Tạ Viễn Sơn hiểu ra một điều.
Nhìn thấy tai họa của người khác không khó.
Khó nhất là nhìn thấy nỗi khổ của họ.
Xa xa,
tiếng canh ba vang lên từ vọng lâu đầu thành.
Ông ngằng đầu nhìn trời đêm,
chậm dãi khép mắt.
Quả báo đầu tiên của đời ông
không phải mất danh,
mà là quá muộn mới hiểu lòng người.
Nhân chứng đã có.
Tiền bồi thường đã nộp.
Người bị hại cũng chấp nhận giảng họa.
Vụ án của Tạ An cuối cùng
được xét lại vào đầu thu năm ấy.
Sáng hôm mở công đường,
trước nhà môn đông hơn ngày thường,
có người đến xem án.
Có người đến xem mặt Tạ Viễn Sơn
sau chuỗi ngày chạy vậy.
Cũng có người chỉ muốn biết vị thầy từng nói
số người vậy nay có thắng được số của chính mình hay không.
Tạ Viễn Sơn đứng dưới hàng hiền đá,
áo xanh cũ như mọi ngày.
Chỉ có lưng ông dường như
đã thấp đi đôi chút.
Lục sinh đứng bên cạnh trong lòng thấp thỏm hơn cả người nhà.
Trên công đường,
lời khai được đọc lại từng đoạn.
Người con trai của ông già nghề thuốc
bước ra xác nhận đám chủ nợ cố ý gây sự trước.
Hứa Tam cũng nói rõ
Tạ An có đánh người.
Nhưng sau đó chính cậu là kẻ đầu tiên
dìu hắn vào quán thuốc băng bó.
Một người khuân vác khác
đứng ra nhận đã bỏ trốn vì sợ phiền phức.
Nay xin khai thật.
Từng lời, từng lời một
như tháo dần nút thắt siết suốt mấy tháng qua.
Quan sự án gõ kinh mộc.
Tạ An có lỗi trong lúc nóng nảy gây thương tích.
Nhưng xét nguyên do bị ép nợ.
Xét việc đã bồi thưởng.
Xét có người làm chứng.
Giảm tội.
Phóng thích sau hạn giam đã đủ.
Người ngoài xôn xao.
Có kẻ tiếc không được xem cảnh lớn.
Có người gật gù bảo vẫn là trời không tuyệt đường ai.
Có người nhìn sang Tạ Biển Sơn
muốn chờ nét mặt của một kẻ vừa thắng lại số mệnh.
Nhưng ông không nhìn ai.
Ông chỉ nhìn cánh cửa ngục phía sau công đường.
Đến giữa trưa
Tạ An bước ra
So với ngày gặp trong Lao
Cậu gầy hơn nhưng ánh mắt đã lắng xuống nhiều.
Nắng đầu thu rơi lên gò má hốc
Khiến gương mặt vốn bốc lửa
Năm nào giờ mang vẻ trầm của người
Vừa đi qua một quãng tối
Hai cha con đứng cách nhau vài bước
Bao nhiêu lời đáng nói bỗng chẳng lời nào ra được
Lục sinh định lên tiếng phá tan im lặng
Rồi lại thôi
Cuối cùng Tạ Biển Sơn chỉ hỏi
Có mệt không?
Tạ An nhìn cha mình
Một lúc sau mới đáp
Không chết được
Giọng vẫn cứng nhưng không còn gai như trước
Tạ Biển Sơn gật đầu
Về nhà
Hai chữ rất nhẹ
Tạ An không nói có cũng không nói không
Cậu lặng lẽ bước theo
Con đường từ Nha Môn về nhà không xa
Nhưng hôm ấy dài lạ thường
Phố xá vẫn ồn ào như cũ
Người bán bánh gõ chảo đồng len can
Gánh hàng rong giao trà nóng
Trẻ con đuổi nhau qua đầu ngõ
Mọi thứ của Trường An
Vẫn tiếp tục như chưa từng có mấy tháng lao tủ
Như chưa từng có một người cha
Bán nhà cứu con
Chỉ lòng người là khác
Đi ngang qua con phố cũ
Tạ Biển Sơn bỗng rừng chân
Bên đường là quán bánh hấp nhỏ
Mái lá thấp khói nghi ngút bay ra từ sửng tre
Nhiều năm trước vợ ông còn sống
Mỗi dịp cuối tháng
Thường dẫn hai cha con ghé ăn một lần
Tạ An khi ấy còn bé
Mỗi lần nóng ruột đều thò tay mở nắp sửng
Nhìn trộm rồi bị mẹ gõ nhẹ vào trán
Quán cũ vẫn còn
Chỉ người xưa không còn nữa
Tạ Biển Sơn bước vào mua hai phần bánh
Chủ quán mới không nhận ra ông
Chỉ gói lại bằng giấy dầu rồi trao ra
Ông đưa một phần cho con trai
Tạ An nhìn gói bánh nóng trong tay
Ngón tay khẽ xiết lại
Mùi bột mới chín
Và hành phi bỗng kéo về những năm tháng
Chưa có khoảng cách giữa hai người
Cậu hỏi, mắt vẫn nhìn xuống
Cha còn nhớ quán này sao
Tạ Biển Sơn đáp
Cha nhớ
Hai người đứng bên hiên quán
Ăn chậm như sợ nói điều gì sẽ làm khoảnh khắc ấy vỡ ra
Một lát sau Tạ An khàn giọng
Con tưởng cha chỉ biết xem người khác
Gió đầu thu đi qua con phố
Mang theo mùi lá khô
Tạ Biển Sơn không trả lời
Ông chỉ cởi chiếc áo ngoài cũ đã sờn vai
Khoác lên người con trai
Tạ An khựng lại, áo không dày nhưng đủ ấm
Đường về nhà từ đó không còn dài như trước
Khi cánh cửa gỗ cuối ngõ mở ra
Nắng chiều vừa nghiêng vào sân
Mọi thứ trong nhà vẫn vậy
Bàn đá cũ, chung nước cũ
Góc lan đã khô từ lâu ở góc tường
Chỉ có một điều khác
Lần đầu tiên sau nhiều năm
Tạ An chủ động bước vào trước mà không thấy mình là khách lạ
Đêm ấy
Ba người ngồi ăn cơm cùng nhau
Bữa cơm đạm bạc, rau luộc, đậu hũ kho
Canh cải, không ai nhắc chuyện cũ
Không ai nói đến lao ngục
Công đường hay những tháng ngày chạy vẩy
Nhưng giữa những khoảng im lặng
Thứ từng chắn ngang căn nhà ấy
Đã mỏng đi rất nhiều
Lục sinh lặng lẽ gắp thêm thức ăn cho Tạ An
Khóe miệng giấu không nổi nụ cười
Ngoài sân, gió lùa qua cánh cửa gỗ khép hở
Lần này
Nó không còn đung đưa cô độc nữa
Sau ngày Tạ An trở về
Căn nhà cuối ngõ dần có lại hơi ngửi
Buổi sáng vẫn có nắng rơi lên nền gạch
Buổi chiều vẫn có gió lùa qua hàng chút
Chỉ khác là tiếng bước chân trong sân
Không còn đơn độc như trước
Tạ An không nhắc chuyện cũ
Cậu dạy từ sớm
Sửa lại mái hiên đã rột
Thay then cửa gỗ bị mòn
Kê lại chiếc bàn lung lay một chân
Có hôm theo người quen ra chợ làm việc nặng
Tối mang ít tiền về đặt lên bàn rồi
Vào bếp nhóm lửa như thế chưa từng rời nhà
Tạ Viễn Sơn cũng không nhắc
Ông nhìn con trai nhiều hơn
Nói ít hơn
Có lúc muốn dặn vài câu
Lời ra đến môi lại thành
Ăn thêm đi
Hoặc trời lạnh nhớ mặc giày
Những điều nhò nhạt ấy
Trước kia ông chưa từng nói
Khách tìm đến vẫn còn
Danh tiếng cũ chưa mất hẳn
Người trong thành gặp chuyện khó vẫn nhớ con ngõ đá xanh cuối phố nam
Chỉ là họ bước vào sân
Với tâm trạng khác
Không còn kính sợ như gặp người nắm thiên cơ
Mà như tìm đến một lão nhân từng trải đời
Một sáng đầu đông
Có chàng thư sinh trẻ đến xin xem đường công danh
Tạ Viễn Sơn mời ngồi
Giót trả
Chàng trai hồi hộp đưa ngày tháng năm sinh
Người còn chưa kịp nói hết
Đã thấy ông đẩy tờ giấy lại
Ta không xem số nữa
Thư sinh ngờ ngác
Vậy tiên sinh xem giúp tôi điều gì
Tạ Viễn Sơn hỏi
Người đọc sách vì muốn hơn người hay vì muốn thành người
Chàng trai nghẹn lời
Một phụ nhân đến hỏi chồng ngoại tâm
Nên níu hay nên buông
Ông không hỏi ngày sinh của chồng bà
Ông chỉ hỏi
Người còn đau vì người ấy hay đau vì không chịu thua
Người đàn bà ngồi rất lâu rồi khóc
Một thương nhân đến xin xem
Năm sau có phát tải không
Tạ Viễn Sơn nhìn bàn tay đầy nhẫn ngọc của ông ta
Nói
Người muốn thêm bạc hay muốn bớt lo
Người kia cười gượng rồi im lặng
Dần dần
Có người thất vọng vì không nghe lời tiên tri như lời đồn năm cũ
Nhưng cũng có người rời đi
Với bước chân nhẹ hơn lúc đến
Lục sinh một hôm hỏi
Thưa thầy nếu không xem số nữa
Sao thầy vẫn tiếp khách
Tạ Viễn Sơn nhìn hơi trà bay mỏng trước mặt
Ngày trước họ đến hỏi ngày mai
Nay họ đến vì không biết
Hôm nay phải sống sao
Lục sinh cuối đầu ghi nhớ từng chữ
Mùa đông năm ấy đến sớm
Gió bắc tràn qua trường An
Cây ngoài ngõ rụng sạch lá
Tạ An đi làm về tay nứt nẻ vì lạnh
Vẫn cặm cụi vá lại cánh cửa gỗ đã cong lâu ngày
Mỗi nhát bào kéo xuống
Mùn gỗ rơi vàng trên nền sân
Tạ Viễn Sơn ngồi bên cạnh
Cuốn áo giày phơi lưng dưới nắng nhạt
Trên bàn đá là cuốn sách
Tướng số cũ đã sờn gáy
Ông mở ra từ sáng nhưng không đọc
Gió thổi qua lật vài trang
Tiếng giấy xào sạc như tiếng thời gian chở mình
Ông nhìn đôi tay con trai
Đôi tay ấy từng nắm chặt vì chống đối
Từng chai sần vì lao lực
Từng bị xiềng khóa trong ngục tối
Giờ đang kiên nhẫn sửa lại cánh cửa cho ngôi nhà này
Bỗng ông hiểu
Bao năm mình cúi xuống nhìn chán người
Mắt người xưa người mà quên nhìn đôi tay họ
Có những số mệnh không nằm trên gương mặt
Nó nằm ở thứ một người chịu làm
Sau khi ngã xuống
Tạ An thử đóng then cửa
Nghe tiếng khớp gỗ ăn khít liền quay lại
Cha, xong rồi
Tạ Viễn Sơn gật đầu
Ừ, một tiếng đáp rất khẽ
Nhưng trong đó có sự yên ổn
Mà bao quẻ số năm xưa chưa từng cho ông
Nắng chiều trượt dần khỏi nền gặt
Lục sinh trong bếp gọi dọn cơm
Khói canh bốc lên
Mùi gạo mới lan ra sân nhỏ
Gió lại thổi qua bàn đá
Lật thêm vài trang sách nữa rồi khép lại
Tạ Viễn Sơn không mở ra lần nào nữa
Ông nhìn căn nhà cũ
Nhìn người con trai đang phủi mùn gỗ trên tay áo
Rồi mỉm cười rất nhẹ
Lần này
Ông không cần biết ngày mai sẽ ra sao
Có những người cả đời muốn biết ngày mai ra sao
Mà quên mất ngày hôm nay
Mình đang sống thế nào
Tạ thường hỏi số phận có công bằng không
Nhưng nhiều khi
Điều giữ ta lại không phải số phận
Mà là thói quen đem mọi thất bại đổ cho số phận
Người đổi được đời mình
Họ bắt đầu bằng một lời xin lỗi
Một việc phải làm
Một điều sai chịu sửa
Biết trước tương lai chưa chắc là phúc
Biết quay đầu đúng lúc mới là phúc
Nếu hôm nay bạn đang đứng trước một chuyện khó
Đừng hỏi đời sẽ cho mình gì trước
Hãy hỏi mình có thể đổi điều gì
Từ chính mình trước đã
Và nếu bạn vẫn còn ngồi đây
Nghe đến cuối câu chuyện
Mong rằng đêm nay lòng bạn sẽ nhẹ hơn một chút
