Cuộc Vạn Lý Trường Chinh không chỉ là một cuộc rút lui chiến lược, mà còn là hành trình sinh tồn khốc liệt đã thay đổi hoàn toàn lịch sử Trung Quốc. Trong suốt 370 ngày, hơn 86.000 binh sĩ Hồng quân phải vượt qua 12.500km, băng qua núi tuyết, thảo nguyên, sông lớn và vòng vây của hàng trăm nghìn quân Quốc dân đảng. Khi hành trình kết thúc, chỉ còn khoảng 8.000 người sống sót. Vì sao cuộc hành quân này lại trở thành bước ngoặt giúp Mao Trạch Đông vươn lên nắm quyền? Và điều gì khiến Vạn Lý Trường Chinh trở thành một trong những cuộc rút lui nổi tiếng nhất lịch sử quân sự thế giới? -----------------------------
The Long March (1934–1935) was a strategic retreat of 86,000 Red Army soldiers covering 12,500 km to escape annihilation by the Kuomintang. Despite extreme hardships and heavy losses, the journey became a pivotal turning point for the Chinese Revolution, culminating in the establishment of a new revolutionary base in Shaanxi and the rise of Mao Zedong's leadership.
Năm 1934, 86.000 chiến sĩ Hồng quân Trung Quốc bắt đầu cuộc hành trình 12.500 km.
Họ vượt qua 11 tỉnh, 18 dãy núi, 24 con sông.
Vừa rút lui, vừa chiến đấu, vừa sinh tồn.
Sau 370 ngày, chỉ còn 8.000 người đến được Thiểm Tây.
Cuộc hành quân này được biết đến với cái tên Vạn Lý Trường Chính.
Hơn cả chế thoái chiến lược, đó là bước ngoặt sinh tử, mở ra con đường sống cho cách mạng Trung Quốc.
Vậy, sự kiện này đã diễn ra như thế nào?
Năm 1926, quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản đã bắt tay với nhau, tiến hành cuộc bắt phạt tiêu diệt các thế lực quân Việt nhằm thống nhất Trung Quốc.
Tuy nhiên, khi linh quân tiến đến sông Dương Tử và chiến thắng đã ở trong tầm tay,
những người Cộng sản bị đồng minh phản bội.
Từ Thượng Hải đến Vũ Hán, ở thành thị Lấn Nông Thôn, 300.000 đảng viên và các nhà cách mạng khác bị sát hại.
Cuộc tàm máu này khiến Đảng Cộng sản nhận ra một thực tế.
Để bảo vệ lý tưởng cách mạng, họ buộc phải có lực lượng quân sự riêng.
Đêm ngày 1 tháng 8 năm 1927, tại thành phố Nam Sương, tỉnh Giang Tây,
những người Cộng sản vũ trang dưới sự lãnh đạo của Chú Đức đã nổ phát súng mở màn cuộc chiến đấu chống lại quốc dân Đạc.
Tiếp đó, khởi nghĩa thu thu ở Hồ Nam, Giang Tây và khởi nghĩa Quảng Châu lần lượt nổ ra.
Mặc dù tất cả đều thất bại, nhưng những sự kiện này đã dẫn đến việc thành lập quân đội riêng của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Sau khởi nghĩa thu thu, Mao Trạch Đông, khi này vẫn chưa phải là nhà lãnh đạo thối cao,
đã dẫn lực lượng của mình đến vùng núi Tịnh Cương.
Chính tại đây, vào ngày 8 tháng 4 năm 1928, Hồng Quân Liên Hợp được thành lập khi tan quân của Chú Đức hợp nhất với đơn vị của Mao Trạch Đông.
Từ tháng 11 năm 1930 đến mùa thu năm 1931, bộ đội Chú Mao đã ba lần đánh bại quân quốc dân Đảng, bảo vệ họ.
Ngày 7 tháng 11 năm 1931, tại Hội nghị toàn quốc tổ chức ở Thụy Kim, tỉnh Giang Tây, Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố thành lập Cộng hòa Soviet Trung Hoa.
Mao Trạch Đông được bầu làm chủ tịch của cả Ủy ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Nhân dân, trở thành người đứng đầu nhà nước lẫn chính phục.
Ngày 18 tháng 9 năm 1931, quốc đội Nhật Bản phát động cuộc xâm lược toàn diện Đông Bắc Trung Quốc.
Tuy nhiên, thay vì chống ngoại xâm, quốc dân Đảng lại tập trung lực lượng để tiêu diệt những người Cộng sản.
Từ năm 1932 đến 1933, họ tổ chức cuộc Tri Quét lần thứ 4 nhưng bị đánh bại.
Tháng 5 năm 1933, chính quyền Nam Kinh ký một hiệp định bất bình đẳng ở Thiên Tân, mở đường cho quân Nhật mở rộng chiếm đóng khắp miền Bắc Trung Quốc.
Và dù vậy, tưởng Giới Thạch vẫn có mặt ở Nam Xương để trực tiếp chỉ huy việc chuẩn bị cho cuộc tấn công thứ 5 nhằm vào lực lượng Cộng sản.
Quần quốc dân Đảng đã dựng lên một hệ thống gồm 3.000 công sự trang trịt như mạng nhện bao quanh căn cứ Hồng Quân ở Thụy Kim, Giang Tây.
Trước đây, Đảng Cộng sản luôn thận trọng, thế nhưng lần này họ chỉ nên liều lĩnh và dần thất thế trước đối phương.
Tình hình chỉ trở nên sáng sủa hơn vào tháng 11, khi quân đoàn 19 của quốc dân Đảng vốn được cử đi đánh Hồng Quân,
đã nổi dậy chống chính quyền Nam Kinh và tuyên bố ủng hộ kháng chiến chống Nhật.
Bà Trạch Đông nhận ra cơ hội để thoát khỏi tình thế nguy cấp và đề xuất rằng đã đến lúc cần đột phá vòng vây.
Tuy nhiên, các kế hoạch của ông không được Ủy ban Trung ương Đảng chấp thuận, thời cơ quý giá cứ thế trôi qua.
Ngày 10 tháng 4 năm 1934, 10 sư đoàn quốc dân Đảng đã tập trung sẵn sàng tấn công Quảng Sương, cỡ ngõ phía bắc của căn cứ cách mạng.
Sau 18 ngày giao tranh, Quảng Sương thất thủ, Hồng Quân thiệt hại hơn 5.000 bệnh sĩ, quốc dân Đảng tiếp tục tiến về Thụy Kìm.
Trên đường đi, họ chiếm thêm hàng loạt địa điểm chiến lược khác.
Trước tình hình đó, tháng 5 năm 1934, Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định rời bỏ căn cứ Trung ương.
Dưới lệnh của Mao Trạch Đông, các đơn vị Hồng Quân phía nam liên tục tập kích kho lương thực và đạn dược của quốc dân Đảng,
đồng thời dẫn dụ địch chạy vòng quanh khu vực núi nòi.
Dù lượt năm nay giành được thành công, nhưng thất bại ở những khu vực khác khiến bước tiến của quốc dân Đảng không thể bị ngăn chặn.
Các khu căn cứ Cộng sản đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn.
Cuối tháng 7 năm 1934, tập đoàn quân số 6 của Hồng Quân được do lệnh tiến về phía Tây để hợp với tập quân đoàn số 2.
Nhiệm vụ của họ là tham do đường đi cho lực lượng Trung ương trước khi rời bỏ căn cứ.
Hai đơn vị này gặp nhau ở Mộc Hoàng, tỉnh Quý Châu vào giữa tháng 10.
Trong khi đó, để đối phó với cuộc tiến công của quốc dân Đảng từ phía Bắc về Thụy Kim,
lực lượng Hồng Quân còn lại đã thiết lập phòng tuyến tại Cao Hổ Náo.
Ở đây, họ chặn đứng đạt tiến công của kẻ địch và gây ra 4.000 thương vọng.
Quan trọng hơn, chiến thắng Cao Hổ Náo đã giúp lực lượng Cộng sản có thêm thời gian quý báu để chuẩn bị và phát động cuộc đột phá chiến lược.
Trong lúc đó, họ nhận được tin từng giới thạch đang sắp sửa tấn công thêm một lần nữa.
Ngày 10 tháng 10 năm 1934, Quỹ ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quân ủy Trung ương
được 5 quân đoàn hộ tống rời Thụy Kim cùng các khu vực lân cạnh.
86.000 binh sĩ Hồng Quân lên đường, bắt đầu cuộc vạn lý chương trình.
Sau hơn một tháng chiến đấu phá vòng quay, lực lượng Cộng sản phá vỡ 3 tuyến phong tỏa của Quốc dân Đảng
và tiến đến thượng nguồn Sông Tương ở Quảng Tây.
Kế hoạch là vượt sông để hợp với tập đoàn quân số 2 và 6 đang bắt tiến vào phía tây tỉnh Hồ Nạc.
Tuy nhiên, từng giới thạch đã đoán được ý định này.
Ông ta bay đến Nam Sương và ra lệnh lập tuyến phong tỏa thứ 4 bằng 25 sư đoàn, tổng cộng 40 vạn quân.
Tưởng dự định sẽ bao vây và tiêu diệt Hồng Quân ở khu vực bờ đông Sông Tương.
Lực lượng Cộng sản sắp phải đối mặt với thử thách lớn đầu tiên kể từ khi bắt đầu cuộc vạn lý chương trình.
Ngày 27 tháng 11 năm 1934, họ vượt sông Tương và lập phong tuyến để đối phó với quân Hồ Nam của Quốc dân Đảng từ phía Bắc tiến tới.
Đồng thời, một quân đoàn cũng được cử đi chặn địch ở Quảng Tây đánh lên.
Giữa hai phong tuyến, lực lượng Cộng sản kiểm soát một đoạn sông dài hàng chục km để phần còn lại của Hồng Quân có thể vượt qua.
Tuy nhiên lúc này, đoàn quân ủy do tốc độ chậm trễ nên dự kiến phải mất thêm 2-3 ngày mới tới được bến phà ở bờ đông Tương Giang.
Ngày 28 tháng 11, khi giao tranh ác liệt diễn ra, Chủ tịch quân ủy Tru Đức đã ra lệnh cho toàn bộ lực lượng phải vượt sông trước ngày 30.
Thế nhưng, đoàn quân vẫn còn 50 km nữa mới tới nơi.
Đến ngày 30, các đơn vị bảo vệ phong tuyến đã chiến đấu suốt 3 ngày và chịu tổn thất nặng này.
Cùng lúc đó, ở bờ đông sông Tương, 3 quân đoàn đang giao tranh ác liệt với quốc dân Đảng.
Tình hình đối với Hồng Quân đang hết sức nguy cấp.
Đến ngày 30, tiếng cấp báo được gửi đến Chủ Đức.
Ông nhận ra binh lính không còn có thể cầm cửa đường nữa.
Sáng ngày 1 tháng 12, đoạn quân ủy cuối cùng cũng đến được bờ đông Tương Giang.
Giới hòa lực của quân tưởng Oanh Tạc dữ dội.
Họ vượt sông theo từng đợt một.
Đến 4 giờ chiều, phần lớn Hồng Quân đã sang đến bờ bên kia.
Cuộc chiến đấu máu ở Tương Giang kéo dài 5 ngày 5 đêm.
Nó dài hơn, có quy mô lớn hơn, khốc liệt hơn
và gây tổn thất nhân mạng Hồng Quân nặng nề hơn bất kỳ trận đánh nào khác trong suốt cuộc bản lý chương trình.
Hơn 20.000 binh sĩ bị thương hoặc thiệt mạng,
cộng thêm tổn thất từ 3 lần phá tuyến phong tỏa trước đó
khiến lực lượng chủ lực của phe Cộng sản giảm từ 86.000 xuống chỉ còn 30.000 người.
Sau trận đánh, người dân trong vùng đã truyền nhau câu nói
Tương Giang 3 năm không có nước ngọt, 10 năm không có cá tưởng.
Thiết hại khủng khiếp đã gây ra tình trạng hoang mang trong hàng ngũ bình lính Hồng Quân.
Các lãnh đạo đảng và quân đội cũng phải chịu cú sốc lớn.
Năng lực của những người trực tiếp chỉ huy chiến dịch bị đem ra chất vấn.
Thậm chí, tầng bí thường Bác Cổ còn suy chung đưa đất tự kết liễu mạng sống
do cảm thấy phải chịu trách nhiệm cho những sinh mạng đã mất.
Ngày 12 tháng 12 năm 1934,
vị ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tổ chức họp khẩn ở Thông Đạo, tỉnh Hồ Nam.
Tại đây, Mao Zedong cho biết ông đã có được một bức điện từ phía quân tưởng
trong đó ghi rõ kế hoạch của địch.
Cụ thể, quân dân đảng lập 4 tuyến phong tỏa
dọc theo tuyến đường mà Hồng Quân sẽ đi nếu tiếp tục tuyến về phía Bắc
nhằm tránh rơi vào bẫy của địch.
Mao đề xuất hướng về phía Tây của tỉnh Quý Châu
nơi lực lượng quân tưởng yếu hơn.
Tuy nhiên, Otto Braun, cố vấn quân sự do quốc tế Cộng sản cử đến đã kiền quyết phản đối.
Ông này khăng khăng giữ kế hoạch cũ
đó là tiến về phía Bắc để hợp lực với tập đoàn quân số 2 và 6
ở phía Tây tỉnh Hồ Nam.
Sau cuộc tranh luận, đa số đồng ý đổi kế hoạch theo ý kiến của Mao Zedong.
Như đã nói, lực lượng quân dân đảng ở đây không mạnh.
Nhờ vậy, Hồng Quân dễ dàng tiến vào Quý Châu
và chiếm được huyện Lê Bình.
Ngày 18 tháng 12, vị ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
tiếp tục nhóm họp tại đây.
Mao Zedong một lần nữa kêu gọi từ bỏ kế hoạch cũ,
thay vào đó tiến đến Tôn Nghĩa ở phía Bắc Quý Châu để lập căn cứ.
Địa nghị của ông được chấp thuận.
Và đây chính là quyết định then chốt đối với số phận của Hồng Quân.
Bằng việc thông qua ý kiến của Mao Zedong,
lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản đã tránh được nguy cơ bị tiêu diệt.
Vào ngày cuối cùng của năm 1934,
Hồng Quân đã đến bờ Nam Âu Giang,
phụ lưu chính của sông Dương Tử,
vốn nổi tiếng với dòng nước chạy siết,
nhiều gành thác và hẻm ngưới hẹp.
Trước một trường ngại như vậy, cầu vấn Otto Braun
không muốn cho Quân vượt qua
vì lo sợ một thảm kịch tương tự ở Tương Giang sẽ lập lại.
Ông ta đề nghị quay lại kế hoạch cũ.
Tổng Bí thư Bắc Cổ cũng đồng ý.
Vì vậy, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc
đã triệu tập một cuộc họp khác.
Kết quả, lập luận của hai người bị bác bỏ
và một văn kiện mang tên
Nguyên tắc chỉ đạo về hành động
sau khi vượt sông được thông qua.
Đồng thời, cuộc họp đưa ra tuyên bố
yêu cầu quân hỉ Trung ương
phải báo cáo Bộ Chính trị về chiến lược
cũng như thời gian và địa điểm
chọn trận đánh.
Quyết định này đã tước bỏ quyền chỉ huy quân đội
của Otto Braun và Bắc Cổ.
Thiến trình vượt sông bắt đầu diễn ra
vào ngày 1 tháng 1 năm 1935.
Đến hôm sau,
toàn bộ lực lượng Hồng Quân
đã ở bờ bên kia.
Chiến dịch thành công đồng nghĩa với việc
họ đã khéo léo vượt qua đối thủ,
khiến hàng vạn quân quốc dân Đảng
phải đứng chờ vô ích ở khu vực phía Đông
và phía Nam dòng Lô Giang.
Ngày 7 tháng 1, Hồng Quân chiếm được
Tuần Nghĩa và đẩy mạnh công tác tuyên truyền tại đây.
Nhờ vậy, chỉ trong vòng 12 ngày,
4.000 người dân khu vực đã gia nhập
lực lượng Cộng sản.
Đây là sự bổ xúc nhân lực lớn nhất đối với Hồng Quân
kể từ khi bắt đầu vạn lý chương trình.
Cùng với Tuần Nghĩa,
Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổ chức một cuộc họp
để tổng kết và thảo luận
những kinh nghiệm, bài học rút ra từ đầu
của khánh quân cho đến nay.
Hội nghị kéo dài 3 ngày.
Tại đây, Mao Trang Đông đã phê phản Bác Cổ và Otto Braun.
Ông nhận định rằng họ quá mạo hiểm
trong tấn công, quá bảo thủ trong phòng ngự
và quá hoảng loạn khi rút lùi.
Sau đó,
Mao trình bày chi tiết chiến lược và chiến thuật
Bài phát biểu của ông đã gây ấn tượng sâu sắc
với các đại biểu tham gia cuộc họp.
Cuối cùng, Hội nghị quyết định bầu Mao Trang Đông
là quỷ viên thường vụ Bộ Chính trị.
Ông cũng được giao nhiệm vụ hỗ trợ
Zhou Enlai, một lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc
phụ trách các vấn đề quân sự.
Thông qua một loạt các cuộc họp trung ương
từ Thông Đạo, Lê Bình
cho đến Tuần Nghĩa, tập thể lãnh đạo
mới của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng Quân
đã dần hình thành.
Với bộ ba quyền lực bao gồm
Mao Trang Đông, Zhou Enlai
và Vương Gia Tường.
Trong đó, Mao đóng vai trò là nhân vật trung tâm.
Từ đây, Đảng Cộng sản
và Hồng Quân công nông Trung Hoa
bước ra khỏi thời kỳ lãnh đạo giáo điều.
Họ trưởng thành hơn và có khả năng giải quyết
những vấn đề lớn lào hơn.
Sau Hội nghị Tuần Nghĩa, Mao Trang Đông cùng các lãnh đạo Đảng Cộng sản
và Hồng Quân lập kế hoạch tiếp theo
của vạn lý chương trình.
Cụ thể, đoàn quân sẽ tiến theo hướng Bắc
vượt sông Dương Tử
và xây dựng căn cứ mới ở phía Tây
hoặc Tây Bắc tỉnh Tứ Xuyên.
Ở phía bên kia chiến tuyến,
Trưởng Giới Thạch tin chắc lực lượng Cộng sản đã kiệt sức
nên cảm thấy rất tự tin.
Hồng Tà đã điều động 40 vạn binh sĩ
để tiêu diệt Hồng Quân ở khu vực Tây Bắc Sông Hồ.
Ngày 18 tháng 1 năm 1935,
Quân nghị Trung ương ra lệnh toàn lực lượng lên đường.
Tất cả các đơn vị sẽ bắt đầu di chuyển
từ phía Bắc từ ngày 19
và hội quân tại khu vực Sích Thủy,
Thổ Thành, nơi dắp danh tỉnh Tứ Xuyên
và Quý Châu.
Ngay khi Hồng Quân đến Thổ Thành,
Khoa Nhân được tin báo rằng lực lượng Tứ Xuyên
của quốc dân đảng từ phía Bắc Quý Châu
đang đuổi theo gắt gào.
Mau trạch đông sau khi bàn bạc với các lãnh đạo khác
quyết định phải đánh bại đối phương trước khi có thể tiến tới sông Dương Tử.
Địa điểm được chọn cho trận chiến
là Thanh Giang 3.
Giao tranh nổ ra
vào binh minh ngày 28 tháng 1.
Tập đoàn quân số 3 và 5 Hồng Quân
đối đầu với lực lượng Tứ Xuyên
của quốc dân đảng trong một trận đánh đẫm máu.
Bắt đầu hai bên còn thấy rằng có,
nhưng quân tưởng kéo đến ngày càng đông
và bổ sung hỏa lực khiến thương vong
binh minh cộng sản bắt đầu tăng.
Thấy tình hình hết sức nguy cấp,
Tổng Tư lệ Hồng Quân Trù Đức lao ra chiến trường
mặc cho mau trạch đông ngắn cả.
Ông cùng Trung đoàn cán bộ đã cùng chiến sĩ
xông phà trên tuyến đầu.
Họ được Không quân Trung ương hỗ trợ
Và chẳng bao lâu sau,
quân địch bắt đầu rút lùi.
Khi vị trí phía trước đã ổn định,
mau trạch đông ra lệnh cho quân rút khỏi chiến trường.
Mặc dù giành chiến thắng,
nhưng kinh thế của lực lượng Cộng sản
vẫn vô cùng nguy cấp.
Một nghìn chiến sĩ đã vinh viễn
nằm lại ở Thánh Giang 3.
Với chiến lược cơ bản là đánh nếu có thể thắng,
không thắng được thì rút lùi.
Mau trạch đông quyết định thay đổi kế hoạch ban đầu
nhằm đánh lạc hướng truy đuổi của kẻ địch.
Theo đó Hồng Quân sẽ tiến lên phía Bắc
để vượt sông Dương Tử, đoàn giữa Nghi Tân và Lô Châu.
Các đội vị đầu tiên tiến đến sông Sích Thủy
vào tối ngày 8 tháng 1.
Họ nhanh chóng xây 2 chiếc cầu phao
và hành quân sang bờ bên kia vào ngày hôm sau.
Đây là lần đầu tiên
trong tứ độ Sích Thủy
tức chiến công 4 lần vượt sông Sích Thủy
mà mau trạch đông vô cùng tự hào.
Lúc này, quốc dân Đảng tin rằng
họ đã biết nơi Hồng Quân sẽ băng qua dòng Dương Tử.
36 trung đoàn quân tưởng
thuộc lực lượng Tứ Xuyên
được điều động đến bảo vệ bờ Nam Con Sông.
Mau trạch đông cùng quân hỉ Trung ương
đồng ý một lần nữa từ bỏ kế hoạch.
Thay vào đó, họ sẽ tiến đến khu vực
giáp danh Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam.
Tại đây, sau một cuộc họp của Bộ Chính trị
để quyết định cách thực thi
các quyết định của Hội nghị tuần nghĩa,
một loạt mệnh lệnh đã được ban hành
nhằm nâng cao hiệu quả chiến đấu của quân đội
trước các trận đánh sắp tới.
Cô thể, quy mô nhân sự văn phòng
được giảm bớt những người không còn
cần thiết được điều động đến địa vị chiến đấu.
Các tập đoàn quân số 1,
3, 5 và 9
được tổ chức lại thành 16 trung đoàn.
Cùng với đó, mọi thiết bị
chiến đấu không cần thiết đều bị vứt bỏ.
Chính vào lúc này,
họ chạm bắt được một bức điện
mật của quốc dân Đà.
Nó tiết lộ rằng điểm yếu nhất trong vòng vay của địch
là tuần nghĩa được bảo vệ
bởi một sư đoàn quân tưởng.
Chuôn Lai quyết định phải mau chắn hành động.
Hồng quân cần vượt lại sông Sích Thủy
và tái chiếm tuần nghĩa.
Sau đó, họ sẽ ở vị trí thuận lợi
để đánh bại một quân đoàn
thuộc quân trung ương quốc dân Đà
nếu có ý định tiếp viện.
Ở phía bên kia trên tuyến, thằng Giấy Thạch,
dù trong giấc mơ hoang đỉnh nhất,
cũng không thể tưởng tượng được phép công sản sẽ một lần nữa vượt Sích Thủy.
Tuy nhiên, họ đã làm được điều đó
và còn đánh tam một phần của lực lượng quốc dân Đà
được bố trí mai phục.
Đến ngày 24,
Hồng quân tiến đến Lâu Sơn Quan.
Các đeo này là cửa ngõ phía bắc của tuần nghĩa
và nằm ở độ cao 1.400m.
Có một câu nói nổi tiếng như thế này
gắn với Lâu Sơn Quan
Nhất phu đương quan vạn phu mạc khai
nghĩa là một người chấn giữ
vạn người không qua được.
Tướng Bành Đức Hoài, quân đoàn trưởng
quân đoàn 3 Hồng quân đã đề xuất một kế hoạch
lên quân ủy Trung ương.
Về cơ bản, họ sẽ tấn công Lâu Sơn Quan
trước khi kẻ thù kiếp thiết lập cứ điểm ở đây.
Giãn sáng ngày 5 tháng 2,
Trung đoàn 13 của Hồng quân
bắt đầu nổ súng tấn công.
Lâu Sơn Quan cùng các vùng núi lên cận nhanh chóng bị đánh chiếm.
Trước đó, họ thân tốc tiến
vào tuần nghĩa, khi ai tin
từng dưới thạch liên gia lệnh điều quân
để cứu nguy cho thành phố.
Tuy nhiên, cả lực lượng đôn chú và tiếp viện
đều bị đánh tác.
Kết quả sau 5 ngày chiến đấu,
Hồng quân đã quét sạch 2 sư đoàn
cùng 8 trung đoàn quốc dân Đạc,
giết chết và làm bị thương 2.400 lính địch
và giữ 3.000 người, thu giữ 100.000 viên Đạc.
Đây chính là chiến thắng
lớn nhất của lực lượng Cộng sản
kể từ khi bắt đầu cuộc vạn lý chương trình.
Tập dưới thạch vô cùng giận dữ
trước việc để mất tuần nghĩa
lần thứ 2, nên đã đích thân đến
Trung Khánh để trực tiếp giám sát
chiến dịch tiếp theo. Hồng tha ra lệnh
cho các đơn vị dưới quyền cùng quân đội
địa phương tại Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam
và Hồ Nam tiến về khu vực
tuần nghĩa. Phần lớn lực lượng này
được tập kết để phát động cuộc tàu tấn công
vào thành phố từ phía Bắc, trong khi số có lại
phòng thủ khu vực phía Nam.
Phía bên kia, bao trạch đông cũng có kế hoạch của
riêng mình, đó là dương đồng kích đây.
Bằng cách triển khai lực lượng
tại các khu vực chiến lược hen chốt là Lô Sơn Quan
và chính tuần nghĩa, Hồng quân
đã ngăn chặn được quân địch tiến đánh từ phía Bắc.
Tiếp đó, mau lệnh cho binh sĩ tổ chức
vừa đi vừa đánh theo hướng Tây,
Tây Bắc. Ngày 16 tháng 3 năm 1935,
lực lượng chủ lực của Hồng quân
vượt sông Sích Thủy để tiến về phía Nam Tư Xuyên,
mục đích nhằm khiến kẻ thù tin rằng
Hồng quân đang có kế hoạch qua sông Dương Tử.
Thực tế, đòn nghi bình này
đã làm cho quân quốc dân đảng bối rối,
tạo điều kiện cho lực lượng Cộng sản tiến
vào tỉnh Vân Nam, vượt qua sông Kim Sa
để tới phía Bắc tỉnh Tư Xuyên.
Trước việc Hồng quân lúc thì đi hướng này,
lúc thì lại bất ngờ chuyển sang hướng khác.
Thương Giới Thạch và các tướng lính của ông ta
hoàn toàn bị đưa vào mê hồn trận.
Thậm chí, ngay cả một số chỉ huy
bên phía Cộng sản cũng bắt đầu cảm thấy mông lung.
Họ không biết các lãnh đạo trung ương
thực sự toan tính điều gì đó,
hay chỉ đang dẫn quân trong sự vô định.
Việc Hồng quân lần thứ 3
vượt sông Sích Thủy đã khiến Tướng Giới Thạch tin rằng
mục tiêu của đối phương là
tiến lên phía Bắc tới sông Dương Tử.
Ông ta ngay lập tức hạ lệnh quân đội
tới Nam Tư Xuyên để gian trận phong thủ
và tiêu diệt phe Cộng sản
Tướng Giới Thạch tuyên bố nếu lần này không thể quét sạch Hồng quân
thì sẽ không còn mặt mũi nào mà sống tiếp.
Nhận thấy Tướng đã mắc bẫy,
báo trận đông ra lệnh cho quân trung ương rút lùi
và di chuyển ngay lập tức
đến khu vực Thái Bình Độ và Cửu Khê Khẩu.
Từ đó, họ vượt sông Sích Thủy lần thứ 4
bỏ lại kẻ địch phía sau lưng.
Tiếp theo, Hồng quân bất ngờ
quay ngược lại phía Nam, đi qua kẽ hở
giữa hai đơn vị quốc dân đảng, băng qua dòng Âu Giang
rồi hành quân về hướng Quý Dương.
Lúc này, thành phố đang được trần giữ
bởi 4 trung đoàn quân tử. Lực lượng này nhanh chóng
rơi và hoảng loạn khi bị Cộng sản áp đảo.
Trên thực tế, kế hoạch của Hồng quân
là tiến tới Vân Nam, vượt sông Kim Sa
và gặp phương diện quân số 4
tại Tây Thực Xuyên.
Trong đó, việc tiến đánh Quý Dương
là một đòn nghi binh nhằm đánh lạc hướng
quân chủ lực Vân Nam của quốc dân đảng.
Nhằm khiến kẻ tù tin rằng đây là một cuộc tấn công
thực sự, Hồng quân đã chiến đấu ác liệt
trên đường tiến vào Quý Dương và
áp sát tận sân bay trên cách trung tâm thành phố
10 km. Để đáp trả,
tưởng giới thạch ra lệnh cho binh lính tại Quý Dương
phải bảo vệ khu vực này đến người cuối cùng.
Tuy nhiên, vì phân minh, ông ta lại gọi
một trung đội quân Vân Nam tới ưng cứu.
Đồng thời, tưởng cũng chuẩn bị để
sẵn sàng cuộc vỡ tháo chạy nếu cần thiết.
Sau khi biết tin viện binh của quốc dân đảng đã lên đường,
Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồng quân chuyển hướng
và cấp tốc tiến về thủ phủ
tỉnh Vân Nam là Cồn Minh.
Với tốc độ 60 km trên ngày,
họ băng qua đường cao tốc Hồ Nam – Quý Châu
đoạn giữa Quý Dương và Lòng Lính.
Hương lượng tiên phong nhanh chóng tiếp cận
một điểm chỉ cách thành phố 7,5 km.
Dọc đường đi,
Hồng quân liên tục tuyên bố mục tiêu là bắt giữ
Lòng Vân, một lãnh chủ quân phiệt ở Vân Nam.
Ông ta liên câu cứu tưởng giới thạch
và ra lệnh cho toàn bộ lực lượng vũ trang của mình
tập trung phòng thuộc Cồn Minh.
Tình hình diễn ra đúng như những gì
Mao Trạch Đông đã dự tính.
Toàn bộ quân địch từ khắp miền Bắc Vân Nam
và các đội vị đóng dọc bờ Nam sông Kim Sa
đều được điều động về Cồn Minh.
Điều này đã mở toan con đường cho Hồng quân
vượt sông Kim Sa.
Và rồi, khi mà quân của Lòng Vân
sẵn sàng ngay chiến để bảo vệ Cồn Minh,
thì những người lính Cộng sản mà họ chờ đợi
lại chẳng bao giờ xuất hiện.
Để khi Tửng Giết Hạch nhận ra
sai lầm của mình, thì đã quá muộn
để đánh chặn. Phần lớn quân đội của ông ta
bị bỏ xa hàng trăm kỳ số phía sau
bước chân của các đội vị Hồng quân.
Mặc dù đánh lừa được đối phương, nhưng tại Vân Nam
các chỉ huy Cộng sản lại đối mặt
với một vấn đề. Họ không có tấm vào đồ nào
đủ tin cậy và do đó không thể chọn
được địa điểm tốt nhất để vượt sông Kim Sa.
Nhưng rồi, định mệnh đã can thiệp.
Vào tháng 4 năm 1935,
một đội trinh sát Hồng quân đã chặn bắt
một đoàn xe ngựa trở nhu yếu phẩm
mà Long Vân gửi tặng lực lượng Vân Nam
của Quốc dân Đảng. Đáng chú ý, họ thu giữ
được hơn 20 tấm bản đồ. Điều này khiến
các sĩ quan và binh lính Cộng sản vô cùng vui mừng.
Ngày 2 tháng 5 năm 1935,
Tổng Tư lãnh Chủ Đức ra lệnh vượt sông Kim Sa.
Từ ngày 3 đến ngày 9 tháng 5
năm 1935, đại bộ phận Hồng quân đã
đến được Kiều Bình Độ.
Trong 7 ngày đêm liên tục, 6 chiếc thuyền gỗ
đã đưa họ sang sông mà không gặp
bất kỳ sự kháng cự nào vì quân Quốc dân Đảng
vẫn còn đang ở khu vực Cồn Minh.
Không có ai hy sinh trong cuộc vượt sông này
và họ đã đi xa từ lâu
trước khi quân quật tưởng tới nơi
vào ngày hôm sau.
Tổng cộng, từ khi rời
Tuấn Nghĩa đến khi vượt sông Kim Sa thành công,
Hồng quân đã vượt qua vài nghìn km
trải qua hơn 40 trận đánh lớn nhỏ
thoát khỏi sự vây hãm của hàng vạn quân quốc dân Đảng
và đập tan mưu đồ tiêu diệt họ
tại vùng danh giới giữa
Quyết định 4 lần vượt sông Sích Thủy
không phải là một kế hoạch có sẵn
mà là sự ứng biến linh hoạt trước tình hình thực tế.
Mao Trạch Đông đã tận dụng
mọi yếu tố thuận lợi để bảo toàn lực lượng
mở ra giai đoạn mới
cho vạn lý trưởng trình.
Tháng 5 năm 1935
Sau khi vượt sông Kim Sa,
lực lượng Cộng sản dưới sự chỉ huy của Mao Trạch Đông
tiến vào tỉnh Tứ Xuyên.
Trước mặt họ là con sông đại độ hùng dữ
với hai bên bờ là những vách đá dựng đứng.
Ngoài dùng thuyền,
cách duy nhất để vượt sông là đi qua cầu Sích Sắt
ở Thượng Nguồn
thuộc huyện Lô Định.
Tường Giới Thạch sau khi biết tin hồng quân đã đến đại độ
liên bay từ Trung Khánh đến Thành Đô.
Vòng ta phải 10 vạn quân quốc dân đảng
truy đuổi và thực hiện chiến thuật gọng Kim
để dồn lực lượng Cộng sản
về phía dòng sông.
Đồng thời một số đơn vị khác được điều đến bờ bắc
và nhận nhiệm vụ tiêu diệt tất cả thuyền bè.
Kế hoạch của tường là
tận dụng hàng rào tự nhiên do con sông tạo ra
để tiêu diệt hồng quân
ở phía Nam. Vì vậy,
việc có thể vượt dòng đại độ hay không
sẽ quyết định số phận của đảng Cộng sản Trung Quốc
và hồng quân Trung ương.
Sức đoàn 1 thuộc cụm tập đoàn quân số 1
được giao trọng trách tiến phong
mở đường cho phần còn lại của quân đội.
Ngày 25 tháng 5, trung đoàn 1
của đơn vị này đã đến được bến phả An Thuận Trường.
Sau khi đánh bại lực lượng quốc dân đảng
phòng thủ tại đây,
họ tìm được một chiếc thuyền.
17 người tinh nguyện nhờ đó
đã thành công vượt sông
bất chấp hỏa lực dữ dội của địch.
Hồng quân sau đó tìm thấy 3 chiếc thuyền khác
nhưng chúng đều bị hư hại nặng.
Thế nhưng ngay cả khi sửa chữa được
thì với số lượng phương định ít ỏi như vậy
2 vạn binh sĩ sẽ mất tới hơn 1 tháng để qua sông.
Lúc này, trinh sát báo cáo rằng
một toán quân tưởng
đã vượt sông Kim Sa
và đang tiến đến vị trí của họ.
Bên cạnh đó, mũi nhọn của tập đoàn quân
số 20 quốc dân đảng
sẽ đến An Thuận Trường
trong vòng vài ngày.
Với giao cản tự nhiên là dòng sông phía trước
và quân địch truy đuổi phía sau.
Tình hình vô cùng nguy hiểm cho Hồng quân.
Các từng lính liền ra lệnh cho sư đoàn 2
hành quân về phía Bắc
dọc theo bờ phải sông Đại Độ
và một phần sư đoàn 1 tiến về phía Bắc
dọc theo bờ trái.
Nhiệm vụ của họ là nhanh chóng chiếm được cầu Lô Đị.
Giáng sáng ngày 29 tháng 5
sau khi thần tốc vượt qua quãng đường 120 km
thì trong 24 giờ
trung đoàn 4 Hồng quân trung ương
đã đến được đầu phía Tây
của cây cầu.
Lúc này các tầm văn gỗ đã bị quân tưởng tháo sạch
chỉ để lại 13 sợi xích sắt
nối giữa 2 bờ sông Đại Độ.
Đến 4 giờ chiều lệnh chiếm cầu
bằng vũ lực được ban hành.
Một đội sung kích 22 người đã bò lên cầu
nắm lấy những sợi xích sắt
và kéo mình về phía trước.
Một vài người rơi xuống sông.
Những người khác tiếp tục bò về phía trước
đặt các tầm văn gỗ để đồng đội có thể đi qua.
Trong khi đó ở bờ bên kia
quân quốc dân đảng cố gắng chặn đường bước tiến
của họ bằng cách tập trung hỏa lực dữ dội.
Tuy nhiên bất chấp nguy hiểm
đội sung kích công sản vẫn tiếp tục tiến lên
và thành công chiếm được đầu cầu
ở bờ đông, giúp Hồng quân
vượt sông Đại Độ.
Khi hay tin, từng giấy thạch đã nổi cân thịnh nộ
và kỳ luật nhiều sĩ quan chỉ huy
trong lực lượng Tứ Xuyên vì không hoàn thành nhiệm vụ.
Sau khi vượt sông Đại Độ
Hồng quân trung ương tiếp tục tiến
về phía Bắc nhằm hợp lực
cùng phương diện quân số 4
ở gần sông Mân.
Họ dự định tiến về phía Bắc
và trong mắt sẽ có 3 phương án di chuyển khả thi.
Hướng Đông là tuyến do thông huyết mạch
được quân trung ương của quốc dân đảng chỉ huy
cành giữ nghiêm ngặt.
Lựa chọn này tiêm ẩn nhiều rủi ro
khó đoạn đính kết quả.
Hướng Tây dẫn qua một phần Tây Tạng
nhưng đó sẽ là hành trình dài với địa hình hiểm trở.
Hoa đường bị chắn bởi một hẻm núi
Từng có tiền lệ vào thời Hoàng đế Càn Long
khi một đảo quân nhà Thanh
bị mắc kẹt tại đây suốt 6 năm.
Ngoài ra, việc thiếu nguồn lương thực
cũng là trở ngại lớn.
Lựa chọn cuối cùng là băng qua
dãy núi tuyết trải dài bất tận
ở hướng chính Bắc.
Thường dễ thách cho rằng không thể đi theo con đường đó.
Tuy nhiên đó là lỗ trình ngắn nhất
và không có lựa chọn.
Những ngọn núi phủ tuyết phía trước
hứa hẹn sẽ đầy sức chiêu đựng
của các binh sĩ cầu sản đến giới hạn.
Tháng 6 năm 1935
sau khi xuyên thủng phòng tuyến của địch
Hồng Quân đã đến chân núi Giáp Kim.
Ngọn núi này cao tới 4.000 km
quanh năm bao phủ bầy tuyết
không khí thì loãng đến mức không có người sinh sống
và không có đường mòn để đi lên.
Nhiệt độ thường xuyên giảm xuống tới thấp âm 30 độ C
Nếu có mưa hay mưa đá
thì điều kiện sẽ càng trở nên khắc nghệ hơn.
Sáng sớm ngày 12 tháng 6
năm 1935
một lực lượng tiên phong của Hồng Quân Trung Ngương
bắt đầu tiến về núi Giáp Kim
theo sau là lực lượng chính.
Tất cả phải đối mặt
với những nguy hiểm của khí hậu giá Z
thiếu oxy và nguy cơ
bị bỏng giác mạc tạm thời
do tiếp xúc quá nhiều về tiên cực tím
phản chiếu từ bằng tuyết.
Trên đường vượt núi là la liệt thi thể
của các binh sĩ Hồng Quân đã vĩnh viễn nằm lại.
Bất chất tất cả những khó khăn đó
lực lượng cầu sản vẫn tiếp tục tiến lên.
Đến chiều ngày 12
Hồng Quân Trung Ngương đã gặp được phương dị quân số 4
ở địa điểm nay là huyện Tiểu Kim
tỉnh Thứ Xuyên. Tổng cộng
có hơn 10 vạn người.
Đây là một khoảnh khắc quan trọng trong lịch sử cây mạng Trung Quốc
sau bao nhiêu gian khổ và hy sinh
cuối cùng các lực lượng đã được đoàn tụ.
Lúc này lãnh đạo cộng sản bắt đầu hướng tầm mắt
về phía Tùng Phan
một địa điểm then chốt trên con đường tiến
về Tây Bắc Trung Quốc của Hồng Quân.
Cả Mạo Trạch Đông và Tường Giới Thạch
đều nhận ra tầm quan trọng chiến lược của nơi này
và rất muốn truyền khai quân đội của mình đến đó.
Tuy nhiên lực lượng cộng sản
bị mắc kẹt tại Tiểu Kim
và mang nhí cái trong hơn một tháng.
Lỗi thuộc về tư lệnh phương dị quân số
4 Trường Quốc Đảo
người đã không tuân theo kế hoạch tác chiến do quân ủy Trung ương
đề ra. Sự chẩm chế đã cho phép
24 trung đoàn quốc dân đạn kiểm soát
Tùng Phan và khu vực xung quanh.
Do đó Hồng Quân đã mất cơ hội
tiến về phía Bắc qua nơi này
và không còn lựa chọn nào khác
Giữa tháng 9
một phần của lực lượng cộng sản
lúc này được gọi là tạ lộ quân
rời khu vực Chắc Khắc Cơ
và tiến về Á Bá. Để quê tháng
hữu lộ quân khởi hành từ Mao Nhí Cái
tới Ban Hữu.
Việc tiếp tế lương thực sẽ là một vấn đề nát dài
khi vượt qua Thảo Nguyên. Vì vậy,
Bàn chấp hành Trung ương đã thành lập Quỹ Ban Lương Thực.
Đất Tây Tạng vốn dân cư thừa thớt
khiến việc tìm kiếm thức ăn rất khó khăn.
Mặc dù Ủy Ban đã nỗ lực hết sức
nhưng chỉ thu được ít lương thực từ người dân địa phương.
Để chống lại nạn đói
khi vượt qua Thảo Nguyên,
binh lính Hồng Quân đã ăn cỏ dại,
rau dại và thắt lưng ra luộc.
Thậm chí họ còn nhặt những hạt lúa mạch
chưa tiêu hóa hết trong phân của người và ngựa.
Do tình trạng bệnh tật
và kiến sức nghiêm trọng, Phó Tổng Tư Lệnh
Bành Đức Hoài đã phải miến cưỡng ra lệnh
bỏ lại vai khẩu súng cối của quân đội
để thành lập tổ khiến cáng.
Bên cạnh thức ăn,
thì nước uống cũng là một vấn đề.
Thảo Nguyên không thiếu nước
nhưng lại bẩn và không thể sử dụng được.
Ngoài ra, cũng có những khu vực hoàn toàn khô cằn
không có một gió nước nào.
Các binh sĩ Hồng Quân nhiều lúc
phải hứng nước tiểu ngựa vào cốc để uống
rồi thậm chí có những lúc không có nổi một gió nước nào
từ bất kỳ đâu.
Tổng cộng, khi vượt qua Thảo Nguyên,
hữu lộ quân mất gần một phần tư sĩ quan
và binh lính.
Phương Diện quân số 2 là đơn vị cuối cùng
vượt qua Thảo Nguyên.
Họ phải mất tới 12 ngày để đi hết hành trình
nhiều hơn các lực lượng phía trước
4 đến 5 ngày.
Trong số 16.000 binh sĩ bắt đầu vượt Thảo Nguyên,
chỉ có 12.000 người sống sót.
1.800 quân của Sư đoàn 9-6
vốn làm nhiệm vụ bọc khẩu cho Phương Diện quân số 2
kết thúc hành trình
với 400 lính.
Thế nhưng, sự khắc nghiệt của Thảo Nguyên
chưa phải thử thách lớn nhất.
Bên dưới lớp cỏ là một mạng lưới các con lạch chẳng trịt
mà đất lây lội, lẫn với cỏ mục nát,
mềm nhún và hút lấy chân
của những người lính Hồng Quân.
Khi ai đó bị luốn xuống vúng lầy,
đồng đội xung quanh sẽ vội vàng kéo người đó lên.
Nhiều người lính sắp chết
đã lấy cỏ che mặt để giả vờ chết
nhằm không trở thành cánh nặng.
Tuy nhiên, manh khóe này đã bị phát hiện.
Các binh sĩ thề sẽ làm mọi thứ trong khả năng
để đưa anh em mình ra khỏi đồng cỏ.
Họ nhất quyết sẽ khiêng bất cứ ai
miễn là người đó còn thở.
Ban đầu, đoàn quân đi theo
những con đường mòn trên đồng cỏ.
Nhưng chẳng bao lâu sau,
đường đi được đánh gió bằng thi thể của đồng đội
và cuối cùng là những đống xương của họ.
Hữu Lộ Quân cùng các đơn vị
của Hồng Quân Trung Ngương và Phương Diện Quân số 4
là lực lượng đầu tiên vượt qua
quãng đường 130 km Thảo Nguyên
sau 7 ngày 7 đêm.
Chờ đợi họ ở cuối con đường
là một trận chiến quyết định.
Vào tháng 8 năm 1935,
các đơn vị khác nhau của Hữu Lộ Quân
đã đến Ban Hữu và Bao Tọa.
Bao Tọa nằm ở phía tây bắc của Tông Phan
là một cửa ngõ quan trọng
trên đường tín quân về phía bắc
của lực lượng Cộng sản.
Vì vậy, việc loại bỏ quân quốc dân Đảng khỏi khu vực này
và mở đường đã trở thành ưu tiên hàng đầu.
Khi biết tin Hồng Quân đã vượt qua được Thảo Nguyên,
Thường Giới Thạch ra lệnh đánh chặn.
Ông ta muốn đối phương bị đẩy lùi
về Thảo Nguyên ở phía tây Tứ Duyên
và tiêu diệt tại đó.
Ở phía bên kia chiến tuyến, Mao Trạch Đông
cũng đang lập kế hoạch tác chiến của giữ mình.
Ông ta nhận ra rằng mình phải hành động ngay lập tức
để tiêu diệt địch ở Bao Tọa.
Ngay hết 9 tháng 8,
trận chiến bắt đầu.
Trước sức mạnh của quân tinh nguyện quốc dân Đảng,
những lính Hồng Quân đói khát,
rách dưới và kiệt sức đã chiến đấu
với tinh thần bất khuất.
Họ đánh như thế chưa từng phải vật lộn
qua những ngọn núi cao và Thảo Nguyên hiểm trở.
Trong 3 ngày giao tranh ác liệt,
2 cụm tập đàn quân
và 1 phương diện quân Cộng sản
đã tiêu diệt địch ở Bao Tọa
cùng hầu hết quân tiếp viện được gửi đến.
Tâm cộng, họ loại khỏi vòng chiến
và bắt giữ hơn 4.800 lính tưởng,
đồng thời thu giữ 1.500 cầu pháo.
Chiến thắng của Hồng Quân trong trận Bao Tọa
đã đập tàn những nỗ lực
của tưởng giới Thạch
nhằm đẩy họ trở lại Thảo Nguyên.
Nó đã mở đường đến miền Nam tỉnh Cam Túc
và giúp lực lượng Cộng sản có thể đối đầu
với quân xâm lực Nhật Bản ở phía Bắc.
Vào lúc này, mâu thuẫn trong nội bộ Hồng Quân
giữa tư lệnh phương diện quân số 4
Bắt đồng vốn đã nảy sinh từ trước
hành trình vượt Thảo Nguyên.
Mò Chạch Đông muốn đưa quân Bắc tiến,
nhưng Trường Quốc Đào khăng khăng muốn đi về Việt Nam.
Bản chấp hành Trung ương Đạo Cộng sản Trung Quốc
đã bác bỏ đề xuất của trường.
Tuy nhiên, vì lợi ích thống nhất của Hồng Quân,
họ đã chấp nhận thỏa hiểm.
Trong cuộc họp Bộ Chính trị,
từ ngày 18 tháng 7, Chuân Lai đề nghị
từ chức Tổng Chính ủy Hồng Quân
để nhường chỗ cho Trường Quốc Đào.
Ngày 20 tháng 8,
tại một hội nghị khác, Mò Chạch Đông
đã giải thích lý do tiến về phía Bắc.
Ông ta yêu cầu tả lộ quân do Trường lãnh đạo
phải nhanh chóng phối hợp với hữu lộ quân
để có thể tiến công như một lực lượng kết hợp.
Đến cuối tháng 8,
tả lộ quân đã vượt qua Thảo Nguyên.
Bản chấp hành Trung ương Đạo Cộng sản Trung Quốc
nhiều lần thúc giục Trường Quốc Đào quay về phía Bắc,
nhưng ông ta từ chối.
Ngày 9 tháng 9, Trường gửi điện tín ra lệnh
Điều này đánh dấu đỉnh điểm
của cuộc đấu tranh nội bộ trong ĐCSC.
Sự thống nhất lực lượng tan biến
và một sự chia rẽ nghiêm trọng đã nảy sinh.
Ngày 10 tháng 9,
Bản chấp hành Trung ương Đảng
đã ban hành một thông báo cho toàn quân
giải thích chiến lược tiến về phía Bắc.
Văn kiện này lập luận rằng
đi về phía Nam là ngõ cụt,
đồng thời kêu gọi quân đội hết lòng ủng hộ chính sách của Đảng
bằng cách lập tức bắt tiến
và thành lập khu vực
Xô Viết, Tứ Xuyên, Thiểm Tây, Càm Túc.
Ngày 12 tháng 9,
tại một cuộc họp ở Càm Túc,
Bộ Chính trị đã lên án Trường Quốc Đảo
chỉ trích bệnh Hữu Khuynh
và lối hành xử như một lãnh chúa quân Việt của ông ta.
Cuộc họp cũng đổi tên lực lượng
tiến về phía Bắc.
Từ nay trở đi, họ sẽ được gọi là
Sư đoàn Thiểm Cam
thuộc Hồng quân Công nông Trung Quốc.
Ngày 16 tháng 9,
Tập đoàn Quân số 4 của Hồng quân Trung ương
nhận lệnh chiếm Lạc Từ Khẩu.
Đây là một vị trí chiến lực quan trọng
ở Càm Túc, canh giữ tuyến đường huyết mạch
giữa tỉnh này và Tứ Xuyên.
Bắt đầu, Hồng quân tấn công trực diện,
nhưng gặp khó khăn bởi địa hình hiểm trở.
Vì vậy, trong đêm, hai đại đội đã di chuyển
vòng qua sườn địch, vượt qua
những vách đá dựng đứng trên đường đi.
Sau khi vào vị trí, họ tổ chức
phối hợp với một cuộc tấn công trực diện khác
của lực lượng còn lại.
Đến ngày 17 tháng 9,
Hồng quân đã chiếm được Lạc Từ Khẩu
và mở đường tiến về phía Bắc.
Nó cũng đánh dấu sự thất bại cuối cùng trong kế hoạch
của Tường Giới Thạch nhằm bẫy Hồng quân
trên núi và thảo nguyên.
Hôm sau, Hồng quân Trung ương và phương diện quân số 3
đã tiến đến Cáp Đạt Phố,
tỉnh Càm Túc.
Tại đây, một cuộc họp đã được tổ chức
cho các binh sĩ quan tham mưu của Hồng quân mặt trận thứ nhất.
Ma Trạch Đông cho biết,
họ đã có một lực lượng Hồng quân
ở Bắc Thiểm Tây.
Đó cũng chính là địa điểm cần hướng tới
để lập sở chỉ huy mới.
Lịch sử của khu vực căn cứ cách mạng Thiểm Tây
Càm Túc bắt nguồn từ năm 1927.
Chính vào thời điểm đó,
Soviet khu vực biên giới Thiểm Tây Càm Túc
được thành lập với địa bàn trải rộng
trên 70 km2.
Thông qua một loạt các chiến dịch quân sự
chống lại những cuộc tấn công liên tiếp của địch,
lực lượng du kích ban đầu của căn cứ
đã lớn mạnh, phát triển
Vào tháng 9 năm 1935,
cụm tập đoàn quân 25
sau khi đến phía Bắc Thiểm Tây
đã sắp nhập với 2 đơn vị này,
tạo thành cụm tập đoàn quân số 15.
Lực lượng mới này đã tăng cường đáng kể sức mạnh
cho căn cứ cách mạng.
Để đến khu Soviet Thiểm Tây Càm Túc
từ cáp đạt phố,
Hồng quân phải vượt qua dãy lục bàn
ở danh giới hai tỉnh Càm Túc và Ninh Hạ.
Đây là ngọn núi cuối cùng
mà những người lính Cộng sản
phải vượt qua trong cuộc vạn lý chương trình.
Ngày 19 tháng 10 năm 1935,
bàn chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Trung Quốc dẫn quân tiến vào thị trấn Ngô Khởi.
Ở phía sau,
lực lượng quốc dân đảng vẫn truy đuổi gắt gào.
Bất chấp tình trạng kiệt sức
sau khi vượt núi lục bàn,
Hồng quân dưới sự chỉ huy của Bánh Đức Khoài
phát động một cuộc tấn công mạnh mẽ,
tiêu diệt toàn toàn kỵ bình địch.
Quân tưởng không có cách nào khác,
buộc phải rút lui khỏi khu vực căn cứ cách mạng
phía Bắc Thiểm Tây.
Đến đây, Hồng quân Trung ương đã hoàn thành
khoảng đường 12.500 km.
Đầu tháng 11 năm 1935,
họ hợp lực với cụm tập đoàn
quân số 15 tại Ngô Khởi.
Sau khi đến phía Bắc Thiểm Tây,
bàn chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
đã quyết định đặt trụ sở cao nhất
của cách mạng tại đây.
Ngay lập tức, họ bắt tay vào xây dựng khu căn cứ Thiểm Tây
Càm Túc. Ngày 3 tháng 11 năm 1935,
chính phủ Trung ương Soviet
quyết định thành lập quân ủy cách mạng Tây Bắc
trực thuộc sự lãnh đạo trực tiếp
của bàn chấp hành Trung ương Đảng.
Mao Trạch Đông được bổ nhiệm làm Chủ tịch,
Chuân Lai và Bánh Đức Hoài làm Phó Chủ tịch.
Tuy nhiên, không phải tất cả các đơn vị
của Hồng quân đều đã đến được phía Bắc Thiểm Tây.
Mao Trạch Đông lo ngại rằng
phương diện quân số 4 và các cụm tập đoàn
quân số 2 cùng số 6
vẫn đang trong cuộc trường trình.
Trong khi đó, tại Tứ Xuyên, vào ngày 5 tháng 10,
tư lệnh phương diện quân số 4
Trung Quốc Đảo đã thành lập
một bàn chấp hành Trung ương thay thế.
Bàn chấp hành Trung ương Đảng Tổng sản Trung Quốc
bán hành chỉ thị yêu cầu trường hủy bỏ cơ quan
do ông ta lập giải.
Hành vi gây chia rẽ của trường quốc đảo
và việc bị lãnh đạo đảng phần đối
còn không nhận được sự ủng hộ từ chính các binh sĩ giới quyền.
Ngày 5 tháng 12,
ông ta nhân danh bàn chấp hành Trung ương
và Đoàn Thanh niên Cộng sản
tuyên bố bãi bỏ các danh sinh
phương diện quân số 1, tức Hồng quân Trung ương
và phương diện quân số 4.
Đồng thời, các lực lượng ở khu căn cứ mới
nay là cục bắt bộ,
Chính phủ thiểm Tây cam túc
và bắt lộ quân của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Họ không còn được đại diện cho bàn chấp hành Trung ương nữa.
Thông báo này là bằng chứng rõ ràng
về quyết tâm chia rẽ lực lượng Cộng sản
của trường quốc đảo.
Quân đội của ông ta trên đường hành quân
về phía Nam đã càn quét
và chiếm đóng nhiều địa bàn ở Tây Tứ Xuyên.
Điều này khiến trường trở nên kiêu ngạo.
Với việc mất Tứ Xuyên và tái kem phản bội,
ông ta vội vàng ra lệnh cho quân tổ chức phản công.
Trong khi đó, quốc dân Đảng tập hợp
một lực lượng lớn gồm 80 trung đoàn
ở Danh Sơn
và các khu vực phía Tây sát sang chiến đấu.
Không để ý đến diễn biến tình hình,
trường quốc đảo ra lệnh tấn công.
Ban đầu, mọi việc diễn ra thuận lợi
và hùng quân chiếm được thị trấn Giáp Quan
mở đường tiến về Danh Sơn.
Tuy nhiên, cuộc tấn công bắt đầu chứng lại
trước sức mạnh vượt trội của địch.
Một trận giao tranh nổ ra ở trấn Bách Trượng.
Địch không có niềm trợ
và pháo binh hạng đảng bảo vệ.
Hàng chục lứ đoàn quốc dân Đảng tấn công từ 3 phía
vào các đơn vị tiên phong của hùng quân.
Trong 7 ngày chiến đấu ác liệt,
quân tưởng chịu tổ thất 15.000 người,
nhiều hơn 5.000 so với lực lượng Cộng sản.
Nhưng cuối cùng, do hết đạn dược,
hùng quân buộc phải rút lui.
Giờ đây, không thể tiến xuống phía Nam hay sang phía Đông.
Họ buộc phải rút lui
về khu vực Đạo Phu, Lô Hoác
hoặc Cam Từ.
Đó là một vùng đất rộng lớn,
dân cư thưa thớt và nguồn lương thư khan hiếm.
Trong điều kiện khắc nghiệt đó,
hùng quân đã phải chiến đấu hết sức mịch.
Số thương vong của quân đội ngày càng tăng.
Từ 80.000 người khi bắt đầu chiến dịch Nam Tiến
từ tháng 4 năm 1936,
phương diện quân số 4 chỉ còn một nửa số binh sĩ.
Trường Quốc Đào, sau thành công ban đầu,
ra đây phải đối mặt với thế bế tắc.
Ngược lại, cuộc tiến quân về phía Bắc của hùng quân
đã giành được hết chiến thắng này
Sau khi hùng quân bắt trận thứ nhất,
hợp nhất với cụm tộc đoàn quân số 15,
từng giới thách vội vàng điều một lực lượng khổng lồ
để bảo vệ căn cứ cách mạng Thiểm Tây, Cảm Túc.
Từ ngày 21 đến ngày 4 tháng 11 năm 1935,
hùng quân Trung ương chiến đấu
xung quanh thị trấn Trực La,
gây ra một loạt thất bại cho lực lượng quốc dân Đảng
trong khu vực.
Trên tháng này cũng mở đường cho Ban Chấp hành Trung ương
thiết lập vùng Tây Bắc Trung Quốc,
làm trung tâm hoạt động cách mạng của cả nước.
Từ đây, song song về đánh bại quốc dân Đảng,
lớn lương câu sản Trung Quốc cũng bắt đầu một sứ mệnh mới.
Tháng 12 năm 1935,
Bộ Chính trị và Mao Trạch Đông đề xuất rằng
nhiệm vụ chiến lược cơ bản của Đảng
phải thiết lập một mặt trận thống nhất toàn quốc sống lớn
để chống lại quân Nhật xâm lược.
Tháng 2 năm 1936,
hùng quân Trung ương phát đầu chiến dịch Đông Trinh
với mục tiêu đối đầu với lực lượng Nhật Bản
ở phía Đông.
Khi tiến hành, họ còn đánh bại
một cánh quân quốc dân Đảng,
qua đó củng cố khu căn cứ phía Bắc Thiểm Tây.
Đến tháng 5,
trong khi cùng tập đoàn quân số 15
thực hiện một cuộc Đông Trinh khác,
thì cùng tập đoàn quân số 1 được lệnh
tiến hành chiến dịch Tây Trinh.
Họ lần lượt giải phóng Diêm Trì, Định Biên,
Tỉnh Biên và Dự Vượng.
Nhờ đó, căn cứ Thiểm Tây-Cam Túc
được mở rộng về phía Tây,
thêm khoảng 200 km,
tạo ra khu vực Soviet Thiểm Tây-Cam Túc-Ninh Hải.
Cùng lúc đó, Ban Chấp hành Trung ương
vẫn lo ngại về phương diện quân số 4
và những hành động gây chia rẽ
của Trung Quốc Đảo. Nhờ bức đường tín
đã được gửi đi yêu cầu ông ta hủy bỏ
Ban Chấp hành Trung ương do mình thành lập
và đưa quân tiến về phía Bắc.
Giới áp lực ngày càng tăng, vào ngày 6 tháng 6
năm 1936, Trung Quốc Đảo
đã đồng ý chấp hành.
Trước đó, vào ngày 19 tháng 11 năm 1935,
17.000 binh sĩ của cục tập đoàn
quân số 2 và số 6
đã khởi hành cuộc chương trình
từ huyện Tăng Thực, tỉnh Hồ Nam.
Trên đường đi, lực lượng này nhận được
điện tín từ Chú Đức và Trung Quốc Đảo
yêu cầu họ bắt tiến
để hội quân. Cuối tháng 3 năm 1936,
2 cùng tập đoàn quân
khởi hành từ Bán Châu ở Tây Quý Châu
đi qua Lệ Giang và Thạch Cổ
thuộc tỉnh Vật Nam. Sau đó đi lên hướng Bắc
vượt sông Kim Sa cùng 3 ngọn núi Phủ Tuyết.
Ngày 1 tháng 7, họ đến
Cam Tư và hợp lực với phương diện
quân số 4 đang tiến về phía Nam.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
đồng thời bày tỏ hy vọng
họ sẽ đến khu căn cứ Thiểm Tây,
Cảng Túc. Tại đây, tất cả lực lượng có thể hợp nhất
và củng cố sức mạnh toàn quân.
Bên cạnh đó, quân ủy Trung ương ra lệnh
các cụm tập đoàn quân số 2, 6
và 32 sẽ hợp
thành phương diện quân số 2.
Các triều huy của đơn vị này đã nỗ lực thuyết phục
bàn lãnh đạo phương diện quân số 4 duy trì sự thống nhất
trong Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng Quân.
Cuối cùng, sau nhiều tháng trầm,
vào tháng 7 năm 1936,
lực lượng chính của phương diện quân số 4
lên đường tiến về phía Bắc.
Phương diện quân số 2 nhanh chóng theo sau.
Ngày toàn lực lượng thống nhất không còn xa nữa.
Ngày 9 tháng 10 năm 1936,
Hồng Quân Trung ương và phương diện quân số 4
gặp nhau tại Hội Ninh,
tỉnh Cảng Túc.
Ngày 22, Hồng Quân Trung ương và phương diện quân số 2
hợp lực tại Tướng Đại Bảo,
Ninh Hạng. Sức kỳ này đánh dấu
sự kết thúc của cuộc vạn lý trường trình
kéo dài 2 năm.
Đây không chỉ là cuộc rút lưới chiến lược
hay hành quân đơn thuần,
mà còn là biểu tượng về ý chí sắt đá
của con người trước thử thách nghiệt ngã
của thiên nhiên và vận mệnh.
Những bước chân ám ấy đã để lại
một bài học vĩnh cửu.
Khi niềm tin đủ lớn, không có ngọn núi nào
là không thể vượt qua,
không có con sông nào là không thể bị chinh phục.
Từ rồi chính tinh thần đó
đã đặt nền bóng vững chắc nhất
cho sự hồi sinh của một dân tộc.